Làm sổ bị giảm diện tích đất thổ cư, đất ở

Anh chị có thể tư vấn cho em về trường hợp này được không ạ. ( Tên được em chuyển đổi cho mọi người dễ hiểu ạ.

Chú em có 1 mảnh đất. diện tích là 684m2 . mua của ông Công vào năm 1995, có giấy viết tay nhưng chưa làm giáy chuyển nhượng qsd đất. Năm nay chú em mới làm giấy chuyển nhượng do có người mua nhưng gặp 1 số vấn đề. Năm 1980 ông Công mua mảnh đất đó của bà Chiến, nhưng đến năm 1994 ông Công mới làm sổ đỏ, trong sổ đỏ có ghi rõ 684m2 đất đó là đất thổ cư thời hạn sử dụng lâu dài. Nhưng đến nay chú em đi làm giấy CNQSD đất thì bên địa chính xã nói rằng ông Công khi mua niếng đất đó của bà Chiến chỉ mới 16 tuổi nên ông không có quyền làm sổ đỏ, bây giờ họ làm lại sổ đỏ cho chú em là 300m2 đất thổ cư còn lại là đất trồng cây lâu năm , như vậy bên địa chính xã có đúng hay không ạ ? Vì trong làng mọi người khác cũng làm lại sổ đỏ và cấp là đất thổ cư như cũ, chỉ có chú em họ lấy lý do đó nên không chịu, chú em phải làm sao ạ. Em cảm ơn mn,

Luật sư tư vấn:

Việc bên địa chính xã nói Ông Công khi mua miếng đất củ Bà Chiến khi ông Ông Công 16 tuổi nên ông không có làm sổ đỏ là sai vì theo như bạn nói thì khoảng thời gian Ông Công mua đất của Bà Chiến là vào năm 1980, pháp luật về đất đai rất hạn chế và Ngày 1 tháng 7 năm 1980, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định số 201/CP về việc thống nhất quản lý ruộng đất và tăng cường công tác quản lý ruộng đất trong cả nước (sau đây gọi tắt là Quyết định số 201/CP năm 1980)

Để thực hiện thống nhất quản lý ruộng đất, tất cả các tổ chức và cá nhân sử dụng đất đều phải khai báo chính xác và đăng ký các loại ruộng đất mình sử dụng vào sổ địa chính của Nhà nước, Uỷ ban nhân dân xã phải kiểm tra việc khai báo này. Sau khi Kế khai và đăng ký, các tổ chức hay cá nhân nào được xác nhận là người quản lý sử dụng hợp pháp thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Không hề có quy định của pháp luật thời kỳ đấy là không đủ 16 tuổi thì không có quyền làm sổ đỏ.Việc sau đó bên địa chính xã lại xác định rằng có được nhưng khi làm lại sổ đỏ cho nhà bạn thì lại làm sổ đỏ là 300m2 đất thổ cư còn phần còn lại là 384m2 là đất trồng cây lâu năm.Việc bên địa chính làm lại sai thông tin về đất trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tự ý chuyển mục đích sử dụng đất  là sai theo quy định về pháp luật đất đai:

Điều 59. Thẩm quyền giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất

1. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trong các trường hợp sau đây:

a) Giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với tổ chức;

b) Giao đất đối với cơ sở tôn giáo;

c) Giao đất đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo quy định tại khoản 3 Điều 55 của Luật này;

d) Cho thuê đất đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo quy định tại điểm đ và điểm e khoản 1 Điều 56 của Luật này;

đ) Cho thuê đất đối với tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao.

2. Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trong các trường hợp sau đây:

a) Giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân. Trường hợp cho hộ gia đình, cá nhân thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp để sử dụng vào mục đích thương mại, dịch vụ với diện tích từ 0,5 héc ta trở lên thì phải có văn bản chấp thuận của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trước khi quyết định;

b) Giao đất đối với cộng đồng dân cư.

3. Ủy ban nhân dân cấp xã cho thuê đất thuộc quỹ đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích của xã, phường, thị trấn.

4. Cơ quan có thẩm quyền quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này không được ủy quyền.

Như vậy là Bên địa chính xã không có quyền tự ý chuyển đổi mục đích sử dụng đất và thông tin trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Công là hoàn toàn hợp lệ:

Điều 101. Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà không có giấy tờ về quyền sử dụng đất

1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà không có các giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này, có hộ khẩu thường trú tại địa phương và trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối tại vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận là người đã sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.

2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 và không vi phạm pháp luật về đất đai, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt đối với nơi đã có quy hoạch thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Ông Công mua bán đất vào năm 1995 và đến bây giờ mới làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và ông Công đưa ra được giấy tờ mua bán cũng như chứng minh được mình sử dụng đất ổn định từ trước 01 tháng 07 năm 2004 và không vi phạm pl về đất đai cũng như có tranh chấp gì thì hoàn toàn được Văn phòng đăng ký đất đai cấp Huyện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Nếu như Bên địa chính xã không đồng ý thì Bạn có thể làm đơn yêu cầu Bên địa chính xã đính chính lại thông tin yêu cầu:

Điều 106. Đính chính, thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp

1. Cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận có trách nhiệm đính chính Giấy chứng nhận đã cấp có sai sót trong các trường hợp sau đây:

a) Có sai sót thông tin về tên gọi, giấy tờ pháp nhân hoặc nhân thân, địa chỉ của người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất so với giấy tờ pháp nhân hoặc nhân thân tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận của người đó;

b) Có sai sót thông tin về thửa đất, tài sản gắn liền với đất so với hồ sơ kê khai đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất đã được cơ quan đăng ký đất đai kiểm tra xác nhận.

2. Nhà nước thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp trong các trường hợp sau đây:

a) Nhà nước thu hồi toàn bộ diện tích đất trên Giấy chứng nhận đã cấp;

b) Cấp đổi Giấy chứng nhận đã cấp;

c) Người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất mà phải cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;

d) Giấy chứng nhận đã cấp không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng sử dụng đất, không đúng diện tích đất, không đủ điều kiện được cấp, không đúng mục đích sử dụng đất hoặc thời hạn sử dụng đất hoặc nguồn gốc sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai, trừ trường hợp người được cấp Giấy chứng nhận đó đã thực hiện chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật đất đai.

3. Việc thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp đối với trường hợp quy định tại điểm d khoản 2 Điều này do cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất quy định tại Điều 105 của Luật này quyết định sau khi đã có kết luận của cơ quan thanh tra cùng cấp, văn bản có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về giải quyết tranh chấp đất đai. Nếu như bên địa chính xã không làm thủ tục đính chính thì bạn có thể làm đơn tố cáo lên Chủ tịch UBND xã để giải quyết.Nếu như vẫn không được thì có thể làm đơn lên UBND huyện để tiến hành giải quyết.Vụ tranh chấp nếu thuộc thẩm quyền của Tòa Án thì Tòa Án nhân dân cấp Huyện tiến hành thụ lý vụ việc tranh chấp.