Phân tích, đánh giá các quy định về căn cứ tính thuế thu nhập doanh nghiệp và nêu ví dụ minh hoạ

Phân tích, đánh giá đối với các quy định về căn cứ tính thuế thu nhập doanh nghiệp và nêu ví dụ minh hoạ.

Để duy trì hoạt động của Nhà nước thì nghĩa vụ đóng thuế của các cá nhân, tổ chức là vô cùng quan trọng. Thuế không chỉ đơn thuần là một nguồn thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước mà thuế còn gắn liền với các vấn đề về sự tăng trưởng kinh tế, về sự công bằng trong phân phối và sự ổn định xã hội. Trong phạm vi nghiên cứu các vấn đề của tài chính và Ngân sách Nhà nước, chúng ta sẽ xem xét thuế với các vai trò cơ bản của nó là: tạo nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước, kích thích tăng trưởng kinh tế và điều chỉnh thu nhập.

Vai trò tạo nguồn thu của thuế xuất phát từ yêu cầu và quyền lực của nhà nước đối với xã hội. Nhà nước với quyền lực chính trị có thể ban hành các loại thuế với các mức thuế suất tuỳ ý. Tuy nhiên, khi xét về mục đích lâu dài khi định ra các loại thuế, thuế suất, đối tượng chịu thuế chính phủ không chỉ đơn thuần thỏa mãn nhu cầu tăng thu của Ngân sách Nhà nước, mà phải thỏa mãn đồng thời yêu cầu tăng trưởng kinh tế và điều chỉnh thu nhập. Việc đáp ứng cả ba yêu cầu đó đòi hỏi chính phủ phải tính toán, cân nhắc kỹ lưỡng khi ban hành các loại thuế, bởi vì nguồn thu của thuế bắt nguồn từ thu nhập quốc dân, khả năng động viên của thuế phụ thuộc chủ yếu vào phát triển của sản xuất, hiệu quả của sản xuất.

Trong phạm vi nghiên cứu vấn đề “Phân tích, đánh giá và nêu ví dụ minh hoạ đối với các quy định về căn cứ tính thuế thu nhập doanh nghiệp”. Em sẽ chỉ ra tầm quan trọng của Thuế thu nhập doanh nghiệp trong đời sống xã hội và các căn cứ tính thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định của pháp luật Việt Nam.

I. THUẾ THU NHẬP

1.1. Khái niệm

Thuế thu nhập là thuế đánh vào thu nhập của cá nhân và pháp nhân. Trong trường hợp đánh vào thu nhập của cá nhân, nó được gọi là thuế thu nhập cá nhân. Còn trong trường hợp đánh vào thu nhập của pháp nhân, nó được gọi là thuế doanh nghiệp, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế sự nghiệp, thuế lợi nhuận, v.v…

1.2. Đặc điểm

  • Cơ sở tính thuế:  là thu nhập, song có nhiều cách xác định thu nhập chịu thuế. Có nơi, cơ sở tính thuế là những khoản thu nhập được cơ quan thu xác định là thu nhập để tiêu dùng. Có nơi, cơ sở tính thuế là những khoản thu nhập thường xuyên; còn thu nhập nhất thời, thu nhập ngoài kế hoạch của người nộp thì không bị đánh thuế. Lại có nơi, cơ sở tính thuế là mọi khoản thu nhập.

Thu nhập thường được tính cho thời gian một năm tài chính. Thuế suất thuế thu nhập là tỷ lệ thu bằng một số phần trăm nhất định của thu nhập trong một năm tài chính.

  • Thuế thu nhập là thuế trực thu: người nộp thuế và người phải chi tiền đóng thuế là một, nên thuế thu nhập là một thứ thuế trực thu. Đối tượng thu là cá nhân hoặc pháp nhân. Ở nhiều nước, bất cứ cá nhân nào cũng phải đóng thuế thu nhập. Đứng từ góc độ lý thuyết chuẩn tắc của kinh tế học công cộng, cứ chủ thể kinh tế nào tiêu dùng hàng hóa công cộng thì đều phải nộp thuế bất kể thu nhập của người đó nhiều hay ít (đánh thuế theo lợi ích). Song trong thực tế, việc thu thuế thu nhập từ những người có thu nhập thấp hơn một ngưỡng nhất định có thể không đem lại nhiều lợi ích bằng với chi phí kỹ thuật cho việc thu thuế. Do đó theo nguyên tắc về “tính đơn giản” của thuế, nhiều nước áp dụng thuế suất 0% đối với nhóm người này, hay nói cách khác chỉ thu thuế từ những người có thu nhập cao hơn một ngưỡng nhất định.
  • Thuế thu nhập và điều tiết thu nhập:

Thuế thu nhập là trường hợp điển hình của việc chính quyền dùng thuế để điều tiết thu nhập vì mục đích công bằng. Thông qua áp dụng thuế suất lũy tiến, chính quyền buộc người có thu nhập cao hơn phải chịu gánh nặng thuế lớn hơn (đánh thuế theo khả năng). Cơ quan thu sẽ đặt ra các bậc thuế; mỗi bậc tương ứng với một phạm vi thu nhập. Đối với mỗi bậc sẽ có một thuế suất riêng. Chính quyền còn dùng thuế thu nhập để điều tiết thu nhập bằng cách khấu trừ (trừ vào tổng số thuế phải nộp thông thường) khi người đóng thuế là người tàn tật dẫn tới khả năng lao động kiếm thu nhập của anh ta bị hạn chế, khi người đóng thuế có con nhỏ hơn một độ tuổi nhất định. Ở một số nước, nếu vợ hoặc chồng của người đóng thuế không đi làm, người đóng thuế cũng được chính quyền khấu trừ. Khoản thu nhập không phải đóng thuế này gọi là thu nhập miễn thuế.

1.3. Các loại thuế thu nhập

1. Thuế thu nhập cá nhân (TNCN)

Thuế thu nhập cá nhân khoản tiền thuế mà người có thu nhập phải trích nộp một phần tiền lương hoặc từ các nguồn thu khác vào Ngân sách Nhà nước sau khi đã tính các khoản được giảm trừ.

Theo đó, thuế TNCN được xây dựng trên nguyên tắc công bằng và khả năng nộp thuế. Thuế thu nhập cá nhân không đánh vào những cá nhân có thu nhập thấp, vừa đủ nuôi sống bản thân và gia đình ở mức cần thiết.

Do đó việc nộp tiền thuế thu nhập cá nhân cũng góp phần làm giảm hợp lý khoảng cách chênh lệch giữa các tầng lớp dân cư.

Đối tượng phải nộp thuế thu nhập cá nhân qua mạng gồm: Cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú tại Việt Nam có thu nhập chịu thuế:

  1. Đối với cá nhân cư trú, thu nhập chịu thuế là thu nhập phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam, không phân biệt nơi trả thu nhập.
  2. Đối với cá nhân không cư trú, thu nhập chịu thuế là thu nhập phát sinh tại Việt Nam, không phân biệt nơi trả và nhận thu nhập.

2. Thuế thu nhập Doanh nghiệp

II. THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP

2.1. Khái niệm

Thuế thu nhập doanh nghiệp là loại thuế thu trên thu nhập của các cơ sở kinh doanh để động viên một phần thu nhập của họ vào Ngân sách Nhà nước. Ngoài ra, nhà nước cũng có thể sử dụng loại thuế này để điều tiết vĩ mô nền kinh tế thông qua việc động viên công bằng giữa các thành phần kinh tế, khuyến khích ưu đãi đầu tư nhằm thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển.

Tên gọi là thuế thu nhập doanh nghiệp nhưng loại thuế này cũng áp dụng đối với thu nhập của các cá nhân, các cơ sở kinh doanh không thành lập theo luật doanh nghiệp và phần thu nhập chịu thuế là phần thu nhập còn lại sau khi đã khấu trừ các chi phí liên quan đến quá trình sản xuất, kinh doanh.

Ở các nước, tên gọi của luật thuế này có thể khác nhau như luật thuế thu nhập công ty, luật thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế lợi tức… Nhưng bản chất là tương đối giống nhau. Có quốc gia quy định loại thuế này trong một luật riêng, quốc gia khác lại quy định chung một bộ luật với thuế thu nhập cá nhân vì họ cho rằng hai loại thuế đánh trên thu nhập này có quan hệ mật thiết với nhau nên quy định trong cùng một văn bản thì sẽ dễ tiếp cận hơn.

Về phạm vi điều chỉnh

Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ có phát sinh thu nhập phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp. Đối tượng nộp thuế thuộc phạm vi điều chỉnh của thuế thu nhập doanh nghiệp và có hai điều kiện: thực hiện hoạt động sản xuất, kinh doanh hợp pháp và phải có phát sinh thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh đó.

Về đối tượng điều chỉnh của Thuế thu nhập doanh nghiệp theo đó gồm:

  • Tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ có thu nhập chịu thuế bao gồm doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo quy định của Luật doanh nghiệp, Luật doanh nghiệp Nhà nước, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Luật đầu tư, Luật các tổ chức tín dụng, Luật kinh doanh bảo hiểm, Luật chứng khoán, Luật dầu khí, Luật thương mại và các văn bản pháp luật khác dưới các hình thức: Công ty cổ phần; Công ty trách nhiệm hữu hạn; Công ty hợp danh; Doanh nghiệp tư nhân; Doanh nghiệp Nhà nước; Văn phòng Luật sư, Văn phòng công chứng tư…
  • Các đơn vị sự nghiệp công lập, ngoài công lập có sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ có thu nhập trong tất cả các lĩnh vực;
  • Các tổ chức được thành lập và hoạt động theo Luật hợp tác xã;
  • Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật nước ngoài có cơ sở thường trú tại Việt Nam.
  • Tổ chức khác có hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ và có thu nhập chịu thuế.

2.2. Đặc điểm

1. Thuế thu nhập doanh nghiệp là loại thuế trực thu

Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) là một loại thuế trực thu, song thuế TNDN thường không sử dụng thuế suất luỹ tiến mà sử dụng thuế suất phổ thông (standard rate) và một số mức thuế suất khác mức thuế suất phổ thông. học kế toán trưởng ở đâu

Mức thuế suất khác nhau có thể được áp dụng đối với các nhóm đối tượng hoặc một số loại thu nhập khác nhau vì mục tiêu chính sách.

2. Thuế thu nhập doanh nghiệp đánh vào thu nhập của mỗi tổ chức, pháp nhân kinh doanh

Thuế TNDN đánh vào thu nhập của mỗi tổ chức, pháp nhân kinh doan và thường được coi như là một loại thuế đánh vào vốn (tư bản), bởi vốn của một tổ chức được hình thành từ sự đóng góp của các tổ chức, cá nhân sở hữu nó. hạch toán chi phí vận chuyển

Về mặt kinh tế, thuế TNDN được xem như một loại thuế “thu trước” hoặc “thu gộp” của thuế thu nhập cá nhân. Thông qua việc thu thuế TNDN, các chính phủ có thể giảm bớt được chi phí quản lý thu và hạn chế được nhiều rủi ro so với thu thuế thu nhập cá nhân.

3. Thuế thu nhập doanh nghiệp phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của người nộp thuế

Thuế TNDN phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của người nộp thuế do bản chất thuế TNDN đánh vào lợi nhuận của hoạt động kinh doanh và các khoản thu nhập khác của hoạt động sản xuất, kinh doanh.

4. Các chính sách khuyến khích, ưu đãi về thuế được lồng ghép trong quy định pháp luật về thuế TNDN học kế toán ở đâu

– Các chính sách khuyến khích, ưu đãi thuế vì các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội hoặc tham gia giải quyết các vấn đề xã hội thường được lồng ghép, thiết kế trong quy định pháp luật về thuế TNDN.

Đặc biệt, các ưu đãi thuế TNDN để thu hút đầu tư vào các vùng khó khăn, khuyến khích phát triển các lĩnh vực theo định hướng, cạnh tranh thu hút đầu tư nước ngoài thường được thể hiện trong chính sách thuế TNDN của nhiều nước. học logistics ở đâu

Những đặc điểm của thuế thu nhập doanh nghiệp trên đặt ra yêu cầu phải xem xét mối quan hệ giữa thuế TNDN và thuế TNCN, giữa chính sách thuế với chính sách phát triển kinh tế cũng như các cam kết quốc tế về tự do hoá thương mại và bảo hộ đầu tư.

2.3. Vai trò

* Về kinh tế

Thuế TNDN đã góp phần làm thay đổi căn bản nội hàm chính sách thuế, tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, điều tiết vĩ mô nên kinh tế, đẩy mạnh xuất khẩu, cải thiện môi trường kinh doanh và từng bước nâng cao năng lực cạnh tranh của cộng đồng các doanh nghiệp trong nước.

Thuế TNDN ban hành đã khắc phục được cơ bản những điểm yếu của thuế lợi tức. Phạm vi điều chỉnh luật thuế TNDN đã được mở rộng áp dụng cho cả các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và một số đối tượng khác như công ty nước ngoài hoạt động kinh doanh thông qua cơ sở thường trú tại Việt Nam, hộ gia đình nông dân sản xuất hàng hóa lớn, các cá nhân hành nghề độc lập,… Các khoản chi phí hợp lý được quy định một cách rõ ràng và phù hợp với những điều kiện của nền kinh tế thị trường theo những thông lệ quốc tế. Một số khoản thu nhập có thể phát sinh trong nền kinh tế thị trường được bổ sung vào đối tượng chịu thuế, xóa bỏ sự phân biệt thuế suất và điều chỉnh sát với các mặt bằng thuế suất chung của thuế thu nhập công ty trên thế giới,…

* Về thu Ngân sách Nhà nước

Thuế TNDN đã điều tiết được hầu hết các khoản thu nhâp từ hoạt động sản xuất, kinh doanh; Số thu về thuế TNDN tăng trưởng hàng năm từ đó tạo nguồn thu lớn, tập trung và ngày càng ổn định cho Ngân sách Nhà nước, góp phần bù đắp số giảm thu về thuế xuất nhập khẩu do phải thực hiện cắt giảm thuế nhập khẩu theo cam kết quốc tế.

* Góp phần hoàn thiện hệ thống chính sách thuế Việt Nam

Luật thuế TNDN đã góp phần làm cho hệ thống thuế ở Việt Nam từng bước tương đồng và phù hợp với thông lệ quốc tế, đồng thời góp phần làm cho hệ thống thuế tiến thêm một bước tới mục tiêu công bằng và bình đẳng trong nghĩa vụ thuế giữa các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp.

Thuế TNDN đã xóa bỏ hẳn sự đối xử phân biệt giữa các thành phần kinh tế, ngành nghề sản xuất kinh doanh, rút ngắn khoách cách phân biệt giữa các doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Bên cạnh đó, thuế TNDN thể hiện rõ mục tiêu phân phối lại nhưng cũng đồng thời hàm chứa mục tiêu trợ giúp, nâng  đỡ những cơ sở sản xuất kinh doanh có khó khăn do những điều kiện kinh tế, xã hội tự nhiên mang lại, trên cơ sở đó thực hiện mục đích công bằng xã hội kết hợp với công bằng kinh tế. Từ đó góp phần tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các thành phần kinh tế, các khu vực hoạt động cũng như tạo điều kiện cho sản xuất và kinh doanh phát triển.

* Góp phần xử lý tốt mối quan hệ mang tính hệ thống giữa các sắc thuế

Luật thuế TNDN được thiết kế trên cơ sở mối quan hệ phụ thuộc, bổ sung, bọc lót nhau, thể hiên sự nhất quán về mục tiêu điều tiết và động viên của cả hệ thống thuế.

So với thuế lợi tức, thuế TNDN thể hiện rõ mục tiêu đòn bẩy kinh tế nhằm khuyến khích các khu vực kinh tế, ngành nghề, lĩnh vực phát triển theo mục tiêu định hướng của nhà nước. Đặc biệt, thuế TNDN chứa đựng nhiều nội dung miễn, giảm thuế theo mục tiêu và hoàn cảnh kinh tế. Đặc tính đó thể hiện mối tương quan hệ thống giữa thuế giá trị gia tăng – thuế thu nhập doanh nghiệp nói riêng và thuế gián thu – thuế trực thu nói chung.

* Góp phần thúc đẩy quản lý, tăng cường công tác hạch toán kế toán của doanh nghiệp.

Việc tính đúng thuế TNDN trên nguyên tắc phải có hóa đơn, chứng từ, từ đó thúc đẩy các doanh nghiệp, người kinh doanh phải chú trọng tổ chức thực hiện tốt hơn công tác mở sổ sách kế toán, ghi chép, quản lý và sử dụng hỏa đơn, chứng từ.

Do làm tốt công tác kế toán, hóa đơn, chứng từ, các đối tượng nộp thuế theo kê khai đã lập và nộp tờ khai thuế tương đối đúng hạn và đầy đủ.

* Củng cố công tác quản lý thu thuế, nâng cao ý thức tự giác thực hiên nghĩa vụ nộp thuế của đối tượng thuế.

2.4. Căn cứ phát sinh mối quan hệ pháp luật thues thu nhập Doanh nghiệp

2.4.1. Quy phạm pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp

Để quan hệ pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp phát sinh thì trước hết phải có các quy phạm pháp luật điều chỉnh. Hiện nay, các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp được quy định trước hết ở Luật thuế thu nhập doanh nghiệp ban hành ngày 03/6/2008; Luật sừa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp ngày 19/6/2013; Luật số 71/2014/QHI3 ngày 26/11/2014 sưa đổi, bổ sung một số đỉều của các luật về thuế và các văn bản quy đĩnh chi tiết hướng dẫn thi hành. Ngoài ra, còn các quy phạm pháp luật thuế quốc tế được quy định trong các hiệp định tránh đánh thuế hai lần mà Việt Nam đã tham gia kí kết.

2.4.2. Sự kiện pháp lí làm phát sinh quan hệ pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp

Theo quy định của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp thì một tổ chức sẽ là đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp khi có hai sự kiện pháp lí sau:

Thứ nhất, có sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ hay còn gọi là có hành vi kinh doanh.

Theo cách hiểu thông thường thì hành vi kinh doanh là hành vi của chủ thể kinh doanh. Dưới góc độ quản lí hành chính thì một tổ chức được quyền thực hiện các hành vi kinh doanh của mình khi họ có đủ tư cách pháp lí của một chủ thể kinh doanh hợp pháp tức là khi họ đã làm thủ tục xin cấp giấy phép đầu tư hoặc giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh và đã được cơ quan nhà nước có thẩm cấp giấy phép đầu tư hoặc giấy chứng nhận đãng kí kinh doanh cho họ.

Tuy nhiên, dưới góc độ quản lí thuế thì dấu hiệu để xác định tổ chức có hành vi kinh doanh hiểu theo nghĩa rộng hơn, thông thoáng và mềm dẻo hơn nhằm hạn chế khả năng gây thất thu thuế, tạo thuận lợi cho cơ quan thuế, đối tượng nộp thuế thực thi nhanh chóng các nghĩa vụ của mình. Theo tinh thần của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp thì một tổ chức được coi thoả mãn dấu hiệu “có hành vi kinh doanh” khi họ thuộc một trong hai trường hợp sau:

Trường hợp thứ nhất, tổ chức đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyển cấp giấy phép đầu tư hoặc giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh, kể từ khi đó họ được xem là có hành vi kinh doanh mà không cần quan tâm đến việc họ đã thực hiện hành vi kinh doanh trên thực tế hay chưa.

Trường hợp thứ hai, tổ chức đã thực tế tiến hành hoạt động kinh doanh trong những lĩnh vực, ngành nghề mà Nhà nước không cấm nhưng họ chưa đăng kí kinh doanh thì cũng được xem là có đủ dấu hiệu “có hành vi kinh doanh” và thời điểm xác định họ có hành vi kinh doanh kể từ thời điểm họ bắt đầu thực hiện hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, hành vi kinh doanh này có thể coi là chưa hợp thức về phương diện quản lí hành chính nhưng có thể coi hợp thức trên phương diện quản lí thuế khi họ đã làm thủ tục đăng kí thuế trước hoặc cùng với thời điểm tiến hành hoạt động kinh doanh của mình.

Khi một tổ chức được xác định có hành vi kinh doanh thì khi đó phát sinh nghĩa vụ đăng kí thuế của họ với cơ quan thuế. Tuy nhiên, chưa làm phát sinh nghĩa vụ kê khai, nộp thuế, quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp.

Thứ hai, có thu nhập phát sinh.

Dấu hiệu có thu nhập phát sinh là căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ kê khai, nộp thuế, quyết toán thuế của đối tượng nộp thuế. Tuy nhiên, thu nhập phát sinh ở đây phải là thu nhập chịu thuế theo quy định của pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp, cụ thể:

“Thu nhập chịu thuế bao gồm thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ và thu nhập khác”.

Về nguyên tắc bất kì khoản thu nhập nào của tổ chức kinh doanh thì đều phải chịu thuế thu nhập doanh nghiệp

III. CĂN CỨ TÍNH THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP

Theo quy định tại Luật thuế thu nhập doanh nghiệp thì căn cứ tính thuế TNDN là Thu nhập tính thuế và thuế suất. Cụ thể:

Thuế TNDN=Thu nhập tính thuếxThuế suất

3.1. Thu nhập tính thuế:

– Thu nhập tính thuế trong kỳ tính thuế được xác định như sau:

Thu nhập tính thuế=Thu nhập chịu thuếThu nhập được miễn thuếCác khoản lỗ được kết chuyển

– Thu nhập chịu thuế được xác định theo công thức:

Thu nhập chịu thuế=(Doanh thu – Chi phí được trừ)+Thu nhập chịu thuế khác

Trong đó:

  • Doanh thu là toàn bộ tiền bán hàng, tiền gia công, tiền cung ứng dịch vụ. Bao gồm cả khoản phụ thu, phụ trội mà cơ sở kinh doanh được hưởng. Không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền.

Nếu DN kê khai thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ: Là doanh thu không có thuế GTGT;

Nếu DN kê khai thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp: Là doanh thu bao gồm cả thuế GTGT.

  • Chi phí được trừ là những khoản chi phí không nằm trong các khoản chi phí không được trừ theo quy định của pháp luật. Và đồng thời các khoản chi phí được trừ phải đáp ứng các điều kiện sau:

Khoản chi thực tế phát sinh liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.

Khoản chi có đủ hóa đơn, chứng từ hợp pháp theo quy định của pháp luật.

Khoản chi nếu có hóa đơn mua hàng hóa, dịch vụ từng có giá trị từ 20 triệu đồng trở lên (giá đã bao gồm thuế GTGT) khi thanh toán phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt.

– Thu nhập miễn thuế: Các khoản thu nhập được miễn thuế TNDN gồm 12 khoản thu nhập được miễn thuế TNDN quy định pháp luật.

– Các khoản lỗ được kết chuyển:

Các khoản lỗ phát sinh trong kỳ tính thuế là số chênh lệch âm về thu nhập tính thuế. Chưa bao gồm các khoản lỗ được kết chuyển từ các năm trước.

Doanh nghiệp sau khi quyết toán thuế cả năm mà bị lỗ thì phải chuyển toàn bộ và liên tục số lỗ vào thu nhập chịu thuế của những năm theo. Thời gian chuyển lỗ tính liên tục không quá 5 năm, kể từ năm tiếp sau năm phát sinh lỗ.

Doanh nghiệp có số lỗ giữa các quý trong cùng một năm tài chính thì được bù trừ số lỗ của quý trước vào các quý tiếp theo của năm tài chính đó. Khi quyết toán thuế toán thuế TNDN, doanh nghiệp xác định số lỗ của cả năm.

Quá thời hạn 5 năm kể từ năm tiếp sau năm phát sinh lỗ, nếu số lỗ chưa chuyển hết thì sẽ không được chuyển vào thu nhập của các năm tiếp theo.

3.2. Thuế suất thuế TNDN:

Mức thuế suất thu nhập doanh nghiệp năm 2021 là 20% được quy định tại Điều 11 Thông tư 78/2014/TT-BTC, cụ thể như sau:

Trước ngày 01/01/2016:

  • Doanh nghiệp hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có tổng doanh thu năm không quá 20 tỷ đồng áp dụng thuế suất 20%.
  • Doanh nghiệp có tổng doanh thu năm trên 20 tỷ đồng áp dụng thuế suất 22%.
  • Doanh nghiệp mới thành lập trong năm không đủ 12 tháng:
    • Trong năm tạm tính quý theo mức thuế suất 22% (trừ trường hợp thuộc diện được hưởng ưu đãi về thuế);
    • Kết thúc năm tài chính nếu doanh thu bình quân của các tháng trong năm không vượt quá 1,67 tỷ đồng thì doanh nghiệp quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp của năm tài chính theo thuế suất 20%;
    • Doanh thu bình quân của các tháng trong năm đầu tiên không vượt quá 1,67 tỷ đồng thì năm tiếp theo doanh nghiệp được áp dụng thuế suất thuế TNDN 20%.

Từ ngày 01/01/2016 đến nay tất cả các doanh nghiệp đang áp dụng mức thuế suất 20% và 22% chuyển sang áp dụng mức thuế suất 20%.

  • Các trường hợp đặc biệt:
    • Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp đối với hoạt động tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí tại Việt Nam từ 32% đến 50%. Căn cứ vào vị trí khai thác, điều kiện khai thác và trữ lượng mỏ doanh nghiệp có dự án đầu tư tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí gửi hồ sơ dự án đầu tư đến Bộ Tài chính để trình Thủ tướng Chính phủ quyết định mức thuế suất cụ thể cho từng dự án, từng cơ sở kinh doanh.

Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp đối với hoạt động tìm kiếm, thăm dò, khai thác các mỏ tài nguyên quý hiếm (bao gồm: bạch kim, vàng, bạc, thiếc, wonfram, antimoan, đá quý, đất hiếm trừ dầu khí) áp dụng thuế suất 50%; Trường hợp các mỏ tài nguyên quý hiếm có từ 70% diện tích được giao trở lên ở địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn thuộc danh mục địa bàn ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp ban hành kèm theo Nghị định số 218/2013/NĐ-CP của Chính phủ áp dụng thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp 40%.

3.3. Một vài ví dụ về căn cứ tính thuế thu nhập doanh nghiệp

VÍ DỤ:

Doanh nghiệp A kinh doanh điện thoại nhập khẩu thương hiệu X. Vào năm 20xx, doanh thu của công ty ước đạt 10 tỷ đồng. Doanh nghiệp này nhập khẩu 1000 chiếc điện thoại từ nước ngoài về với giá 7.000.000đ/chiếc có đầy đủ hoá đơn, chứng từ thuế GTGT. Tiền thuế tính trên mỗi chiếc điện thoại là 10% giá bán. Về thị trường trong nước, doanh nghiệp A phân phối lại điện thoại thương hiệu X với giá 10.000.000đ và người mua phải trả 11.000.000đ để mua chiếc điện thoại trên (10% thuế GTGT).

Vậy, số thuế TNDN mà doanh nghiệp này phải nộp là (10 tỷ – 7 tỷ) x 20%= 600 triệu đồng.

Qua nghiên cứu lý luận về thuế TNDN, chính sách thuế TNDN và quản lý thuế TNDN và cơ sở thực tiễn thuế TNDN ở Việt Nam, có thể rút ra một số kết luận cơ bản sau:

Thứ nhất, thực trạng về chính sách thuế TNDN tại Việt Nam cho đến nay đã làm rõ tác động tích cực của sắc thuế này đối với nền kinh tế.

Thứ hai, một số giải pháp nhằm hoàn thiện và thực hiện tốt chính sách thuế Thu nhập doanh nghiệp.

Thứ ba, yêu cầu về quản lý thuế TNDN, cụ thể về quản lý rủi ro trong hoạt động thanh tra kiểm tra thuế đối với DN, đề xuất các tiêu chí đánh giá rủi ro như về mức độ tuân thủ của người nộp thuế và tiêu chí về nợ thuế của người nộp thuế trong hoạt động thanh tra kiểm tra thuế để thực hiện tốt quản lý  thuế TNDN. Bên cạnh đó, một số giải pháp đáng chú ý nữa là: tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động quản lý thuế, cụ thể: phát triển phần mềm hỗ trợ phân tích rủi ro; đầu tư xây dựng và phát triển hạ tầng công nghệ thông tin và giao dịch điện tử; Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cho công tác quản lý thuế; Tăng cường công tác phối hợp giữa các bộ phận trong cơ quan thuế; tăng cường hợp tác quốc tế về thuế; ngoài những giải pháp đột phá, còn rất cần sự cam kết, kiên định đồng hành của Chính Phủ./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Giáo trình Luật thuế Việt Nam, NXB Công An nhân dân, tái bản lần thứ 12 năm 2019

2. Luật thuế Thu nhập Doanh nghiệp 2008;

3. Văn bản hợp nhất Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp ban hành ngày 15 tháng 7 năm 2020;