Nguyên tắc chiếm hữu thực sự trong Luật quốc tế và việc áp dụng nguyên tắc này vào việc xác lập chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam

Nguyên tắc chiếm hữu thực sự trong Luật quốc tế và việc áp dụng nguyên tắc này vào việc xác lập chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam.

Đối với mỗi quốc gia chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ là điều rất thiêng liêng. Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ lâu đã thuộc chủ quyền và là một bộ phận của lãnh thổ Việt Nam. Điều này đã được khẳng định qua các chứng cứ lịch sử cũng như việc thực hiện chủ quyền một cách thực sự, liên tục trong suốt nhiều thế kỷ của nhà nước ta. Thế nhưng , hai quần đảo này lại là tâm điểm của các cuộc tranh chấp giữa Việt Nam với Trung Quốc và một số nước khác. Như chúng ta đã biết tranh chấp chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là tranh chấp dài nhất, phức tạp nhất, trên vùng biển rộng với nhiều đảo nhất và liên quan đến nhiều bên nhất trong lịch sử tranh chấp thế giới. Đây là đề tài thu hút được rất nhiều sự quan tâm của giới khoa học nhằm tìm ra giải pháp công bằng theo Luật quốc tế phù hợp mà các bên có thể chấp thuận. Bài nghiên cứu khoa học này được viết dựa trên những tư liệu liên quan mà tôi đã thu thập, phân tích cùng với những lập luận khách quan của mình. Ngoài Lời mở đầu, nội dung chính của bài nghiên cứu khoa học được chia làm 3 chương , tập trung vào 2 vấn đề cơ bản là: 

  • Chủ quyền của Việt Nam trên 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa được khẳng định qua những chứng cứ lịch sử và pháp lý. 
  • Nguyên tắc chiếm hữu thực sự trong Luật quốc tế và việc áp dụng nguyên tắc này vào việc xác lập chủ quyền đối với hai quần đảo của Việt Nam.

Trong bài này, tôi muốn nhấn mạnh đến các bằng chứng lịch sử quan trọng, phù hợp vs pháp lý quốc tế về sự chiếm hữu mang tính nhà nước, hòa bình và liên tục của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường sa-2 quần đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Bên cạnh đó, cũng thể hiện rõ nguyên tắc chiếm hữu thực sự – một trong những nguyên tắc nền tảng của pháp luật quốc tế ,có vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc xác lập chủ quyền của các quốc gia sau khi ra đời từ định ước Berlin, đồng thời có ý nghĩa to lớn trong việc giải quyết các tranh chấp lãnh thổ giữa các quốc gia với nhau.

Áp dụng nguyên tắc này của pháp luật quốc tế vào trường hợp hai quần đảo Hoàng Sa ,Trường Sa của Việt Nam , các tư liệu, bằng chứng lịch sử và căn cứ pháp lý đều cho thấy rằng Nhà nước Việt Nam là Nhà nước đầu tiên trong lịch sử đã chiếm hữu quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa khi hai quần đảo này còn là đất vô chủ và đã tiến hành thực thi chủ quyền của mình tại hai quần đảo này một cách liên tục, hòa bình. Việc căn cứ vào các quy định trong các văn bản Pháp lý quốc tế cũng như những nguyên tắc cơ bản về chủ quyền lãnh thổ, đặc biệt là nguyên tắc chiếm hữu thực sự là hết sức cần thiết để xác định chủ quyền một cách hợp pháp, đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của các quốc gia liên quan, góp phần gìn giữ hòa bình, an ninh khu vực và thế giới.

CHƯƠNG I : Chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa 

1. Tổng quan về Biển Đông và hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa:

1.1 Vị thế của Biển Đông: 

Biển Đông là một biển nửa kín được bao bọc bởi nhiều quốc gia nhất sau Địa Trung Hải ( gồm 9 quốc gia và 1 vùng lãnh thổ: Việt Nam, Trung Quốc, Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia, Thái Lan, Campuchia , Singapore và Đài Loan). Với diện tích khoảng 3,5 triệu km2, Biển Đông là biển lớn nhất trong sáu biển lớn của thế giới, trải rộng từ vĩ độ 30lên đến 260 Bắc và trải rộng từ kinh độ 100 đến 121 độ Đông, có chiều rộng gấp 8 lần Biển Đen và gấp 1.2 lần Địa Trung Hải. Đây là biển duy nhất nối liền hai đại dương là Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương , là khu vực có các đường biển nhộn nhịp. về phía Tây, Biển đông thông với Ấn Độ Dương qua eo biển Malacca. Nơi hẹp nhất của em biển này rộng khoảng 17 hải lý, sâu khoảng 30m. Về phía Đông có thể đi qua eo biển sâu Mondoro để đến biển Sulu. Năm trong số mười tuyến đường biển thông thương lớn nhất thế giới đều liên quan tới Biển Đông. Nhiều nước khu vực Đông Á có nền kinh tế phụ thuộc sống còn vào con đường biển này như Nhật Bản, Hàn Quốc , Đài Loan, Singapore,.. Trung bình mỗi ngày , khoảng từ 150 đến 200 tàu các loại qua lại trên Biển Đông. Tàu thuyền đi qua eo biển Malacca hàng năm lên đến 18.000 chiếc, Nhật Bản coi đường vận tải qua Eo biển Malacca là “ tuyến đường sinh mệnh trên biển “ với 90% lượng dầu thô và một khối lượng lớn nguyên vật liệu khác mà nước này nhập khẩu từ châu Phi và Trung Đông đều đi qua đây. Quan hệ hàng hóa và thị trường giữa các nước tăng đáng kể với hơn một triệu tấn hàng hóa trao đổi qua Biển Đông. 

Đây cũng là biển duy nhất trên thế giới có hai quốc gia quần đảo lớn nhất thế giới Indonesia và Philippines, là nơi liên kết khối thị trường phía nam Trung quốc với khối ASEAN , có vai trò chiến lược ngày càng quan trọng trong hợp tác kinh tế thế kỉ 21. Biển Đông tuy là biển rìa lục địa nưng lại mang những nét đặc trưng của đại dương. 

Từ góc nhìn của Công Ước 1982 thì Biển Đông là khu vực đặc thù, bao gồm tất cả những nội dung liên quan của Công Ước như: quốc gia ven biển, quốc gia quần đảo, phân định biển, eo biển quốc tế, hợp tác quản lý tài nguyên sinh vật,..

1.2 Khái quát về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa: 

Hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa là hai quần đảo bao gồm nhiều đảo có diện tích rất nhỏ, nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới .Ở đây thường là nơi đổ bộ của các trận bão lớn, hơn thế nữa, trên các đảo này hầu như không có đất canh tác, thảm thực vật nghèo nàn vì khí hậu khắc nghiệt, chủ yếu có cấu tạo san hô, không phù hợp với cuộc sống bình thường của con người. Đất đai trên các đảo màu mỡ vì được bổ sung nguồn phân chim song cây cối lại không thể tồn tại do khan hiếm nguồn nước ngọt, bão biển mang theo muối…Tuy nhiên, hai quần đảo này lại có giá trị địa chiến lược, chính trị, an ninh quốc phòng vô cùng quan trọng.

Thứ nhất, theo điều 121 khoản 3 Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật biển năm 1982, nếu một bãi san hô, đảo đá ngoài khơi xa lục địa này không thích hợp cho con người đến ở hoặc không có đời sống kinh tế riêng thì ít nhất cũng mang lại cho quốc gia 1.543 km2lãnh hải và nếu chứng minh được chúng có quy chế đảo chứ không phải đá thì chúng mang lại thêm 340.000 km2 vùng đặc quyền kinh tế và một thềm lục địa mở rộng, chính vì vậy bất kỳ một đảo nào hoặc đá nào cũng mang lại vùng biển xung quanh có giá trị gấp nhiều lần so với giá trị của bản thân đảo hay đá đó. Các đảo ở Hoàng Sa và Trường Sa có giá trị như một tàu sân bay không chìm, thích hợp là căn cứ đóng quân, tiếp dầu, sửa chữa, huấn luyện quân, thử nghiệm vũ khí và tác chiến. 

Ngoài vị thế, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm gần như giữa Biển Đông, khống chế tới 39 tuyến hàng hải quan trọng của thế giới, khu vực hai quần đảo còn chứa đựng một tiềm năng kinh tế dồi dào được thể hiện rõ qua các nguồn lợi thủy sản và dầu khí. 

Nhìn chung tài nguyên lớn nhất của hai quần đảo chính là tài nguyên vị thế – là quyền kiểm soát vùng biển xung quanh, nó cũng lớn dần cùng sự phát triển của Luật biển, thu hút sự quan tâm của các nước và làm nảy sinh tranh chấp vùng biển xung quanh. 

1.2.1 Quần đảo Hoàng Sa: 

Quần đảo Hoàng Sa nằm chủ yếu giữa hai bắc vĩ tuyến 16⁰ vs 170 và giữa hai đông kinh tuyến 1110 và 1130,nơi gần nhất cách đảo Lý Sơn khoảng 120 hải lý, cách cảng Đà Nẵng khoảng 170 hải lý và cách đảo Hải Nam ( Trung Quốc ) khoảng 156 hải lý.Quần đảo Hoàng Sa gồm hai nhóm đảo chính: nhóm Amphitrite ở phía đông và nhóm Crescent ở phía tây, cách nhau 70km.

Ngoài 2 nhóm đảo kể trên, quần đảo HS còn gồm hơn 30 đảo nhỏ, đá cồn, san hô, bãi cát , trải rộng trên một vùng biển rộng từ tây sang đông khoảng 100 hải lý, bắc xuống nam khoảng 85 hải lý và chiếm diện tích khoảng 15.000 km2. Các đảo này có bố cục rắc rối vô cùng nguy hiểm cho việc hàng hải , đã có nhiều di vật tàu đắm nơi đây.1 

Nơi đây không có mùa đông lạnh giá bù lại là mùa hè nóng nực. Thời tiết có thể chia ra hai mùa, mùa khô từ tháng 1 đến tháng 6 và mùa mưa từ tháng 7 cho tới tháng 12. Quần đảo này thường xuyên có bão đi qua trong khoảng tháng 6 đến tháng 8. 

Các đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa được ước tính là có trữ lượng gần 10 triệu tấn phân chim tích tụ từ lâu bị phong hóa qua khảo sát của các nhà địa chất Pháp. Đây là nguồn phân bón có giá trị rất lớn. 

Hải sản ở Hoàng Sa cũng rất đa dạng , nhiều loài quý như tôm hùm, hải sâm, đồi mồi,… thêm vào đó là loại rau câu quý hiếm, rất có giá trị trên thị trường quốc tế. 

1.2.2 Quần đảo Trường Sa 

Quần đảo này không dễ nhận diện như quần đảo Hoàng Sa vì đây là vùng gồm những đảo, đảo nhỏ, bãi cát và cồn đá vô cùng phân tán. Tất cả có trên 100 hòn đảo, đá cồn, san hô và bãi san hô, trải dài trên vùng biển rộng từ tây sang đông khoảng 350 hải lý , bắc xuống nam khoảng 360 hải lý và tổng diện tích quần đảo vào khoảng 160.000 đến 180.00 km2 – gấp 10 lần quần đảo Hoàng Sa. Giới hạn phía Bắc là 12 độ vĩ tuyến, giới hạn phía đông 111 độ kinh tuyến. 

Các đảo, cồn ở đây rất nhỏ, phần nhiều không có cây cối , chỉ bao phủ bằng một lớp cát hay phân chim, một số khác có vài bụi cây hay cụm dừa.Những đảo chính nổi trên mặt nước gồm có 4 đảo nhỏ là North Beef ( đảo Bắc ), Northeast Cay ( Song Tử Đông ), Southeast Cay ( Song Tử Tây) và South Reef ( đá Nam) ; Trident Shoal ( bãi Đinh Ba) , Lys Shoal (bãi An Lão ),Thi Tu Island là nơi có cây cối và nước ngọt. Tizard Bank ( bãi ngầm ) và Itu Aba ( Ba Bình) là đảo quan trọng nhất của quần đảo Trường Sa.2

Nguồn lợi hải sản ở đây rất phong phú, tập trung nhiều loại cá với mật độ cao, có loại vích là động vật quý hiếm và cá ngừ có giá trị kinh tế cao. Quần đảo Trường Sa được tính có khoảng 370.000 tấn phân chim, trữ lượng khí đốt khoảng 25 tỷ mét khối và xăng dầu khoảng 105 tỷ thùng. 

Về khí hậu, thời tiết ở vùng biển quần đảo Trường Sa khác biệt lớn hơn so với vùng ven bờ. Mùa hè mát hơn và ấm hơn vào mùa đông. Hàng năm quần đảo này có tới 131 ngày có gió mạnh từ cấp 6 trở lên, phân phối không đồng đều trong các tháng. Giống quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa cũng có hai mùa: mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 tới tháng 1 năm sau với lượng mưa trung bình rất lớn, hiện tượng giông bão cũng rất phổ biến , quanh năm tháng nào cũng có giông và có bão lớn đi qua vào các tháng mùa mưa. 

2. Những cứ liệu lịch sử khẳng định hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam: 

2.1. Thời các Chúa Nguyễn ( 1600-1777) 

Những bản đồ nước ta ở thời điểm này chưa mô tả đầy đủ bờ biển , Biển Đông và các cửa biển trên toàn quốc vì chúng được thực hiện trong giai đoạn lãnh thổ đang thời kỳ Nam tiến. Mặc dù vậy đã có những chi tiết xác định chính quyền và nhân dân ta đã khai thác, làm chủ các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trong Phủ biên tạp lục, Lê Quý Đôn có viết: “ Xã An Vĩnh thuộc huyện Bình Sơn, phủ Quảng Ngãi ở gần bãi biển. Về hướng Đông Bắc ngoài biển có nhiều đảo và nhiều núi linh tinh hơn 130 đỉnh… ở trong các hòn đảo có bến Cát Vàng…Ngày trước, họ Nguyễn có thiết lập đội Hoàng Sa gồm 70 suất, lấy người ở xã An Vĩnh…Họ Nguyễn còn thiết lập thêm đội Bắc Hải…”3 

2.2. Dưới triều Nguyễn ( 1802-1884): 

Hầu như năm nào các chúa Nguyễn , các vua triều Nguyễn cũng ra lệnh cho thủy quân đi công tác ở Hoàng Sa và tất cả các đảo ở Trường Sa để khai thác các mối lợi và thực thi chủ quyền vững chắc tên các hải đảo xa xôi trong Biển Đông. Thêm nữa, là BA BẢN ĐỒ CÙNG KHẲNG ĐỊNH Hoàng Sa – Trường Sa là CỦA VIỆT NAM 

– Đại Nam nhất thống toàn đồ. Quốc sử quán 1838 

– An Nam đại quốc họa đồ. Taberd 1838 

– Đông Nam dương các quốc diên cách đồ. Ngụy Nguyên 1842 1. Bản đồ Đại Nam nhất thống toàn đồ vẽ rõ tình hình địa lý với tất cả địa danh đương thời. Bờ biển VN khi ấy đã rõ nét như chữ S và gần giống vs các bản đồ theo kinh tuyến, vĩ tuyến. Trên Biển Đông có vẽ khối lớn gồm nhiều đảo nhỏ, phía Bắc có ghi 2 chữ Hán Hoàng Sa và phía Nam ghi 4 chữ Vạn lý Trường Sa.4 

2. Bản đồ An Nam đại quốc họa đồ được Giám mục Taberd công bố năm 1838 có nhiều chi tiết hơn bản đồ Đại Nam, ngoài ra các địa danh cũng đc ghi danh bằng chữ quốc ngữ. Ngoài Biển Đông có vẽ mấy hòn đảo nhỏ , được ghi là 

Paracel seu hay Bãi Cát Vàng. Điều này chứng tỏ HS hay Bãi Cát Vàng chỉ có thể là của VN. 

3. Bản đồ Đông Nam dương các quốc diên cách đồ của Ngụy Nguyên năm 1842 ghi nhiều đảo như dấu chấm với địa danh Vạn lý trường sa, đó là quần đảo Hoàng sa và dưới phía Nam, Ngụy nguyên cũng ghi nhiều dấu chấm với địa danh Thiên lý thạch đường , đó chính là quần đảo TS. Hai quần đảo vừa kể thuộc chủ quyền của VN. Trên Biển Đông , Ngụy Nguyên ghi rõ Đông dương đại hải tức Biển Đông rất lớn. 

Đa số bản đồ phương Tây với ba bản đồ trên đều không ghi nhầm Biển Đông là biển Trung Hoa ( Mer de Chine) hay Biển nam Trung Hoa ( Merméridionale de Chine ) . Các sách địa lý thế giới xưa của phương Tây cũng ghi nhận Hoàng Sa -Trường Sa là của VN. 

Năm 1833, trong sách “ Vũ trụ , lịch sử và mô tả hết mọi dân tộc, cùng tôn giáo, phong tục tập quán.” của Giám mục Taberd có đoạn mô tả rõ địa lý quần đảo HS: “Chúng tôi không thể đi sâu kể hết các hải đảo chính thuộc chủ quyền nước Giao Chỉ gần Trung Hoa ( Cochinchine, quốc hiệu chính thức khi ấy đã là Việt Nam). Chúng tôi chỉ xin lưu ý rằng từ 34 năm trước đây, quần đảo Paracels gọi là Cát Vàng hay Hoàng Sa. Một khu vực rắc rối như mê hồn trận gồm nhiều đảo nhỏ và các bãi cát làm cho các nhà hàng hải sợ hãi, đã do người Việt Nam chiếm giữ. Chúng tôi không biết họ thiết lập một cơ sở nào chưa, song chắc chắn rằng hoàng đế Gia Long đã quan tâm kết hợp thêm một cánh hoa nhỏ ấy vào vương miện của mình, vì ông xét là thích hợp nên đích thân ra đảo thực hiện chủ quyền năm 1816 và trân trọng trưng quốc kỳ Việt Nam”.

Tài liệu lịch sử thu thập được tại huyện đảo Lý Sơn cũng là thêm bằng chứng khẳng định Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam. Đó là một sắc chỉ quý của triều đình nhà Nguyễn liên quan đến đội Hoàng Sa mà tộc họ Đặng ở thôn Đồng Hộ, xã An Hải, huyện đảo Lý Sơn đã gìn giữ hai thế kỷ qua. Ông Đặng Lên là hậu duệ của ông Đặng Văn Siểm – một đà công , tức người dẫn đường trong đội thuyền gồm 3 chiếc với 24 lính thủy ra canh giữ đảo Hoàng Sa vào ngày 15 tháng 4 năm Minh Mạng thứ 15 tức năm Ất Mùi – 1835 đã ghi trong sắc chỉ của vua Minh Mạng mà ông Đặng Lên đang lưu giữ. 

Tờ lệnh ghi rõ :” Các phái viên và lính thủy đi trước để cùng thám sát các vùng của xứ Hoàng Sa. Xem xét và tuyển chọn trong tỉnh ba thuyền tốt cùng với các vật dụng được tu bổ vững chắc… Cứ hạ tuần tháng ba thuận thời tiết mà đi.“ Tuy chỉ vỏn vẹn vài trang nhưng nó chứa đựng nhiều thông tin quý, nêu rõ danh tính, quê quán của từng binh thuyền vâng mệnh triều đình đi lính Hoàng Sa, không chỉ riêng ở huyện đảo Lý Sơn mà còn ở các vùng quê ven biển khác tại Quảng Ngãi.6 

2.3. Dưới thời Pháp thuộc ( 1884-1945) 

Pháp bắt đầu vẽ bản đồ Việt Nam theo kỹ thuật khoa học hơn cho đúng kinh tuyến và vĩ tuyến. Năm 1885, Sở Thủy văn của bộ Hải quân Pháp đã thực hiện bản đồ Archipel des Paracels ( quần đảo Hoàng Sa) theo tư liệu của người Đức. Bản vẽ gồm hai phần quần đảo : 

(1) Groupe du Croissant ( nhóm Nguyệt Thiềm) và các đảo, bãi thành viên; (2) Groupe de l’Amphitrite ( nhóm An Vĩnh) và các đảo , bãi thành viên.7 Bản đồ đã thực hiện hơn 100 năm qua vẫn được coi là chính xác, chỉ cần dịch tiếng Pháp sang Tiếng Việt và ghi tên các đảo bằng địa danh đã Việt hóa hoặc tên mới do ta đặt là đủ. 

Trong thời kỳ Pháp xâm lược Việt Nam, trên cơ sở đại diện cho triều đình phong kiến An Nam, Pháp đã có nhiều hành động củng cố chủ quyền Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa bằng việc tiến hành tuần tra, kiểm soát và đưa quân ra đóng trên các đảo. Để quản lý hành chính, chính quyền lúc đó đã sáp nhập quần đảo Trường Sa vào tỉnh Bà Rịa và thành lập đơn vị hành chính ở quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế và cho xây dựng nhiều công trình trên cả hai quần đảo. 

Sau chiến tranh thế giới lần II, Pháp quay lại Hoàng Sa và Trường Sa. Ngày 08/03/1949, Pháp công nhận độc lập thống nhất của Việt Nam và ngày 14/10/1950, Pháp chính thức trao trả việc phòng thủ quần đảo Hoàng Sa cho Việt Nam. 

2.4. CÁC NHÀ HÀNG HẢI, TU SĨ PHẬT GIÁO , CÔNG GIÁO, CÁC SÁCH ĐỊA DƯ THẾ GIỚI XƯA, các tài liệu phương Tây cũng ĐỀU KHẲNG ĐỊNH HOÀNG SA- Trường Sa LÀ CỦA Việt Nam. 

Người Bồ Đào Nha bắt đầu thám hiểm đường bờ biển Việt Nam năm 1523. Diogo Ribeiro đã thăm dò một khoảng dài rất nhiều đảo san hô,bãi đá ngầm cực kì nguy hiểm cho thuyền bè đi lại và vẽ lại quần đảo này vs ba sơ đồ của ba năm: 1525,1527,1529. ông đặt tên quần đảo này là Pracel ( nghĩa là đá ngầm ) , là quần đảo của Giao Chỉ- tức VN ta. ông cũng đặt tên bờ biển quần đảo đá ngầm ( Costa da Pracel) ở khoảng đất liền Quảng Ngãi8 

Rất nhiều bản đồ khác ở Tây phương đều vẽ theo Diogo Ribeiro, chỉ khác tên gọi Pracel thành Parcel hay Paracel. Người Đức và người Anh phát hiện hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cách nhau khá xa và cuối thế kỉ 19. 

Quần đảo phía Bắc ( Hoàng Sa) vẫn giữ nguyên tên là Paracel, quần đảo phía nam (Trường Sa) gọi là Spratly để ghi ơn thuyền trưởng Richard Spratly người Anh đã có nhiều công phát hiện các quần đảo trong Biển Đông. 

Cuốn La cosmografia istorica, astronomica e fisica, tập 6 của Biagio Soria in tại Napoli năm 1828, phần 4 nói về đế chế An Nam có câu cuối cùng ghi rằng: “ Thuộc về đế chế này là quần đảo Hoàng Sa (Paracels) bao gồm các đảo và đá ngầm ở phía đông bờ biển nước này” .9 

Nhật ký trên tàu Amphitrite ( năm 1701) cũng xác nhận Paracels là một quần đảo thuộc về nước An Nam. 

Năm 1898 Trung Quốc đã nêu lý do Paracels ( quần đảo Hoàng Sa) không thuộc chủ quyền của Trung Quốc, dứt khoát từ chối yêu cầu của công ty Bảo hiểm Anh đòi Trung Quốc bồi thường việc dân Hải Nam ‘hôi của” của tàu Bellona của Đức đắm vào năm 1894 ở ngoài khơi bãi đá Bắc và tàu Unofi Maru của Nhật Bản đắm năm 1896 cũng ở quần đảo Hoàng Sa.10 

Mãi cho tới năm 1909, chính quyền Quảng Đông mới tuyên bố Paracels là đất vô chủ (res-nullius) và đem tàu chiến đến thảm sát, thực hiện bước đầu chiếm hữu theo cách thức phương Tây như bắn 21 phát súng đại bác, cắm cột mốc chủ quyền. Việt Nam khi ấy bị Pháp đô hộ , mất quyền tự chủ ngoại giao. 

Thêm vào đó, Trung Quốc còn cho rằng quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam là đảo ven bờ trong khi các tư liệu khách quan phương Tây, kẻ cả bản đồ như An Nam Đại quốc họa đồ năm 1838 được Giám mục Taberd đưa vào cuốn từ điển Latino-Anamitici ghi rất rõ Paracel seu hay Cát Vàng ( tức quần đảo Hoàng Sa) ở vị trí tọa độ hiện nay. 

Các tư liệu của Việt Nam cũng như của phương Tây và ngay cả một số tư liệu của Trung Quốc cũng hết sức rõ ràng về chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là một thực tế khách quan, khác hẳn với những tư liệu mà Trung Quốc đã viện dẫn để cố suy diễn và chứng minh chủ quyền của họ một cách phi pháp. Về pháp lý quốc tế, Hiệp định Genève năm 1954 về Đông Dương đã phản bác luận điểm của Trung Quốc khi cho rằng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã từng thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc ở quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa. Hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa ở Biển Đông nằm dưới vĩ tuyến 17 sẽ được đặt dưới sự quản lý hành chính của chính quyền quản lý phía Nam vĩ tuyến 17. Hòa ước Hòa bình Francisco cũng đã khẳng định không giao cho Trung Quốc thay thế Nhật Bản quản lý hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Hiến chương Liên Hợp Quốc đề cập cấm sử dụng vũ lực trong việc giải quyết tranh chấp quốc tế, nhưng Trung Quốc nhiều lần vi phạm. Sự kiện năm 1974, Trung Quốc dùng vũ lực chiếm đóng trái phép toàn bộ quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Công Ước Liên Hợp Quốc về Luật biển năm 1982 cũng quy định rõ lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, cho phép các nước, bị vi phạm có thể đơn phương đưa nước vi phạm ra Tòa Luật biển của Liên Hợp Quốc. Việt Nam có đầy đủ cơ sở lịch sử và pháp lý quốc tế để khẳng định chủ quyền của mình trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Các văn bản nhà nước, sách điển chế, chính sử, sách địa lí , các tư liệu phương Tây và ngay cả của Trung Quốc trước năm 1909 đều thể hiện rõ quá trình xác lập , thực thi liên tục, hòa bình chủ quyền của Việt Nam tại hai quần đảo này. Tuy nhiên, chính quyền nước ta luôn tôn trọng nguyên tắc “ công lý hòa bình” để giải quyết các vụ xâm chiếm bất công những phần lãnh thổ, lãnh hải thiêng liêng của Tổ quốc Việt Nam. Ngoài công hàm gửi Liên Hiệp Quốc và các quốc gia vi phạm chủ quyền nước ta, hoặc các Sách Trắng cũng như tuyên bố minh bạch về chủ quyền, các cơ quan chức năng đã thiết lập những bản đồ có tọa độ chính xác về tất cả các đảo, bãi cát, đá ngầm.. của hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nhằm minh thị chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc trên Biển Đông và trên toàn thể các quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa.

CHƯƠNG II: Nguyên tắc chiếm hữu thực sự trong LQT 

1. Luật pháp quốc tế về thụ đắc lãnh thổ : 

Trong quá trình phát triển lâu dài của nhân loại, cùng với sự xuất hiện của các quốc gia, Luật pháp quốc tế đã dần dần hình thành và phát triển. 

Trước đây khi chiến tranh được coi là phương tiện hợp pháp để giải quyết các tranh chấp quốc tế thì cơ sở xác lập chủ quyền lãnh thổ và thay đổi lãnh thổ quốc gia chủ yếu thông qua chiến tranh xâm chiếm lãnh thổ. Ngày nay, luật quốc tế hiện đại thừa nhận và khẳng định nguyên tắc cấm dùng vũ lực và đe dọa dùng vũ lực đã làm thay đổi hẳn cơ sở của việc xác lập chủ quyền lãnh thổ. Pháp luật quốc tế cũng ghi nhận một trong những nguyên tắc cơ bản để xác lập hợp pháp danh nghĩa chủ quyền lãnh thổ của một quốc gia là: việc xác lập chủ quyền phải dựa vào các phương thức thụ đắc lãnh thổ hợp pháp. Luật pháp quốc tế về thụ đắc lãnh thổ là một ngành luật sớm xuất hiện và có vai trò quan trọng. Các quy định về thủ đắc lãnh thổ giúp giải quyết câu hỏi làm thế nào một quốc gia có thể xác lập chủ quyền đối với một vùng lãnh thổ mới một cách hợp pháp chống lại các yêu sách của các quốc gia khác. Qua lịch sử phát triển, có vẻ không có bất kỳ quốc gia nào không có biến động về lãnh thổ, và ngành luật quốc tế này sẽ hợp pháp hóa hoặc bất hợp pháp hóa các biến động này. Đối với Việt Nam, lịch sử đất nước đi cùng với lịch sử mở mang bờ cõi từ đồng bằng sông Hồng đến miền trung và rồi đến miền nam hình thành lãnh thổ đất nước hình chữ S như ngày nay. Trong quá trình lịch sử đôi lúc lãnh thổ Việt Nam mở rộng, đôi lúc lại thu hẹp. Hiện nay vẫn còn những vùng lãnh thổ của Việt Nam vẫn bị nước khác tranh chấp, đặc biệt là quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đối với khu vực đồng bằng sông Cửu Long, đôi khi có một số tiếng nói cho rằng đây là lãnh thổ của Campuchia. Để xác định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo trên và để phản bác mọi nghi ngờ về chủ quyền của Việt Nam ở đồng bằng sông Cửu Long và ở mọi vùng lãnh thổ khác trên đất nước, các quy định của luật quốc tế về thụ đắc lãnh thổ cần được tìm hiểu kỹ càng. 

Để xác định chủ quyền đối với vùng lãnh thổ tranh chấp, người ta thường phải trả lời câu hỏi: Lãnh thổ đó có phải là vô chủ không và ai là người đầu tiên xác lập chủ quyền trên lãnh thổ đó?. Một câu hỏi nữa cũng cần được trả lời đó là: phương thức thụ đắc lãnh thổ nào đã được sử dụng để thiết lập chủ quyền lãnh thổ? 

Vì vậy, nghiên cứu các phương thức thụ đắc lãnh thổ trong luật quốc tế là rất cần thiết. 

1.1 Các phương thức thụ đắc lãnh thổ 

Trong lịch sử phát triển lâu dài của Luật pháp quốc tế, những nguyên tắc và quy phạm pháp luật xác lập chủ quyền lãnh thổ đã được hình thành trên cơ sở thực tiễn quốc tế, trong đó có các phương thức thụ đắc lãnh thổ. 

Thụ đắc lãnh thổ là việc một quốc gia xác lập chủ quyền của mình đối với một vùng lãnh thổ mới, hay nói cách khác, mở rộng lãnh thổ hiện của của mình, thêm một vùng lãnh thổ mới vào bản đồ lãnh thổ quốc gia của mình. Luật pháp quốc tế về thụ đắc lãnh thổ là một ngành luật sớm xuất hiện và có vai trò quan trọng. Các quy định về thủ đắc lãnh thổ giúp giải quyết câu hỏi làm thế nào một quốc gia có thể xác lập chủ quyền đối với một vùng lãnh thổ mới một cách hợp pháp chống lại các yêu sách của các quốc gia khác. Qua lịch sử phát triển, có vẻ không có bất kỳ quốc gia nào không có biến động về lãnh thổ, và ngành luật quốc tế này sẽ hợp pháp hóa hoặc bất hợp pháp hóa các biến động này. 

Một điểm sơ bộ khác cần chú ý về các phương thức thụ đắc là chúng chỉ hoàn toàn phù hợp khi quyền sở hữu lãnh thổ không chắc chắn. Chẳng hạn, Quần đảo Shetland đã là một phần của Vương quốc Anh từ rất lâu đến nỗi tất cả các quốc gia đều công nhận chúng là một phần của Vương quốc Anh và không ai bận tâm hỏi Vương quốc Anh lần đầu tiên có được nó như thế nào.11 

Theo quan điểm truyền thống là có một số chế độ riêng biệt mà chủ quyền có thể có được trên lãnh thổ. Việc phân loại các chế độ này ban đầu được vay mượn từ các quy tắc của pháp luật La Mã về việc mua lại tài sản, điều này không đáng ngạc nhiên vì chủ quyền đối với lãnh thổ mang một số điểm tương đồng với quyền sở hữu tài sản; và trong thế kỷ mười sáu và mười bảy, khi luật pháp quốc tế hiện đại bắt đầu phát triển, các lý thuyết hiện hành về chế độ quân chủ tuyệt đối có xu hướng coi một lãnh thổ nhà nước là tài sản riêng của quốc vương . Nhưng có một số cách mà việc sử dụng các khái niệm luật tư nhân này tạo ra một cái nhìn lệch lạc về luật pháp quốc tế hiện đại. Cụ thể, nó giả định rằng việc chuyển nhượng lãnh thổ diễn ra giữa các quốc gia đã tồn tại, giống như việc chuyển nhượng tài sản diễn ra giữa các cá nhân đã tồn tại. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, hình thức chuyển nhượng lãnh thổ thường xuyên nhất (chính xác hơn là: chuyển giao chủ quyền đối với lãnh thổ) đã xảy ra khi một thuộc địa trở nên độc lập, vì lãnh thổ là một thành phần thiết yếu của chế độ nhà nước, sự ra đời của nhà nước và chuyển giao lãnh thổ không thể tách rời thành một bang là lãnh thổ của nó. 

Hiện nay, trên thế giới không còn lãnh thổ vô chủ nữa, vì vậy, các nguyên tắc, quy phạm pháp luật xác lập chủ quyền lãnh thổ chủ yếu được sử dụng để phân xử các trường hợp tranh chấp lãnh thổ, để chứng minh hay làm cơ sở chứng minh các quyền của quốc gia đối với lãnh thổ tranh chấp. Vì vậy nghiên cứu về các nguyên tắc thiết lập chủ quyền lãnh thổ, các phương thức thụ đắc lãnh thổ vẫn mang tính cấp thiết. Luật pháp quốc tế cho phép bốn cách thức thụ đắc lãnh thổ chính: (1) chuyển nhượng, (2) sự hình thành lãnh thổ mới, (3) chiếm hữu, và (4) chiếm hữu theo thời hiệu. Trước đây, luật pháp quốc tế còn cho phép cách thức thứ năm là (5) sử dụng vũ lực/xâm lược. 

1.2 PHƯƠNG THỨC THỤ ĐẮC LÃNH THỔ BẰNG CHIẾM HỮU (OCCUPATION) 

1.2.1 Định nghĩa: 

Phương thức thụ đắc bằng chiếm hữu là hành động của một quốc gia thiết lập và thực hiện quyền lực của mình trên một lãnh thổ vốn chưa thuộc chủ quyền của bất kỳ một quốc gia nào khác hoặc một vùng lãnh thổ vốn đã có chủ sau đó bị bỏ rơi và trở lại trạng thái vô chủ ban đầu. 

Chiếm hữu được đề cập đến trong định nghĩa này không phải là sự chiếm đóng trong chiến tranh hay chiếm đóng quân sự trong thời bình vì cả 2 hành động chiếm đóng đó đều không đem lại sự thụ đắc lãnh thổ do đối tượng chiếm đóng là lãnh thổ của quốc gia khác. Còn “chiếm hữu” trong định nghĩa trên có đối tượng là một lãnh thổ vô chủ hoặc có địa vị pháp lý như lãnh thổ vô chủ như vùng đất đã bị người chủ bỏ rơi không thuộc chủ quyền của bất cứ quốc gia nào. 

1.2.2 Chủ thể thụ đắc lãnh thổ bằng chiếm hữu: 

Việc chiếm hữu lãnh thổ phải là hành động nhân danh quốc gia, được quốc gia uỷ quyền, không phải là hành động của tư nhân. Quyền phát hiện cũng như chiếm hữu là một sự đòi hỏi đồng thời hai điều kiện: Corpus (yếu tố vật chất) và animus (yếu tố tinh thần) và chúng phải được thực hiện bởi nhà nước. rong vài trường hợp, khi cả hai bên tranh chấp lãnh thổ đều không có bằng chứng về việc thực hiện chủ quyền thì vai trò hoạt động của các cá nhân cũng có giá trị nhất định mặc dù cá nhân không có quyền hạn đích thực trong việc xác lập chủ quyền lãnh thổ. 

1.2.3. Đối tượng của phương thức thụ đắc lãnh thổ bằng chiếm hữu:

Như đã được nêu trong định nghĩa, đối tượng của phương thức thụ đắc lãnh thổ bằng chiếm hữu là lãnh thổ vô chủ (Terra Nullius) hoặc lãnh thổ bị bỏ rơi (Terra derelict ta) không thuộc chủ quyền của bất cứ quốc gia nào.

Một trong những nội dung của phương thức thụ đắc lãnh thổ bằng chiếm hữu phải là những lãnh thổ vô chủ, không nằm trong hệ thống địa lý, chính trị – hành chính của bất kỳ quốc gia nào. Nội dung này cũng là yêu cầu của các hình thức chiếm hữu bằng sắc lệnh của đức Giáo hoàng, chiếm hữu bằng cách phát hiện, chiếm hữu tượng trưng đã từng có trong lịch sử. 

Lãnh thổ vô chủ (terra nullius) là lãnh thổ chưa từng đặt dưới sự quản trị của quốc gia nhất định nào. Nói một cách khác, lãnh thổ đó chưa có một tổ chức quốc gia, có thể có cư dân sống trong vùng lãnh thổ đó nhưng chưa có một tổ chức nhà nước nào trên đó. Sự chiếm hữu lãnh thổ vô chủ là một hình thức thụ đắc hợp pháp. Trong luật pháp và thực tiễn quốc tế, khái niệm “lãnh thổ bị bỏ rơi” là vùng lãnh thổ trước kia đã từng được chiếm hữu và trở thành lãnh thổ của một quốc gia, nhưng sau đó quốc gia chiếm hữu tự từ bỏ chủ quyền của mình đối với vùng lãnh thổ này. Đa số các luật gia quốc tế cũng cho rằng muốn kết luận một vùng lãnh thổ bị bỏ rơi cần hội tụ đủ hai yếu tố: 

– Quốc gia chiếm hữu đã chấm dứt trên thực tế mọi hoạt động mang tính quyền lực Nhà nước đối với lãnh thổ; 

– Quốc gia chiếm hữu không có biểu hiện muốn khôi phục lại chủ quyền đối với lãnh thổ đó. 

Ngày nay, các luật gia tiến bộ đều cho rằng việc giành chủ quyền trên một lãnh thổ có cư dân phải dựa trên nguyên tắc quyền dân tộc tự quyết, một nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế hiện đại. Theo nguyên tắc này, mọi sự thay đổi lãnh thổ và tất cả hình thức giành chủ quyền đều phải dựa trên ý chí của cư dân sinh sống trên lãnh thổ đó, bởi lẽ: Sự phù hợp giữa quyền tối cao về lãnh thổ với ý chí chủ quyền của nhân dân là cơ sở pháp lý cao nhất để giải quyết tranh chấp những lãnh thổ đã được chiếm hữu từ lâu. 

1.2.4. Quá trình hình thành và phát triển của phương thức thụ đắc lãnh thổ bằng chiếm hữu. 

a. Trước thế kỷ XV: 

Vấn đề tranh chấp lãnh thổ thường chỉ diễn ra theo quy luật mạnh được yếu thua. Đó là thời kỳ mà trên những vùng đất vô chủ (Terra nullius) sự phát kiến dẫn tới sự thụ đắc lãnh thổ. Thời gian này, vấn đề tranh chấp lãnh thổ thường chỉ diễn ra trong từng khu vực, và chưa xuất hiện những nguyên tắc pháp luật về xác lập chủ quyền lãnh thổ được thừa nhận rộng rãi. 

b. Thời kỳ thế kỷ XV và đầu thế kỷ XVI : 

Thế kỷ XV được mệnh danh là thời kỳ của những phát kiến địa lý vĩ đại (mở đầu là sự kiện Crixtop Colomb – 1492 tìm ra Châu Mỹ). Các phát kiến đó đã tạo nên điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các quốc gia phát kiến dẫn tới việc thiết lập chủ quyền trên những vùng lãnh thổ mới được phát hiện. Hình thức thiết lập chủ quyền lãnh thổ bằng chiếm hữu đã hình thành và phát triển cùng với sự bắt đầu bành trướng của Châu Âu ra các châu lục khác. Do sự phát triển giao lưu thương mại và những tiến bộ về hàng hải đã dẫn tới sự hình thành các cường quốc hàng hải. Các cường quốc này bành trướng như vũ bão trên biển. Trước hết phải kể đến Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha đã đi tiên phong trong việc phát hiện ra những vùng đất mới. 

Trong thế kỷ XV và đầu thế kỷ XVI, chủ quyền đối với lãnh thổ mới “phát hiện” được xác định theo các sắc lệnh của Giáo hoàng Alexander VI về phân chia các vùng lãnh thổ mới “phát hiện” ngoài Châu Âu giữa hai quốc gia đứng đầu hai dòng đạo Thiên chúa là Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha. Theo sắc lệnh này, tất cả các vùng lãnh thổ bao gồm “tất cả các đảo và đất liền đã tìm thấy và sẽ tìm thấy, đã phát hiện và sẽ phát hiện” ở phía Đông một đường tưởng tượng chạy từ địa cực này sang địa cực khác qua phía Tây đảo Cap Vert 100 liên là thuộc Bồ Đào Nha, còn các vùng lãnh thổ ở phía Tây là thuộc Tây Ban Nha. Theo Hiệp ước Tordesillas do Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha trực tiếp thương lượng và ký kết với nhau ngày 7/6/1494 và được Giáo Hoàng Jules II xác nhận năm 1506 thì con đường tưởng tượng đó được dịch về phía Tây thêm 370 liên13 

c. Thời kỳ thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ XIX: Thời kỳ phát hiện và chiếm hữu tượng trưng. 

Từ thế kỷ XVI, các nước đã phải tìm ra những nguyên tắc về thiết lập chủ quyền trên những vùng lãnh thổ mà họ “phát hiện”. Thuyết “quyền ưu tiên chiếm hữu” dành cho quốc gia đã phát hiện ra vùng lãnh thổ đó đầu tiên, gọi tắt là thuyết quyền phát hiện. 

Thời kỳ “Chiếm hữu tượng trưng”: 

Trên thực tế, việc phát hiện chưa bao giờ tự nó đem lại cho quốc gia phát hiện chủ quyền lãnh thổ vì rất khó xác định thế nào là phát hiện, xác nhận việc phát hiện và xác định giá trị pháp lý của việc phát hiện ra một vùng lãnh thổ mới. Sau đó các luật gia đã vận dụng quyền sở hữu tài sản trong luật cổ La Mã vào lĩnh vực chủ quyền, vì vậy, việc phát hiện đã mau chóng được bổ sung bằng việc chiếm hữu trên danh nghĩa, nghĩa là quốc gia phát hiện ra một vùng lãnh thổ phải để lại dấu vết của mình trên vùng lãnh thổ mà họ phát hiện, ví dụ như phải đặt một bia chủ quyền, một mốc chủ quyền hoặc một dấu hiệu quốc gia có giá trị tượng trưng hoặc có thể thực hiện nghi lễ tượng trưng, thông báo cho các quốc gia khác biết thì mới có chủ quyền lãnh thổ. Thời kỳ này luật quốc tế công nhận các hành vi tượng trưng của việc sáp nhập lãnh thổ do quốc gia phát hiện ra thực hiện như là danh nghĩa nguyên thuỷ của việc chiếm hữu. Thuyết này là thuyết quyền chiếm hữu tượng trưng được áp dụng từ thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ XIX. 

d. Thời kỳ sau Hội nghị Berlin (1885) – Thời kỳ “chiếm hữu thật sự 

Các luật gia ngày càng nhận thức rõ ràng việc phát hiện, kể cả việc phát hiện có để lại dấu vết trên một vùng lãnh thổ chỉ đem lại cho quốc gia phát hiện một danh nghĩa phôi thai, tạm thời, chưa hoàn chỉnh. Danh nghĩa “phôi thai” này, về bản chất chưa được hoàn thiện, cuối cùng sẽ biến mất trừ trường hợp nó được hoàn thiện sau đó bởi sự chiếm hữu và quản lý hành chính thật sự lãnh thổ được phát hiện trong một khoảng thời gian hợp lý. Chủ quyền muốn được xác lập và được công nhận thì phải là thật sự có hiệu quả tức là đòi hỏi sự có mặt thực tế của quốc gia chiếm hữu trên vùng lãnh thổ đó. 

Quan điểm này ngày càng chiếm ưu thế và sau Hội nghị Berlin về Châu Phi năm 1885 của 13 nước Châu Âu và Hoa Kỳ, sau khoá họp của Viện Pháp luật quốc tế ở Lausanne năm 1888 thì trở thành một trong những nguyên tắc của luật pháp quốc tế gọi là nguyên tắc chiếm hữu thật sự. 

Định ước Berlin ký ngày 26/2/1885 xác định nội dung của nguyên tắc chiếm hữu thật sự và quy định “các điều kiện chủ yếu phải đáp ứng khiến cho những hành động chiếm hữu mới ở vùng duyên hải lục địa châu Phi được coi là thật sự”. Theo đó, việc chiếm hữu là thực sự nếu thỏa mãn hai điều kiện: 

– Việc chiếm hữu chủ quyền lãnh thổ mới của bất kỳ quốc gia nào ở Châu Phi cũng phải được thông báo cho các nước tham gia hội nghị. 

– Các nước chiếm hữu phải đảm bảo có sự hiện diện của tổ chức chính quyền tại chỗ để thi hành pháp luật và có thể khi cần thiết bảo đảm các quyền lợi về tự do buôn bán, tự do quá cảnh trong các điều kiện được quy định. 

(Điều 34 và 35 của Định ước Berlin ký ngày 26/2/1885) 

Định ước Berlin, tuy chỉ giải quyết vấn đề Châu Phi, và chỉ ràng buộc 14 quốc gia tham gia ký kết. Nhưng hai điều trên đã được luật pháp quốc tế chấp nhận làm cơ sở cho việc công nhận chủ quyền quốc gia trên một lãnh thổ nhất định. Nghĩa là: 

– Có sự thông báo về việc chiếm hữu cho các nước ký Định ước. 

– Phải “duy trì trên những vùng lãnh thổ mà họ chiếm hữu sự tồn tại của một quyền lực đủ để khiến cho các quyền mà mình đã giành được được tôn trọng…”. 

Sau đó, với sự phát triển của Luật pháp quốc tế, nguyên tắc thật sự nói trong Định ước Berlin, vốn chỉ có giá trị đối với các vùng duyên hải lục địa Châu Phi và chỉ có giá trị đối với các quốc gia ký Định ước hoặc sau đó tham gia Định ước, trở thành một nguyên tắc có giá trị phổ biến của luật pháp quốc tế, có thể áp dụng cho mọi vùng lãnh thổ. 

Trong điều kiện toàn bộ lãnh thổ thế giới được phân chia xong giữa các nước đế quốc chủ nghĩa, Công ước Saint Germain ngày 10/9/1919 tuyên bố huỷ bỏ Định ước Berlin năm 1885 với lý do là trên thế giới không còn có vùng lãnh thổ vô chủ nữa, từ nay Định ước không còn ràng buộc các quốc gia thành viên của Công ước Saint Germain nữa. Tuy vậy, ngay trong Công ước Saint Germain vẫn có Điều 10 còn mang dấu ấn rõ rệt của Định ước Berlin năm 1885: “các cường quốc ký kết công ước thừa nhận nghĩa vụ phải duy trì trong những vùng thuộc quyền mình sự tồn tại của một quyền lực và các phương tiện cảnh sát để đảm bảo việc bảo vệ người và tài sản trong trường hợp cần thiết, việc tự do buôn bán và quá cảnh”

Như vậy là trên văn kiện chính thức thì nguyên tắc thật sự không còn giá trị nữa. Việc đặt ra và huỷ bỏ các nguyên tắc thật sự đều do các cường quốc đế quốc thông qua xuất phát từ những quyền lợi riêng của các nước đế quốc trong việc tranh giành các lãnh thổ vô chủ hoặc lạc hậu. Nhưng so tính hợp lý của nguyên tắc đó mà sau khi có Công ước Saint Germain, các luật gia trên thế giới vẫn vận dụng nó trong lĩnh vực học thuật cũng như khi giải quyết các vụ tranh chấp chủ quyền lãnh thổ trong đó có rất nhiều vụ tranh chấp chủ quyền trên các hải đảo. 

Mặc dù Định ước Berlin chỉ có một giá trị tương đối về thời gian và không gian: nó chỉ liên quan đến bờ biển Châu Phi vì đó là mục đích Hội nghị, và mặt khác, nó lại bị điều I của Công ước Saint Germain (10/9/1919) huỷ bỏ. Nhưng trên những nét lớn, nguyên tắc thật sự được thể hiện trong Định ước vẫn có thể áp dụng vào tất cả các vùng lãnh thổ vô chủ và cho phép rút ra một số yếu tố về giải pháp cho vụ quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. 

Có thể nhận xét khái quát quá trình phát triển của luật pháp quốc tế về xác lập chủ quyền lãnh thổ bằng phương thức chiếm hữu như sau: 

Sự khám phá ở thế kỷ XV được tiếp theo bằng sự khẳng định công khai về chủ quyền vào thế kỷ XVIII, đã cung cấp một danh nghĩa sơ khai và đến thế kỷ XIX, đã được hoàn chỉnh bằng việc chiếm hữu thật sự. 

2. Nguyên tắc chiếm hữu thực sự trong luật quốc tế: 

Nguyên tắc thật sự ra đời với Định ước Berlin năm 1885. Từ đó đã được áp dụng để giải quyết nhiều vụ tranh chấp quốc tế về chủ quyền lãnh thổ, như các vụ: đảo Palmas năm 1928 giữa Hoa Kỳ và Hà Lan (1928); Vụ đảo Clipperton giữa Mexico và Pháp (1931), vụ Đông Greenland (1933) giữa Na Uy và Đan Mạch, vụ Minquiers và Ecréhous (1953) giữa Anh và Pháp. 

Charles Rousseau, giáo viên trường Đại học Luật Paris, uỷ viên Viện pháp luật quốc tế viết: “nguyên tắc thật sự chủ yếu được dùng để chứng minh một trật tự đã được thiết lập. Được tập quán trọng tài thừa nhận trước năm 1885” “được khẳng định lại trong luật pháp quốc tế cả trong lĩnh vực trọng tài cũng như lĩnh vực xét xử”, “nguyên tắc thật sự cũng được luật pháp quốc tế chấp nhận như một yếu tố chủ yếu của chủ quyền mà người ta yêu sách đối với các lãnh thổ vô chủ”14 

Qua thực tiễn quốc tế giải quyết tranh chấp lãnh thổ, và các công trình nghiên cứu bổ sung của nhiều luật gia có thể rút ra nội dung chính của nguyên tắc thật sự là: 

– Chủ thể của việc thiết lập chủ quyền trên một vùng lãnh thổ phải là một quốc gia. Một cá nhân không có quyền thiết lập chủ quyền trên một vùng lãnh thổ, dù cho vùng lãnh thổ đó vô chủ vì cá nhân không phải là chủ thể của luật quốc tế, không thể có chủ quyền, không có thẩm quyền về mặt quan hệ quốc tế là quan hệ giữa các quốc gia. 

– Sự chiếm hữu phải được tiến hành một cách hoà bình trên một vùng lãnh thổ thật sự là vô chủ hoặc đã được người chủ chủ động bỏ rơi hoặc mặc nhiên từ bỏ. 

– Quốc gia chiếm hữu phải thực hiện trên thực tế các hành động chủ quyền ở mức độ tối thiểu phù hợp với các điều kiện tự nhiên và dân cư trên vùng lãnh thổ đó. 

– Tính liên tục của sự thực hiện các hành động chủ quyền trên vùng lãnh thổ đó. – Không có sự phản đối của nước khác. 

Bên cạnh đó, sự Xác lập chủ quyền lãnh thổ bằng chiếm hữu chỉ có giá trị pháp lý khi nó đáp ứng những điều kiện cơ bản sau đây: 

Vùng đất, đảo bị chiếm hữu phải là một lãnh thổ vô chủ, không nằm hoặc không còn nằm trong hệ thống địa lý hành chính của một quốc gia nào. 

Vùng đất, đảo đó có thể có hoặc không có người ở. Nhưng khái niệm vô chủ có nghĩa là vùng đất, đảo có không nằm trong hệ thống địa lý hành chính của bất cứ nước nào, hoặc tuy đã từng thuộc về một quốc gia nhưng quốc gia này đã từ bỏ vả không có ý định tiếp tục thực hiện chủ quyền của mình ở đó. Vùng đất, đảo như thế được coi là vô chủ và có thể trở thành đối tượng chiếm hữu của bất kỳ quốc gia nào.

Ví dụ như, đảo Saint Martin ở gần Guadeloupe thuộc Trung Mỹ do Tây Ban Nha chiếm hữu từ giữa thế kỷ XVII . Nhưng vì không có khả năng tổ chức quản lý, họ đã quyết định từ bỏ quyền chiếm hữu đảo, rút khỏi đảo sau khi đã phá hủy mọi thiết bị và công trình xây dựng. Đảo lại trở thành vô chủ. Người Pháp, người Hà Lan cùng một lúc đến chiếm đảo và tuyên bố thiết lập chủ quyền của nước họ. Cuộc tranh chấp đã được giải quyết như sau: nửa đảo nơi người Pháp đã đổ bộ lên thuộc chủ quyền của Pháp, còn nửa kia thuộc về Hà Lan. 

Qua thực tiễn trên ta thấy, việc phát hiện ra một vùng đất, đảo có thể giữ vai trò quan trọng đối với việc chiếm hữu vùng đất đảo đó nếu nó là vô chủ, nhưng sẽ chẳng có ý nghĩa gì nếu nó đã được một quốc gia khác chiếm hữu. Mặt khác, nguyên tắc chiếm hữu thực sự đòi hỏi phải có sự kiểm soát và quản lý trên thực tế vùng lãnh thổ đã chiếm hữu. Vì vậy, phát hiện ra một vùng đất mới mới chỉ là mầm mống của quyền đối với vùng đất đó, và quyền có tính chất mầm mống ấy có thể mất đi nếu nó không được củng cố bằng những hành động tích cực khác để thiết lập sự chiếm hữu thực sự. Tuy nhiên, yếu tố phát hiện trong quá khứ vẫn có thể được sử dụng khi cần thiết phải chứng minh nguồn gốc của việc thiết lập chủ quyền. 

Việc chiếm hữu phải là hành động của nhà nước 

Việc chiếm hữu một vùng lãnh thổ phải là một hành động có tính chất nhà nước, nghĩa là được thực hiện bởi những viên chức đại diện cho nhà nước hoặc những người được nhà nước ủy quyền, thì mới có giá trị pháp lý. Hành động của những người mang tư cách cá nhân, hoặc của những tập thể, tổ chức tư nhân đều không có giá trị pháp lý để xác định chủ quyền lãnh thổ. Tuy nhiên trong một số trường hợp, các hành động của tư nhân với danh nghĩa công dân của một quốc gia, dù chưa được nhà nước đó chứng nhận, cũng có thể có một ý nghĩa nhất định. Như khi giải quyết tranh chấp lãnh thổ, những hành động này sẽ là chứng cứ có lợi cho một quốc gia nếu phía bên kia không có một hành động có ý nghĩa pháp lý nào được thực hiện. 

Việc chiếm hữu phải là thực sự, rõ ràng. 

Trước đây, một số luật gia cho rằng, để thiết lập sự quản lý và kiểm soát một vùng lãnh thổ thì không thể thiếu việc tổ chức dân cư. Ngày nay, với những vùng lãnh thổ không có dân cư việc kiểm soát có thể được tiến hành bằng các phương tiện kỹ thuật, do đó việc tổ chức dân cư không còn là biện pháp duy nhất. Luật pháp quốc tế đòi hỏi việc thực hiện các chức năng nhà nước trên vùng lãnh thổ chiếm hữu phải mang tính liên tục, bởi vì việc đình chỉ một hoạt động như vậy trong một khoảng thời gian tương đối dài mà không khôi phục lại nó có thể được hiểu là sự từ bỏ vùng lãnh thổ này và không có ý định tiếp tục thực hiện chủ quyền ở đó. Tuy nhiên, yêu cầu thực hiện các chức năng nhà nước một cách thường xuyên, liên tục không có nghĩa là phải có tính định kỳ thật đều đặn. Như vậy đối với những vùng lãnh thổ khó đi đến, tính liên tục của việc thực hiện chủ quyền không có ý nghĩa tuyệt đối mà phụ thuộc vào mức độ cần thiết và khả năng đi đến vùng lãnh thổ đã chiếm hữu đó. 

Tính hòa bình của sự chiếm hữu, việc chiếm hữu phải được dư luận đương thời chấp nhận: 

Yêu cầu về tính hòa bình của sự chiếm hữu có nghĩa là sự chiếm hữu không được là sự tước đoạt quyền của một quốc gia khác bằng vũ lực hay bằng hoạt động lén lút, việc chiếm hữu phải công khai và được dư luận đương thời chấp nhận. 

Ngày nay, người ta thường dùng hình thức tuyên bố hoặc thông báo bằng các phương tiện thông tin đại chúng để công khai hóa các sự kiện. Nhưng đối với các sự kiện xảy ra trong quá khứ khi quan hệ quốc tế chưa phát triển rộng rãi, việc công khai hóa các sự kiện chỉ bằng hình thức gián tiếp hoặc tay đôi, thì khi xem xét việc một nước đã chiếm hữu và thực hiện chủ quyền đối với một vùng lãnh thổ, người ta chỉ chú ý đến việc lãnh thổ này trước đó đã thuộc chủ quyền của một nước nào chưa? Sự chiếm hữu ấy có bị nước nào chống lại không và dư luận đương thời đã chấp nhận hay phủ nhận chủ quyền đối với vùng đất ấy?. Trên cơ sở đó, đánh giá cơ sở pháp lý của chủ quyền nước đó đối với vùng lãnh thổ. 

Một số luận cứ khác cũng được đưa ra để biện minh quyền chiếm hữu đối với một vùng đất, nhưng đã bị luật pháp và tập quán quốc tế cũng như thực tế lịch sử bác bỏ. 

Trước khi nguyên tắc chiếm hữu thực sự có vị trí vững chắc trong luật pháp quốc tế, có lúc các nguyên tắc kế cận địa lý và liên tục lãnh thổ đã được đưa ra để vận dụng. 

Việc xác định chủ quyền lãnh thổ theo nguyên tắc kế cận địa lý hoặc liên tục lãnh thổ vì không có ranh giới rõ ràng nên đã làm nảy sinh nhiều tranh chấp. Đến khi sự kiểm soát của các quốc gia đối với lãnh thổ của mình được tăng cường, chủ quyền lãnh thổ được xác định trên những vùng lãnh thổ có đường biên giới quốc gia được định hình rõ ràng thì nguyên tắc kế cận địa lý và liên tục lãnh thổ đã bị bác bỏ và nhường chỗ cho nguyên tắc chiếm hữu thực sự. 

Công ước về Luật Biển của Liên hợp quốc năm 1982 đã thừa nhận các quyền thuộc chủ quyền của nước ven biển đối với thềm lục địa là phần kéo dài tự nhiên của đất liền của nước đó ra biển, như thế có nghĩa là Công ước đã chấp nhận nguyên tắc liên tục của lãnh thổ. Tất nhiên, sự liên tục lãnh thổ là nguồn gốc của những lợi ích kinh tế, chính trị, chiến lược và các lợi ích khác của quốc gia có thể dẫn tới việc quốc gia thiết lập chủ quyền đối với vùng lãnh thổ đó phù hợp với luật pháp quốc tế. Tuy nhiên điều này cũng chỉ có giá trị đối với một vùng lãnh thổ ngập nước chưa được luật pháp quốc tế xác định tính chất chủ quyền lãnh thổ tức là còn vô chủ, chứ không thể áp dụng đối với các đảo và vùng lãnh thổ ngập nước đã được luật pháp quốc tế xác định tính chất chủ quyền lãnh thổ từ lâu. 

Chủ quyền lãnh thổ được thu hẹp hay mở rộng chỉ phụ thuộc vào sức mạnh. Thực chất đây cũng chỉ là một biến tướng của thuyết “không gian sinh tồn” đã nói ở trên với một cái vỏ khác mà thôi. Đây là một luận điệu vô cùng nguy hiểm, biện hộ cho chiến tranh xâm lược, lắp ngòi nổ cho các cuộc chiến tranh liên miên, đe dọa sự ổn định và hòa bình của khu vực và của thế giới. 

CHƯƠNG III: Áp dụng nguyên tắc chiếm hữu thực sự trong việc xác lập chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam:

Chiếm hữu là cách thức thụ đắc lãnh thổ mà Việt Nam đã hợp pháp thụ đắc đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trong khi Trung Quốc hoàn toàn dửng dưng với quần đảo Hoàng Sa thậm chí đến cuối thế kỷ XIX, và cả Trường Sa, thì Việt Nam có bằng chứng lịch sử cho thấy là quốc gia đầu tiên chiếm hữu hiệu đối với hai quần đảo này từ thế kỷ XVII thông qua hoạt động của đội Hoàng Sa và đội Bắc Hải và các hoạt động thực thi chủ quyền sau này của nhà Nguyễn. 

Căn cứ vào các nội dung của nguyên tắc chiếm hữu thực sự theo Định ước Berlin 1885 và Tuyên bố của Viện Pháp Luật Quốc tế Lausanne năm 1888 cùng với các nguyên tắc trong Nghị quyết 2625 của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, các quy định của Công ước Luật biển năm 1982, áp dụng đối với trường hợp hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, từ đầu thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XIX, theo tập quán pháp lý phương Tây lúc bấy giờ, sự xác lập chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo này là một sự thật thể hiện bằng các hành động cụ thể về sự quản lý, chỉ đạo của các Nhà nước Việt Nam đương thời một cách nhất quán, liên tục, hoà bình phù hợp với pháp lý quốc tế bấy giờ. Sau đó, chủ quyền của Việt Nam tiếp tục được khẳng định dựa trên các cơ sở pháp lý quốc tế có giá trị phổ biến, Hiến chương Liên hiệp quốc và Công ước về Luật Biển 1982 mà các thành viên ký kết đều phải tôn trọng. Các bằng chứng lịch sử mà Việt Nam đã thu thập được rất phong phú, mặc dù do hoàn cảnh chiến tranh liên tục nên nhiều thư tịch cổ của Việt Nam đã bị mất mát, thất lạc. Tuy nhiên, những tư liệu còn lại đến nay và chính sử vẫn đủ để khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. 

Đỉnh cao nhất của việc tuyên bố và xác lập chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là vào năm 1816 khi vua Gia Long sai quân lính ra quần đảo Hoàng Sa cắm cờ Việt Nam và tuyên bố chủ quyền. Không chỉ vậy, các chúa Nguyễn cũng như nhà Nguyễn sau này đều có nhiều hành động liên tục cử người ra cai quản, khai thác các đảo trên cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Nhà nước phong kiến

Việt Nam đã tổ chức các đội Hoàng Sa, Bắc Hải để thực thi quyền chủ quyền và khai thác hai quần đảo. 

Năm 1951, tại Hội nghị San Francisco (Hoa Kỳ), khi có một đề nghị bổ sung bản dự thảo Hòa ước yêu cầu trao trả cho Trung Quốc hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, nhưng Hội nghị đã bác bỏ đề nghị này với số phiếu áp đảo là 46 phiếu thuận, 3 phiếu chống và 1 phiếu trắng. Tại Hội nghị, Ngoại trưởng Trần Văn Hữu dẫn đầu phái đoàn 

Chính phủ Quốc gia Việt Nam đã tuyên bố khẳng định chủ quyền lâu đời của người Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà không gặp sự phản đối hay bảo lưu của nước nào.15 

Dưới ánh sáng của pháp luật quốc tế, đặc biệt là nguyên tắc chiếm hữu thực sự Việt Nam có đầy đủ chứng cứ lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền lâu đời và liên tục của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa – hai quần đảo thiêng liêng của Tổ quốc. 

Sau khi nước Việt Nam được thống nhất, nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã nhiều lần khẳng định chủ quyền Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Năm 1982, Việt Nam đã lập huyện Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng nay trực thuộc thành phố Đà Nẵng (từ năm 1996) và huyện Trường Sa thuộc tỉnh Phú Khánh nay thuộc Khánh Hòa (từ năm 1989). Thực tiễn pháp lý đã khẳng định nguyên tắc chiếm hữu thực sự là một trong những nguyên tắc rất nền tảng trong vấn đề xác lập chủ quyền lãnh thổ. Đối với Việt Nam cũng như các nước khác trong khu vực Biển Đông, đối diện với một thực tế tranh chấp lãnh thổ trong vùng biển này, việc căn cứ vào các quy định trong các văn bản pháp lý quốc tế cũng như những nguyên tắc cơ bản về chủ quyền lãnh thổ, như nguyên tắc chiếm hữu thực sự là hết sức cần thiết nhằm bảo đảm xác định chủ quyền một cách hợp pháp, đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của các quốc gia liên quan, góp phần giữ gìn hòa bình, an ninh khu vực và trên thế giới.

Sự khác biệt và tương đồng điển hình trong đào tạo Luật ở Anh và Mỹ

Sự khác biệt và tương đồng điển hình trong đào tạo pháp Luật ở Anh và Mỹ.

Common law – một trong hai dòng họ pháp luật lớn nhất trên thế giới được bắt nguồn và áp dụng trên lãnh thổ Anh, sau đó xuất hiện tại Mỹ qua con đường bành trướng thuộc địa. Tuy nhiên, do đặc trưng là quốc gia đa tôn giáo, sắc tộc, văn hóa; cơ cấu lãnh thổ được chia thành nhiều tiểu bang khiến Mỹ đã và đang có sự phát triển hệ thống pháp luật mang bản sắc của riêng mình. 

Đào tạo luật là một thành tố quan trọng trong sự phát triển hệ thống pháp luật cũng như phổ biến, giáo dục pháp luật tại mỗi quốc gia. Điều đó đồng nghĩa với nhu cầu tìm hiểu và so sánh đào tạo luật giữa các hệ thống pháp luật rất lớn và cần thiết không chỉ với nhà lập pháp, nghiên cứu pháp luật mà còn với luật sư, học sinh, sinh viên… 

Về mục tiêu, nhằm tìm hiểu các nét tương đồng và khác biệt có tính đặc trưng về đào tạo luật ở Anh và Mỹ, bài tiểu luận sẽ khái quát chung về đào tạo luật ở Anh và Mỹ, từ đó có cơ sở nhằm nêu bật những điểm tương đồng và khác biệt đặc trưng trong đào tạo luật tại hai quốc gia này trước khi trình bày các kết luận của nhóm tác giả. 

Về phương pháp nghiên cứu, để đạt được mục tiêu đề ra, nhóm tác giả sử dụng phương pháp so sánh, phân tích, đánh giá, đi từ tổng quan tới chi tiết nhằm nêu bật những đặc điểm mang tính đặc trưng cần tìm.

1. Khái quát về đào tạo luật ở Anh và Mỹ 

1.1.Đào tạo luật tại Anh

Ở Anh, đào tạo luật phân tách rõ giữa các giai đoạn học thuật, dạy nghề và đào tạo chuyển tiếp. Nghề luật sư được phân biệt cụ thể theo hướng tư vấn và tranh tụng tụng đã ảnh hưởng trực tiếp mục tiêu, phương pháp, chương trình đào tạo luật. Trong khi đó, việc đào tạo thẩm phán tiến hành thông qua khóa học chính quy để đào tạo ra các thẩm phán mới và thông qua các khóa học bổ túc để phát triển kĩ năng nghề nghiệp và kiến thức cho các thẩm phán đang hành nghề. Thông thường, con đường trở thành thẩm phán phải xuất phát từ luật sư tranh tụng. 

Đào tạo cử nhân luật ở Anh được nhìn nhận có phần nhẹ hơn so với nhiều nước khác ở Châu Âu. Đào tạo cử nhân luật là quá trình đào tạo ở bậc đại học do các khoa luật của các trường đại học thực nhiệm; còn đào tạo nghề diễn ra ở bậc sau đại học và thuộc chức năng của cơ sở đào tạo được cấp phép bởi Đoàn luật sư và bởi Hội luật gia.

1.2.Đào tạo luật tại Mỹ 

Ở Mỹ, điều kiện tiên quyết là người học luật đã hoàn thành một chương trình cử nhân do đào tạo luật là đào tạo sau đại học. Yêu cầu trên nhằm tạo nền tảng để tiếp thu các kiến thức pháp lý trong từng chuyên ngành hẹp. Ví dụ, người muốn hành nghề luật sư trong lĩnh vực kinh doanh thường có bằng cử nhân về thương mại hoặc quản trị kinh doanh. 

Sau khi hoàn thành chương trình J.D, người học phải vượt qua kỳ thi do đoàn luật sư của mỗi bang tổ chức để có thể hành nghề luật. Nhìn chung, đào tạo luật ở Mỹ đòi hỏi người học phải có vốn kiến thức tương đối trên nhiều lĩnh vực trước khi nghiên cứu chuyên sâu pháp luật. Những quy định khắt khe về đào tạo luật đã tạo ra những thế hệ thẩm phán, luật sư có trình độ năng lực cao, tham gia và đóng góp quan trọng trong đời sống xã hội Hoa Kỳ nói riêng và thế giới nói chung. 

2. Điểm tương đồng đặc trưng trong đào tạo luật ở Anh và Mỹ

2.1.Vai trò quan trọng của án lệ trong đào tạo luật

Là một trong những thành tố tiêu biểu của Common law, án lệ là nguồn luật được ưu tiên áp dụng và bị chi phối ít nhiều bởi học thuyết tiền lệ pháp. Từ đó, giảng dạy luật thông qua các nghiên cứu án lệ là một đặc trưng trong đào tạo luật tại hai quốc gia này. Tại Anh, đặc biệt trong giai đoạn đào tạo cử nhân, nghiên cứu án lệ được xem như một phần không thể thiếu ở các trường luật. Giai đoạn sau đại học, việc giảng dạy theo vụ việc diễn ra theo một hình thức khác, thiết thực hơn qua vụ việc giả định, phiên tòa giả định, buổi tham vấn hoặc đàm phán. Cuối cùng, trong thời gian đào tạo thực hành, học viên sẽ bắt đầu làm việc trên các vụ việc thực tế và được giám sát của các luật sư giàu kinh nghiệm. Sự tồn tại của giai đoạn đào tạo khác biệt này chứng minh một cá nhân ngay cả khi đã hoàn thành cử nhân cần phải tiếp tục tiếp cận, nghiên cứu và thật sự hiểu các vụ việc thực tế.2 Còn ở Mỹ, giảng dạy theo án lệ đã trở thành nền tảng trong đào tạo luật. “Phương pháp vụ việc” do Christopher Columbus Langdell sáng tạo và tiên phong áp dụng khi làm Hiệu trưởng Trường Luật Harvard vào cuối thế kỉ 19 được mô tả là “phương pháp sư phạm đặc trưng” trong các trường luật Hoa Kỳ3, tiếp tục được duy trì và hoàn thiện đến ngày nay. 

2.2.Tuyển sinh đầu vào 

Đào tạo luật có uy tín và vị trí quan trọng trong giáo dục ở Anh và Mỹ khi góp tạo ra nhiều thế hệ chính trị gia, lãnh đạo của công ty, tập đoàn hàng đầu, các luật sư nổi tiếng toàn cầu nhờ quy trình tuyển chọn học viên vô cùng khắt khe, gồm những cá nhân ưu tú và xuất sắc. Ở Mỹ, các khoa luật đều đặt ra tiêu chuẩn khá cao, nhiều trường hợp chỉ chọn được một sinh viên trong số năm hoặc mười người dự tuyển.4 Thông thường, điểm GPA đầu vào trung bình các trường luật nổi tiếng như Yale, Harvard, UC Berkeley phải đạt mức xuất sắc (từ 3.6 trở lên). Bên cạnh đó, kỳ thi chuẩn hóa LSAT về các kỹ năng về lập luận, phân tích logic, viết luận được sử dụng nhằm tìm kiếm những học viên có năng lực, tiềm năng nhất. 

Ở Anh, dù đào tạo luật được thực hiện ngay sau khi tốt nghiệp phổ thông nhưng yêu cầu đầu vào vẫn rất cao và khắt khe. “Kỳ thi Năng khiếu Quốc gia về Luật” (LNAT) được tổ chức nhằm đánh giá kiến thức cũng như khả năng lập luận, đánh giá, kết luận của ứng viên. Nhờ đó, các trường luật sẽ tìm kiếm được những người có năng lực và phù hợp nhất để tham gia học luật. 

2.3.Chi phí và thời gian đào tạo 

Điểm tương đồng đào tạo luật tại Anh và Mỹ không chỉ đặc trưng bởi những yếu tố học thuật mà còn bởi chi phí tốn kém. Dù có học bổng hoặc các khoản vay từ Hội đồng Hỗ trợ của các cơ sở đào tạo nhưng gánh nặng về chi phí vẫn còn rất lớn. Tại Anh, mức học phí tuy có sự khác nhau giữa sinh viên bản địa và sinh viên quốc tế, nhưng trung bình từ 12000-18000 bảng/năm. Con số này ở Hoa Kỳ thậm chí còn lớn hơn, đặc biệt tại các trường luật hàng đầu, con số hàng năm không thấp hơn 50000 USD. Tổng thể, thời gian để một người có đủ khả năng hành nghề luật trung bình từ 06-07 năm, đòi hỏi sự kiên trì, chăm chỉ và năng lực học thuật để đáp ứng lượng kiến thức khổng lồ luật trong thời gian tương đối dài. 

3. Điểm khác biệt đặc trưng trong đào tạo luật ở Anh và Mỹ 

3.1.Lịch sử phát triển và ý tưởng về việc đào tạo luật 

Ở Anh hình thức đào tạo luật trong các trường dòng do các đoàn luật sư tổ chức (Inns of Court) xuất hiện từ thế kỷ 13 thông qua việc học viên quan sát các quy trình tố tụng tại Tòa và các cuộc tranh luận cũng như phiên tòa giả định. Những cơ sở dạy nghề này giúp học viên được học trực tiếp qua thực hành với những luật sư có kinh nghiệm. Đến khi các trường dòng dần mất vị trí (trường dòng xuất hiện và thoái trào từ thế kỉ 13-17), chế độ học nghề (Chế độ học nghề (apprenticeship): Bộ luật Anh 1729 (Act for the Better Regulation of Attorneys and Solicitors) yêu cầu một người phải dành 05 năm tại các văn phòng luật trước khi chính thức hành nghề đã khiến cho chế độ học nghề dần đánh mất vị trí do tính chất nhàm chán, thụ động. Cho đến cuối thế kỉ 18, mô hình đào tạo này cũng đã tồn tại ở Mỹ khi cá nhân có nguyện vọng học luật sẽ liên hệ với một luật sư và làm việc họ. Học viên được hướng dẫn lý thuyết pháp lý và kỹ năng hành nghề để trở thành luật sư) nổi lên thế chỗ. Do vậy, phải mất gần hai thế kỷ (từ giữa thế kỉ 17-19), đào tạo luật tại các trường đại học mới có chỗ đứng (trước đó tại đại học đã giảng dạy về luật La Mã, nhưng Common law không thuộc phạm vi giảng dạy vì sự tồn tại của trường dòng). Chế độ học nghề và trường dòng tuy giờ đây mất vị thế độc tôn nhưng vẫn tồn tại trong tư tưởng người Anh, tác động tới việc ngày nay đào tạo luật tại đại học chủ yếu cung cấp khoa học, tri thức mang tính hàn lâm, còn kỹ năng thực hành được “dành lại” vào giai đoạn sau đại học. 

Còn tại Mỹ, chế độ học nghề đã từng phổ biến khi chế độ thuộc địa tồn tại. Nhưng vào cuối thế kỉ 18, các luật sư độc lập hoặc các nhóm luật sư nhỏ bắt đầu mở các trường luật của họ. Tiếp đó, đầu thế kỉ 19, các trường đại học bắt đầu thuê giáo sư luật và mở các khoa luật. Luật được giảng dạy giống như lịch sử và kinh tế, và nghiên cứu về pháp luật tập trung vào học thuyết và lý thuyết pháp lý. Bắt đầu từ cuối thế kỉ 19 đến đầu thế kỉ 20, ngày càng nhiều người chọn đào tạo luật tại cơ sở đại học. Hiệp hội luật sư Mỹ (ABA) ra đời đã tiếp tục thúc đẩy vị trí đào tạo luật tại đại học và những nghiên cứu của tổ chức này sau này đã góp phần xây dựng mô hình đào tạo luật ba năm phổ biến tại Hoa Kỳ. Thay vì chỉ nghiên cứu, giảng dạy học thuyết và lý thuyết pháp lý, đến cuối những năm 1950, nội dung thực tiễn bắt đầu được tích hợp vào chương trình giảng dạy tại hầu hết các trường luật. Yêu cầu về kỳ thi chuẩn hóa được áp dụng bắt buộc và vẫn duy trì tới nay. 

Có thể thấy, không giống như đào tạo luật tại Anh vốn dựa vào trường dòng qua hàng thế kỷ, lịch sử đào tạo luật tại Hoa Kỳ tuy ‘trẻ hơn’ nhưng phát triển rất nhanh chóng. Điều này dẫn tới tại Anh khi mô hình đào tạo luật bậc đại học xuất hiện không hoàn toàn triệt tiêu mô hình đào tạo cũ qua việc trường dòng vẫn tồn tại tới tận ngày nay. Trong khi ở Mỹ đã hình thành mô hình đào tạo luật riêng, khác biệt cơ bản với ở Anh. 

3.2.Mục tiêu đào tạo 

Tại Anh, đào tạo luật hướng tới hai cấp độ mục tiêu: (1) trang bị kiến thức khoa học pháp lý (academic) cho người học, họ sẽ được cấp bằng cử nhân luật sau khi kết thúc khóa học; (2) dạy nghề, với mục tiêu này người học sẽ được cấp chứng chỉ hành nghề luật.6 Như vậy xuất hiện sự phân tách rõ ràng về mục tiêu riêng khi bậc đại học tập trung đào tạo học thuyết và lý thuyết pháp lý, còn kiến thức phục vụ hành nghề luật sẽ được giảng dạy sau khi người học kết thúc bậc cử nhân. Không chỉ vậy, đào tạo luật còn phân biệt giữa đào tạo luật sư tranh tụng và luật sư tư vấn – một đặc trưng cơ bản trong đào tạo luật tại Anh. Đây là hệ quả của việc tồn tại đồng thời luật sư tranh tụng và luật sư tư vấn trong hệ thống pháp luật. 

Trong đào tạo luật ở Mỹ, mô hình đào tạo luật sư tư vấn và tranh tụng không tồn tại như ở Anh mà kết hợp hai mô hình trên vào một. Xu hướng kết hợp giữa đào tạo lý thuyết và đào tạo nghề để trang bị tới học viện đầy đủ kiến thức lẫn kỹ năng, qua đó nhanh chóng tham gia hành nghề luật sau khi tốt nghiệp. Ngoài ra do mỗi bang tại Mỹ có hệ thống pháp luật riêng nên mục tiêu đào tạo luật từng bang có những khác biệt, trong khi tại Anh không có yêu cầu về phạm vi, lãnh thổ như vậy. 

3.3.Tuyển sinh đầu vào 

Tuy cùng có quy trình tuyển chọn khắt khe, nhưng mỗi quốc gia vẫn có đặc trưng riêng. Tại Anh, do đào tạo luật xuất hiện từ bậc cử nhân nên ứng viên phải trải qua “Kỳ thi Năng khiếu Quốc gia về Luật” (LNAT). Bài thi này gồm 2 phần, phần A trả lời các câu hỏi trắc nghiệm; phần B tự luận, ứng viên phải thể hiện khả năng lập luận và kết luận về một loạt các vấn đề có chủ đề khác nhau.7 Nhiều trường luật còn yêu cầu phỏng vấn nhằm tạo điều kiện với ứng viên dù không có điểm số ấn tượng vẫn có cơ hội học luật ở Anh.8 

Tại Mỹ, ứng viên cần hoàn thành chương trình cử nhân trước đó và trải qua “Kỳ thi tuyển sinh trường luật” (LSAT). Bài kiểm tra gồm 5 phần bao gồm trắc nghiệm và tự luận. Đó là Lập luận logic 1&2, Lập luận phân tích, Đọc hiểu theo hình thức trắc nghiệm; và phần Viết luận.9 So số lượng ứng viên hàng năm rất đông, bộ phận tuyển sinh của các trường không phỏng vấn như ở Anh mà họ xem xét các yếu tố khác như điểm GPA đại học, lĩnh vực học đại học hay bài luận, cũng như “động lực, khả năng lãnh đạo, kinh nghiệm làm việc hoặc hoạt động ngoại khóa, nền tảng gia đình, văn hóa và cộng đồng…” của ứng viên để đưa ra quyết định10 nhưng điểm GPA đại học và điểm LSAT vẫn thường được quan tâm chủ yếu. Do đó, ứng viên thường học cử nhân về tiếng Anh, lịch sử hoặc khoa học chính trị để đạt điểm cao nhất có thế. Từ các số liệu thực tế11 chứng minh đầu vào trường luật tại Mỹ mang tính cạnh tranh cực cao, bao gồm việc đặt nặng vấn đề điểm LSAT và GPA có phần cứng nhắc hơn so với yêu cầu ở Anh. 

3.4.Bậc học và thời gian đào tạo 

Tại Anh, quy trình từ bậc học đại học (undergrad) – đào tạo cử nhân luật (có thời gian đào tạo là 03 năm tại trường đại học) đến đào tạo nghề luật – bậc sau đại học (postgrad), trong thời gian đó ứng viên có thể lựa chọn đào tạo luật sư tư vấn (thời gian đào tạo 01 năm và 02 năm thực tập) hoặc luật sư tranh tụng (thời gian đào tạo 01 năm và 01 năm thực tập). Sau thời gian đó mới được xem xét cấp giấy phép hành nghề. Trung bình, thời gian hoàn tất quy trình đào tạo luật này kéo dài từ 05 đến 06 năm. Tại Mỹ, sinh viên luật phải hoàn thành ít nhất một chương trình đại học Những người này khi trúng tuyển sẽ theo học 03 năm tại khoa luật để lấy bằng J.D.12 Do đào tạo nghề lồng ghép trong thời gian bằng đó ứng viên sau khi tốt nghiệp có thể tham gia kỳ thi cấp giấy phép hành nghề luật sư. Như vậy, tổng thế ứng viên phải dành 6-7 năm, gồm trung bình 3-4 năm cử nhân và 3 năm học luật. Điều này dẫn đến độ tuổi trung bình cho tốt nghiệp sinh khoa luật ở Mỹ là 29.13 

3.5.Vấn đề thi cử và bằng cấp 

Ở Anh, sau khi tốt nghiệp đại học, cá nhân có bằng cử nhân luật L.L.B, từ đây họ có thể lựa chọn để trở thành luật sư tư vấn hay luật sư tranh tụng. Tùy thuộc vào quyết định của mình, ứng viên tham gia những khóa học riêng biệt để hành nghề. Để trở thành luật sư tranh tụng, họ phải vượt qua Bar Professional Training Course và tương tự Solicitors Qualifying Examination (SQE)14 nếu muốn trở thành luật sư tư vấn. Sau khi có được chứng chỉ BPTC hoặc SQE và tham dự đủ 12 buổi bắt buộc tại trường dòng (Inns of Court), ứng viên mới được công nhận năng lực tranh tụng (tương tự với luật sư tư vấn). Sau thời gian thực tập mới được Đoàn luật sư/Hội luật gia) cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư tranh tụng/tư vấn. 

Để trở thành luật sư ở Anh, không nhất thiết phải có bằng cử nhân luật. Những trường hợp này có thể là: có bằng đại học ở ngành khác, không có bằng đại học hoặc là sinh viên, luật sư nước ngoài. Họ có thể tham gia các khóa học và bài thi theo từng trường hợp để có đủ tư cách tham gia chế độ học nghề và thực tập sau đại học như một cử nhân luật bình thường tại Anh, ví dụ như những người đã có bằng đại học trái ngành sẽ tham gia khóa học 1 năm để vượt qua kỳ thi sát hạch nghề phổ thông (CPE) hoặc lấy bằng Diploma về luật (GDL), hoặc các luật sư nước ngoài có thể tham gia Chương trình Chuyển giao Luật sư Đủ điều kiện (QLTS)… Khác với ở Mỹ, nơi một tấm bằng về luật là điều kiện bắt buộc nếu muốn hành nghề luật sư.

Ở Mỹ, sinh viên sau khi tốt nghiệp được gọi là – Juris Doctor/Doctor of Jurisprudence (J.D) – bằng học thuật cấp độ đầu tiên của ngành luật. Bằng J.D. là một đặc trưng của đào tạo luật tại Mỹ, do số giờ học để đạt được bằng này nhiều hơn đáng kể với thời gian một người phải học để đạt được bằng cử nhân ở các ngành khác, do vậy nó không còn được gọi là LL.B(Trước những năm 60, các trường luật ở Mỹ vẫn cấp bằng cử nhân LL.B cho các sinh viên tốt nghiệp.16 MBE, MEE hay MPT được đưa ra và gợi ý bởi Hội đồng Quốc gia về Giám định luật sư (NCBE). Hầu hết các bang đều sử dụng các thành phần bài thi này để tạo thành bài kiểm tra bar của mình, nhưng vẫn có các bang tự tạo ra và tổ chức bài thi của riêng mình ví dụ như California và Pennsylvania) và nó và cũng không tương đương bằng cử nhân luật ở các nước khác. Đối với cá nhân được đào tạo luật bên ngoài nước Mỹ phải hoàn thành chương trình thạc sĩ Master of Laws (LL.M) trong 1 năm hoặc theo học 3 năm cho bằng J.D để được tham dự kỳ hành nghề luật sư. Bằng luật cao nhất ở Mỹ là bằng tiến sĩ – Doctor of Juridical Science (J.S.D)/Doctor of Laws (LL.D), với điều kiện đã hoàn thành LL.M. Bằng S.J.D tương đương Ph.D ở châu Âu và các nước khác xong thưởng chỉ là bằng danh dự, không cấp cho nghiên cứu sinh mà chỉ dành cho người có đóng góp lớn cho nền khoa học pháp lý. 

Để trở thành luật sư sau khi tốt nghiệp J.D., ứng viên phải vượt qua kỳ thi kiểm tra năng lực tại tiểu bang nơi đăng ký dự thi. Đây là kỳ thi thách thức để chọn ra những người có năng lực hành nghề thực sự. Kỳ thi gồm ít nhất 2 phần: phần thi khách quan để kiểm tra kiến thức cơ bản trong các vấn đề nền tảng như hợp đồng, tài sản, vi phạm dân sự, luật tố tụng và luật hiến pháp; phần thi viết bài luận về các chủ đề. Trong kỳ thi, các loại bài thi thường được kết hợp sử dụng tùy theo từng bang, bao gồm Bài kiểm tra trắc nghiệm 200 câu (Multistate Bar Examination (MBE)); Bài luận (Multistate Essay Examination (MEE)) và Bài kiểm tra khả năng thực tiễn (Multistate Performance Test (MPT) thực hiện các công việc tiêu chuẩn của một người luật sư như viết memo hoặc tóm tắt.16 

3.6.Chương trình và phương pháp đào tạo 

Ở Mỹ, chương trình đào tạo luật chính quy để trở thành luật sư đơn giản chỉ có chương trình đào tạo cho bằng J.D, còn lại, việc đi thực tập không là một yêu cầu bắt buộc hoặc chương trình ôn tập cho bar exam (được gọi là bar review) cũng chỉ là tùy chọn, miễn là họ thi qua được bar exam. Năm đầu tiên của trường luật là năm học được đánh giá quan trọng nhất cho sự nghiệp một người muốn hành nghề luật sau này, bởi nó có thể quyết định nơi họ sẽ làm việc khi tốt nghiệp. Nguyên nhân cho điều này là vì chương trình phỏng vấn trong khuôn viên trường (OCI) thường diễn ra vào đầu năm thứ hai và tại thời điểm này, nhà tuyển dụng chỉ có thể có được GPA của năm đầu tiên. Đây là một bước được thực hiện khá sớm, cho thấy được môi trường năng động, cạnh tranh cao ở các trường luật Mỹ ngay từ năm học đầu tiên và cũng cho thấy rằng các cá nhân học luật được “săn đón” từ rất sớm kể cả khi họ chưa tốt nghiệp và có bằng J.D. 

Bên cạnh để áp dụng các vụ việc, án lệ vào giảng dạy, phương pháp tình huống “Socratic” do Trường luật Harvard khởi xướng được áp dụng tại hầu hết tất cả các trường luật.17 Đó là quá trình hỏi đáp, tranh luận liên tục giữa giảng viên và sinh viên xung quanh các vụ việc điển hình. Các câu hỏi xoay quanh tình tiết cơ bản, câu hỏi pháp lý, quy định pháp luật, lập luận của nguyên đơn, bị đơn, tòa cũng như bình luận về cách giải quyết của tòa. Các nguyên tắc pháp lý không được trình bày trực tiếp mà được tổng kết từ thảo luận tình huống. Điều này giúp sinh viên không chỉ tiếp xúc với các quy định mà còn làm quen thực tiễn, học hỏi được kỹ năng phân tích, lập luận của các bên và tòa án, nắm được trình tự tố tụng của vụ án, rèn luyện phản xạ nhanh nhạy, tư duy phản biện, phê phán, nhìn nhận vấn đề một cách đa chiều. Điều này rất phù hợp với môi trường pháp luật có sự thay đổi nhanh chóng như tại Mỹ 

Trong khi đó, tại Anh, đào tạo luật chủ yếu dưới dạng bài giảng và hướng dẫn. Giảng viên thường phác thảo vấn đề theo trật tự, giải thích sự phức tạp và cố gắng liên hệ với tình huống thực tế. Sinh viên được khuyến khích tham gia vào buổi thảo luận và diễn án để rèn luyện kĩ năng lập luận rõ ràng và thuyết phục. Trong giai đoạn đào tạo luật bậc cử nhân, sinh viên phải hoàn thành 6 môn học “cốt lõi” bao gồm: Luật Hiến pháp và Hành chính, Luật Hình sự, Hợp đồng, Luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Luật Đất đai và Công bằng, và Luật Tín thác. Tuy án lệ vẫn đóng vai trò trung tâm, nhưng với xu hướng pháp điển hóa mạnh mẽ hiện nay, luật thành văn cũng là một phần quan trọng được đưa vào chương trình đào tạo để nghiên cứu, thảo luận. Đào tạo luật tại bậc đại học tuy không dạy sinh viên tất cả các kỹ năng cần thiết để hành nghề luật nhưng họ vẫn được dạy về kỹ năng và đạo đức hành nghề luật sư.

Đối với đào tạo luật sư tranh tụng, khóa học tại trường dòng (Inns of Court) chủ yếu tập trung việc học quy tắc về bằng chứng, soạn thảo lời biện hộ và hoàn thiện kỹ năng biện hộ. 

Như vậy ở Anh, sinh viên cần nắm vững các quy định pháp luật, các học thuyết pháp lý rồi mới được đào tạo về kỹ năng hành nghề. Điều này dẫn tới khác biệt cơ bản khi tại Mỹ sinh viên được dạy để đủ khả năng tự liên kết, tìm ra quy luật, quy tắc từ những tình huống thực tiễn (và cả giả định), từ đó 02 phần kiến thức lý thuyết và thực hành đều được đào tạo đồng thời mà vẫn đảm bảo chất lượng. 

Trên cơ sở nghiên cứu, so sánh, đánh giá, tiểu luận thu được một số kết quả như sau: 

Thứ nhất, đào tạo luật tại Anh và Mỹ vừa có những tương đồng và khác biệt điển hình do tuy cùng chung hệ thống luật Common Law nhưng mỗi bên có mô hình đào tạo luật của riêng mình 

Thứ hai, những điểm tương đồng nổi bật bao gồm vai trò quan trọng của án lệ trong đào tạo luật, tuyển sinh đầu vào khắt khe, kĩ càng và chi phí đào tạo luật tốn kém Thứ ba, những điểm khác biệt nổi bật để phân biệt đào tạo nghề giữa Anh và Mỹ có thể kể đến lịch sử đào tạo luật, mục đích của đào tạo luật, phương pháp và chương trình đào tạo, vấn đề về bằng cấp.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1) Đại học luật Hà Nội (2017), Giáo trình Luật so sánh, NXB Công an nhân dân. 

2) Nguyễn Bích Thảo (2016), Một số kinh nghiệm đào tạo Luật ở Mỹ và gợi mở cho Việt Nam, tham luận tại Hội thảo về đổi mới đào tạo và nghiên cứu Luật, Khoa Luật, ĐHQGHN. 

3) Mac Sithigh, D., & Siems, M. (2017). Why Do We Do What We Do? Comparing Legal Methods in Five Law Schools Through Survey Evidence trong Rethinking Legal Scholarship: A Transatlantic Dialogue (pp. 31-83). Cambridge University Press. 

4) Byse (1986), Fifty Years of Legal Education, 71 IowA L. REV. 

5) Diamond (1985), Lawyer Competency and Bar Admissions, The Role of the Law School and the Role of the Profession, trong Legal education in the United Kingdom and the United States: An overview 2. 

6) Rodrigo Sadi (2017-2018), Legal Education and the Civil Law System, 62 N.Y.L. SCH. L. REV. 165. 

7) Fletcher, Roland (2016). Legal education and proposed regulation of the legal profession in England and Wales: a transformation or a tragedy?, Law Teacher, 50(3) pp. 371–385. 

8) Tạp chí Loyola of Los Angeles International and Comparative Law Review số 13 (2/1/1991), Legal Education in the United States and England: A Comparative Analysis

Đánh giá các quy định của Bộ luật Lao động năm 2019 về lao động giúp việc gia đình

Bình luận, đánh giá các quy định về lao động giúp việc gia đình trong Bộ luật Lao động sửa đổ bổ sung năm 2019.

Báo cáo mới của Tổ chức lao động thế giới (ILO) ngày 15/6/2021 về người  lao động giúp việc gia đình đã đưa ra dữ liệu cho thấy hiện nay trên thế giới có 75,6  triệu lao động giúp việc gia đình (4.5% người lao động)1. Một con số tỷ lệ đáng kể trong lực lượng lao động xã hội, lao động giúp việc gia đình đã, đang và sẽ có những đóng góp quan  trọng đối với sự phát triển kinh tế- xã hội toàn cầu. Tuy nhiên trên thực tế lao động giúp việc gia đình vẫn bị đánh giá thấp, bị coi là lao động có trình độ kém, hầu như không  được quan tâm dẫn đến bị phân biệt đối xử về điều kiện làm việc và dễ bị lạm dụng  nhân quyền.

1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ LAO ĐỘNG GIÚP VIỆC GIA ĐÌNH

1.1. Khái niệm lao động giúp việc gia đình

Định nghĩa đầu tiên về lao động giúp việc gia đình được Tổ chức lao động  quốc tế đưa ra năm 1951. Theo đó, nhiều quốc gia trên thế giới cũng đưa ra định nghĩa về loại hình lao động này. Để thống nhất cách hiểu chung và ghi nhận những  đóng góp quan trọng của lao động giúp việc gia đình thì ngày 16/6/2011, ILO đã  thông qua Công ước số 189 về việc làm bền vững cho lao động giúp việc gia đình. Theo đó, “ người lao động giúp việc gia đình (domestic worker) là bất kỳ người  nào thực hiện công việc trông gia đình có quan hệ việc làm; một người chỉ thực hiện công việc trong gia đình theo dịp hoặc không thường xuyên và không có tính chất nghề nghiệp thì không phải là người lao động giúp việc gia đình”.  

Ở Việt Nam, BLLĐ 2012 đã quy định cụ thể đầu tiên về lao động giúp việc gia đình, song  BLLĐ 2019 vẫn giữ nguyên khái niệm tại điều 161 như sau: “Lao động là người giúp việc gia đình là người lao động làm thường xuyên các công việc trong gia  đình của một hoặc nhiều hộ gia đình. 

Các công việc trong gia đình bao gồm công việc nội trợ, quản gia, chăm sóc trẻ em, chăm sóc người bệnh, chăm sóc người già, lái xe, làm vườn và các công việc khác cho hộ gia đình nhưng không liên quan đến hoạt động thương mại”. 

1.2 Đặc điểm của lao động giúp việc gia đình

– Lao động giúp việc gia đình thực hiện thường xuyên các công việc trong gia đình: đây có thể  coi là nét đặc trưng của loại hình lao động này vì công việc của họ được lặp đi lặp  lại mỗi ngày (nấu ăn, trông trẻ, lau dọn nhà cửa,…). 

– lao động giúp việc gia đình làm việc trong môi trường khép kín, đơn lẻ: bởi những nét đặc  thù của công việc, các lao động giúp việc gia đình rất ít có sự giao lưu với bên ngoài, không tham  gia các tổ chức đoàn thể nên dễ phải đối mặt với các nguy cơ: mắng chửi, đánh đập,  đe dọa, lạm dụng tình dục,… 

– lao động giúp việc gia đình chủ yếu là lao động nữ và có trình độ học vấn thấp: theo dữ liệu  của ILO mới ngày 15/6/2021 vừa qua thì trên thế giới, có khoảng 57,7 triệu phụ nữ  làm giúp việc, chiếm 76,2% tổng số lao động giúp việc gia đình, chiếm phần lớn  lực lượng lao động ở châu Âu, Trung Á và châu Mỹ. Ở Việt Nam, phụ nữ làm giúp  việc chiếm 90%, tiếp đó là những công việc chăm sóc, bảo mẫu chiếm 6,6%2.  lao động giúp việc gia đình phần lớn là nhữn người có trình độ học vấn thấp, chưa được đào tạo chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp.

1.3 Vai trò của lao động giúp việc gia đình 

Thứ nhất, vai trò đối với chính lao động giúp việc gia đình: có việc làm, tạo thu nhập ổn định,  đảm bảo chi tiêu và góp phần cải thiện cuộc sống cho gia đình và địa phương.  Ngoài ra, thu nhập của người lao động từ giúp việc gia đình còn là nguồn tiết kiệm,  tích lũy, phòng tránh rủi ro xảy ra. 

Thứ hai, vai trò đối với NSDLĐ sử dụng lao động giúp việc gia đình: được san sẻ những gánh  nặng về công việc gia đình, từ đó chuyên tâm thực hiện công việc, tạo ra thu nhập  cao hơn. Mặt khác, lao động giúp việc gia đình còn là giải pháp hiệu quả trong việc chăm sóc tốt  cho các thành viên trong gia đình, ưu việt hơn so với dịch vụ như nhà trẻ, viện  dưỡng lão,.. 

Thứ ba, vai trò đối với sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước: khi thu nhập  của NLĐ và NSDLĐ tăng cao sẽ góp phần ổn định đời sống xã hội, đây cũng là  một trong những điều kiện thúc đẩy kinh tế phát triển, bảo đảm an sinh xã hội của  đất nước. 

2. ĐÁNH GIÁ PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ LAO  ĐỘNG GIÚP VIỆC GIA ĐÌNH 

2.1 Pháp luật về hợp đồng lao động đối với lao động giúp việc gia đình 

ILO và đa số các quốc gia trên thế giới đã thừa nhận GVGĐ là một nghề,  người làm nghề GVGĐ là một người lao động được bình đẳng như những người  lao động khác. Như vậy, cần có một hình thức pháp lý để xác lập quan hệ lao động  giữa lao động giúp việc gia đình và NSDLĐ. HĐLĐ là hình thức pháp lý BLLĐ 2019 quy định bắt  buộc đối với lao động giúp việc gia đình.  

2.1.1 Chủ thể giao kết hợp đồng lao động 

Chủ thể giao kết HĐLĐ GVGĐ là người lao động giúp việc gia đình và người sử dụng lao  động. Trong đó, người từ đủ 18 tuổi trở lên được quyền trực tiếp ký HĐLĐ, người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi được quyền ký kết HĐLĐ nhưng phải có sự đồng ý  bằng văn bản của người đại diện theo pháp luật.  

Có thể thấy, pháp luật lao động đã rộng mở cơ hội cho phép trẻ em từ đủ 15  tuổi trở lên có thể làm công việc GVGĐ nếu công việc đó nhẹ nhàng, phù hợp với  lứa tuổi, thời gian làm việc không vượt quá thời gian pháp luật quy định. Tuy  nhiên, điểm hạn chế là độ tuổi dưới 18 là người chưa có kinh nghiệm và kỹ năng  sống, ứng phó với các tình huống dẫn đến dễ bị xâm hại, đặc biệt phần lớn lao động giúp việc gia đình lại là nữ. Một số liệu khảo sát tại TP. Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh cho  biết có tới 17,3% lao động giúp việc gia đình bắt đầu từ độ tuổi dưới 18.  

2.1.2 Hình thức và nội dung của HĐLĐ 

BLLĐ 2019 quy định “Người sử dụng lao động phải giao kết hợp đồng lao động bằng văn bản với lao động là người giúp việc gia đình.”3 Nội dung HĐLĐ  phải tuân thủ khoản 1 Điều 21 BLLĐ. Quy định này chủ yếu đảm bảo quyền và lợi  ích hợp pháp của các bên nhưng dường như thực tế cả người GVGĐ và người sử dụng lao động đều không muốn bị ràng buộc về mặt pháp lý với nhau nên việc thực  hiện quy định này không dễ. Các kết quả nghiên cứu cho thấy, trên 90% HĐLĐ  GVGĐ được thỏa thuận bằng lời nói. Pháp luật cần có biện pháp linh hoạt và răn đe để thay đổi nhận thức của NSDLĐ và lao động giúp việc gia đình, đồng thời tăng cường công tác  quản lý nhà nước để kịp thời phát hiện và xử lý đối với những trường hợp vi phạm. 

2.1.3 Thủ tục giao kết HĐLĐ 

HĐLĐ GVGĐ phải tuân theo thủ tục: (i) Cung cấp thông tin trước khi giao  kết HĐLĐ; (ii) Thử việc; (iii) Ký kết HĐLĐ; (iv) Thông báo với UBND cấp xã. 

Lao động giúp việc gia đình là đối tượng có nhiều nét đặc trưng nên pháp luật quy định các  thủ tục nh m các bên đạt được mong muốn, lợi ích tối đa. Đặc biệt cần phải thông báo đến cơ quan có thẩm quyền vì có liên quan đến con người, tạm trú,..Tuy nhiên  thì quy định này ít được thực hiện bởi NSDLĐ có thể thay đổi người giúp việc liên  tục nên họ rất ngại khai báo hoặc khai báo một lần nhưng lại thay đổi rất nhiều  NLĐ khác. Như vậy, pháp luật cần cân nhắc các giải pháp trong vấn đề quản lý lao động giúp việc gia đình. 

2.1.4 Thực hiện, tạm hoãn, chấm dứt HĐLĐ đối với lao động giúp việc gia đình

Khi HĐLĐ được kí kết, các bên có nghĩa vụ thực hiện đúng cam kết đã thỏa  thuận trong hợp đồng. Tạm hoãn HĐLĐ đối với lao động giúp việc gia đình trong trường hợp NLĐ  mang thai và do hai bên thỏa thuận. Để đảm bảo quyền lợi cho các bên, pháp luật  quy định về các trường hợp chấm dứt HĐLĐ GVGĐ. Theo quy định tại Khoản 2  Điều 162 mỗi bên có quyền chấm dứt HĐLĐ bất kì lúc nào nhưng phải báo trước  15 ngày để bên kia còn chuẩn bị và không bị động. 

2.1.5 Quyền, nghĩa vụ của các bên khi chấm dứt HĐLĐ 

Khi chấm dứt HĐLĐ các bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ cho nhau các  khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên trong HĐLĐ. Đối với NLĐ, khi  chấm dứt HĐLĐ sẽ được NSDLĐ trả trợ cấp thôi việc trừ một số trường hợp.  Ngoài ra còn được thanh toán tiền nghỉ phép năm, tiền tàu xe, các giấy tờ và các  khoản nợ (nếu có) trong 7 ngày, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. NSDLĐ có  trách nhiệm thanh toán các quyền lợi nói trên và thông báo đến cơ quan có thẩm  quyền trong vòng 7 ngày. 

2.2 Pháp luật về điều kiện lao động đối với lao động giúp việc gia đình

2.2.1 Quy định pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi đối với lao động giúp việc gia đình

Về thời giờ làm việc: được xác định trên cơ sở thỏa thuận giữa các bên, đồng  thời quỹ thời gian làm việc cũng có sự khác nhau giữa 2 độ tuổi của NLĐ là người  từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi và người đủ 18 tuổi trở lên. 

Để đảm bảo sức khỏe cho lao động giúp việc gia đình chưa thành niên, pháp luật có quy định riêng  tại Điều 146 BLLĐ 2019. Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay chưa có văn bản hướng  dẫn cụ thể về việc lao động giúp việc gia đình làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm nên dễ gây nên  sự lạm dụng trong sử dụng lao động từ phía NSDLĐ. 

Về thời giờ nghỉ ngơi: được quy định cụ thể tại chương VII BLLĐ 2019. Cụ  thể lao động giúp việc gia đình phải được nghỉ ít nhất 8 giờ trong đó có 6 giờ liên tục trong 24 giờ  liên tục. Quy định này đảm bảo cho NLĐ có được sự nghỉ ngơi sau nhiều giờ liên  tục làm việc, tránh sự lạm dụng của NSDLĐ do sống cùng gia đình với họ. 

2.2.2 Quy định pháp luật về an toàn lao động và vệ sinh lao động đối với lao động giúp việc gia đình

Điều 13 Công ước 189 của ILO quy định mọi người lao động giúp việc gia đình có quyền  được làm việc trong một môi trường an toàn và vệ sinh. Khoản 5 Điều 89 Nghị  định 145/2020/NĐ-CP đã quy định vấn đề an toàn, vệ sinh lao động đối với lao  động là người giúp việc gia đình. Tuy nhiên trên thực tế không phải tất cả NSDLĐ  đều thực hiện hết trách nhiệm của mình và lao động giúp việc gia đình có thể không biết đến tất cả  các quyền lợi của mình được hưởng. Hơn nữa, pháp luật cần nhận thức về những  nguy cơ an toàn vệ sinh lao động đột xuất trong quá trình lao động và có cơ chế  điều tiết cũng như các biện pháp đảm bảo cho lao động giúp việc gia đình. 

2.3 Pháp luật về điều kiện sử dụng lao động đối với lao động giúp việc gia đình

2.3.1 Pháp luật về tiền lương 

Tiền lương là vấn đề mà bất kì NLĐ nào cũng đều quan tâm bởi đó ảnh  hưởng tới cuộc sống của chính NLĐ và gia đình họ. Khoản 3 Điều 162 BLLĐ 2019  quy định: “3. Hai bên thỏa thuận trong hợp đồng lao động về hình thức trả lương,  kỳ hạn trả lương, thời giờ làm việc hằng ngày, chỗ ở”. Quy định này phù hợp với  nguyên tắc chung về chế độ tiền lương, bản chất của quan hệ lao động. Tại NĐ  145/2020/NĐ-CP quy định: “tiền lương của người lao động thỏa thuận trong hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 90 của Bộ luật Lao  động bao gồm mức lương theo công việc, phụ cấp lương và các khoản bổ sung  khác nếu có. Mức lương theo công việc bao gồm cả chi phí tiền ăn, ở của người lao  động tại gia đình người sử dụng lao động (nếu có) không được thấp hơn mức lương  tối thiểu vùng do Chính phủ công bố. Người sử dụng lao động và người lao động  thỏa thuận mức chi phí ăn, ở hằng tháng của người lao động (nếu có), tối đa không  quá 50% mức lương theo công việc ghi trong hợp đồng lao động”.  

Tuy nhiên, vấn đề vướng mắc khi thực hiện quy định trên là với quy định  mức lương (bao gồm cả chi phí ăn, ở của người lao động sống cùng gia đình người  sử dụng lao động nếu có) sẽ gây khó khăn trong việc xác định và gây nhầm lẫn trên  thực tế. Quy định này có thể sẽ tạo ra kẽ hở cho người sử dụng lao động lợi dụng  để đưa ra mức tiền lương không tương xứng với sức lao động của người lao động.  Bởi trên thực tế phần lớn 105 mức lương hiện nay là do gia đình chủ đề xuất và  quyết định (có 80,6% trường hợp mức lương hiện nay là do gia đình chủ đề xuất và  92,8% trường hợp do gia đình chủ quyết định mức lương này).  

2.3.2 Pháp luật về BHXH, BHYT đối với lao động giúp việc gia đình

Theo quy định NSDLĐ có trách nhiệm chi trả thêm cùng lúc với kỳ trả lương  của lao động giúp việc gia đình một khoản tiền tương đương mức đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y  tế theo quy định của pháp luật để người lao động chủ động tham gia bảo hiểm xã  hội, bảo hiểm y tế. So với BLLĐ năm 2012 với BLLĐ năm 2019 dường như không  có sự thay đổi nhiều, chỉ thay cụm từ để người lao động tự lo bảo hiểm thành để  người lao động chủ động tham gia BH H, BH T . Dù là tự lo hay chủ động  tham gia BH H thì theo quy định của pháp luật hiện hành người lao động giúp việc gia đình vẫn  chỉ thuộc đối tượng tham gia BHXH tự nguyện, như vậy sẽ không thể đảm bảo  được hết các quyền lợi cho người lao động.  

2.3.3 Pháp luật trong lĩnh vực kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất

Người sử dụng lao động và người lao động xác định cụ thể các hành vi, hình  thức xử lý kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất theo quy định tại khoản 2 Điều  118 và Điều 129 của Bộ luật Lao động và ghi trong hợp đồng lao động hoặc thể  hiện bằng hình thức thỏa thuận khác 4. Có hai hình thức xử lý kỷ luật lao động áp  dụng đối với người lao động bao gồm khiển trách, sa thải theo khoản 1, khoản 4  Điều 124 của Bộ luật Lao động.  

2.4 Pháp luật về xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực lao động giúp việc gia đình

Theo các tài liệu của ILO ghi nhận lao động giúp việc gia đình, đặc biệt là  lao động giúp việc gia đình làm việc tại nước ngoài là đối tượng lao động dễ bị bóc lột và lạm dụng. Tại Việt Nam, các hành vi bị nghiêm cấm đối với NSDLĐ khi có lao động giúp việc gia đình được quy định rõ tại Điều 165 BLLĐ 2019. Các quy định này cũng  thống nhất với các quy định về hành vi bị nghiêm cấm trong lĩnh vực lao động  (Điều 8 BLLĐ), góp phần cảnh báo và là cơ sở để xử lý vi phạm đối với người sử  dụng lao động có hành vi. Hiện nay vấn đề xử lý vi phạm hành chính liên quan đến lao động giúp việc gia đình được quy định tại Nghị Định 28/2020/NĐ-CP. 

Khác với BLLĐ 2012 thì BLLĐ 2019 quy định cơ quan có thẩm quyền giải  quyết tranh chấp lao động tại Điều 187 bao gồm: Hòa giải viên lao động, tòa án  nhân dân và bổ sung thêm cơ hội đồng trọng tài lao động. Tranh chấp lao động giữa  người GVGĐ với người sử dụng lao động không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải  trước khi yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động hoặc Tòa án giải quyết. 

Quy định này là hợp lý bởi người lao động giúp việc gia đình ở vị thế yếu thế hơn trong quan hệ lao  động với người sử dụng lao động. Mặt khác, do đặc thù của công việc GVGĐ rất  dễ bị người sử dụng lao động xâm phạm quyền lợi, lạm dụng sức lao động, ngược  đãi và các hành vi phạm pháp luật khác. Hơn nữa, lao động giúp việc gia đình chủ yếu là những người lao động xuất thân từ nông thôn, trình độ học vấn thấp, thiếu hiểu biết pháp  luật lao động, lại không có tổ chức đại diện để đứng ra bảo vệ họ nên khi tham gia  hòa giải họ có khả năng rơi vào vị thế bất lợi hơn khi thỏa thuận với phía người sử  dụng lao động. 

Về thời hiệu giải quyết tranh chấp lao động giữa lao động giúp việc gia đình và NSDLĐ cũng  tuân theo quy định về thời hiệu giải quyết tranh chấp lao động cá nhân nói chung  được quy định tại Điều 189 BLLĐ năm 2019. Quy định như vậy là phù hợp với yêu  cầu của việc giải quyết tranh chấp lao động, cần giải quyết nhanh chóng nh m khôi  phục quyền, lợi ích hợp pháp của các bên đã bị xâm phạm, giúp người lao động có  thể tiếp tục công việc bình thường, giải tỏa mâu thuẫn, bất động giữa các bên, duy  trì và củng cố quan hệ lao động. 

3. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG  GIÚP VIỆC GIA ĐÌNH Ở VIỆT NAM 

BLLĐ 2019 đã kế thừa và phát triển những quy định về lao động giúp việc gia đình của  BLLĐ 2012 nhưng xét thấy vẫn tồn đọng một số bất cập trên thực tế, lao động giúp việc gia đình là  bên yếu thế, cần phải được bảo vệ. Chính vì lý do đó, em xin đề xuất một số kiến  nghị đảm bảo quyền lợi cho các chủ thể trong quan hệ lao động giúp việc gia đình đồng thời hướng  đến mục tiêu đưa GVGĐ trở thành việc làm bền vững cho người lao động. 

Thứ nhất, đối với pháp luật về hợp đồng lao động giúp việc gia đình cần bổ sung thêm quy  định về hậu quả của tạm hoãn HĐLĐ GVGĐ. Hiện pháp luật cho phép người sử  dụng lao động được quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ với lao động giúp việc gia đình nếu hết  thời hạn tạm hoãn HĐLĐ mà người lao động không có mặt. Tuy nhiên, trường hợp  nếu người lao động có lý do chính đáng thì người sử dụng lao động có quyền đơn  phương chấm dứt HĐLĐ không Việc bổ sung quy định này sẽ là cơ sở để bảo vệ  quyền lợi cho người lao động giúp việc gia đình, đồng thời cũng là căn cứ cho việc giải quyết tranh chấp giữa người sử dụng lao động và người lao động.

Thứ hai, điều chỉnh quy định pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ  ngơi theo hướng quy định tổng số giờ làm việc trong ngày, trong tuần, tổng số giờ  nghỉ ngơi tối thiểu, quy định cụ thể về thời gian làm thêm giờ đối với lao động giúp việc gia đình.  Bổ sung quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi đối với lao động giúp  việc gia đình sống cùng gia đình người sử dụng lao động.  

Thứ ba, cần bổ sung các quy định về đảm bảo điều kiện sống cho lao động giúp việc gia đình. 

Thứ tư, bổ sung quy định về đào tạo nghề, bồi dưỡng, nâng cao kỹ năng nghề  đối với lao động giúp việc gia đình và cấp chứng chỉ nghề cho lao động giúp việc gia đình. Đồng thời cũng cần quy  định tăng mức xử phạt đối với các hành vi vi phạm pháp luật về lao động giúp việc  gia đình để đủ sức răn đe, phòng ngừa vi phạm. Hơn nữa, cũng cần có quy định về  nhiệm vụ của thanh tra lao động trong việc thanh tra, kiểm tra hộ gia đình sử dụng  lao động giúp việc gia đình. 

GVGĐ là một công việc đã xuất hiện, tồn tại từ lâu ở các quốc gia trên thế  giới và cả ở Việt Nam. Cùng với sự phát triển kinh tế, lao động giúp việc gia đình ngày càng có vai  trò quan trọng với sự phát triển kinh tế xã hội của các quốc gia. Tuy nhiên, pháp  luật về lao động giúp việc gia đình bên cạnh những ưu điểm vẫn không tránh khỏi tồn tại, hạn chế,  thiếu sự linh hoạt và hiệu quả thực thi không cao. Bên cạnh việc hoàn thiện pháp  luật cũng cần chú trọng tới những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện  pháp luật về lao động giúp việc gia đình trong đó việc tăng cường công tác thông tin, tuyền thông về lao động giúp việc gia đình thay đổi thái độ, nhận thức, quan điểm của xã hội về nghề GVGĐ,  nâng cao hiểu biết pháp luật về lao động giúp việc gia đình là một trong những giải pháp quan trọng  cần hướng tới.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1. Bộ luật lao động 2012; 

2. Bộ luật lao động 2019; 

3. Nghị định 145/2020/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số  điều của Bộ luật lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động; 

4. Nghị định 28/2020/NĐ-CP định xử phạt hành chính lĩnh vực lao động, bảo  hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp  đồng; 

5. Đỗ Thị Dung (chủ nhiệm đề tài) (2017), Pháp luật lao động Việt Nam về lao  động giúp việc gia đình – Thực trạng và phương hướng hoàn thiện, Đề tài  nghiên cứu khoa học cấp trường, Trường ĐH Luật Hà Nội. 

6. Đỗ Thị Dung (chủ biên) (2018), Pháp luật về lao động giúp việc gia đình ở Việt  Nam, Nxb Tư pháp, Hà Nội; 

7. Lã Trọng Đại (2014), Những vấn đề nảy sinh trong quan hệ lao động giúp việc  gia đình và giải pháp khắc phục , Tạp chí Lao động và xã hội; 

8. Quỳnh Anh, Theo Doanh nghiệp và Tiếp thị, , “ILO: Cần công nhận giúp việc  gia đình là một nghề chính thức”,16/6/2021; 

Phương pháp thương lượng trong thực tiễn giải quyết tranh chấp lĩnh vực thương mại

Phương pháp thương lượng trong thực tiễn giải quyết tranh chấp lĩnh vực thương mại.

I. VỤ VIỆC THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI  BẰNG PHƯƠNG THỨC THƯƠNG LƯỢNG 

1 Tóm tắt vụ việc 

Vụ việc tranh chấp thương mại giữa Công ty TNHH Hà Bình với Công ty TNHH kinh doanh và chế biến lương thực Việt Tiến (tài liệu hồ sơ tình huống  được đính kèm tại phần Phụ lục) là vụ việc tranh chấp hợp đồng mua bán về nghĩa vụ thanh toán. Cụ thể được tóm tắt như sau: 

– Công ty TNHH Hà Bình (bên bán) với Công ty TNHH kinh doanh và  chế biến lương thực Việt Tiến (bên mua) đã hợp tác, ký hợp đồng mua bán bột  mì từ tháng 01/2017 đến 31/12/2017. Hợp đồng có giá trị hiệu lực 1 năm, ghi  nhận sự thỏa thuận các bên, tuân thủ đúng quy định của pháp luật và đúng thẩm  quyền ký kết.  

– 01/2018, hai bên tiếp tục ký hợp đồng có thời hạn 1 năm. Tuy nhiên đại  diện ký hợp đồng của bên bán không đúng thẩm quyền. 

– 03/2018, có văn bản xác nhận công nợ Công ty TNHH kinh doanh và  chế biến lương thực Việt Tiến xác nhận còn nợ công ty Hà Bình 613.000.000  đồng (Bằng chữ: sáu trăm mười ba triệu đồng). 

– 04/2018, Công ty TNHH Hà Bình yêu cầu Công ty Việt Tiến thanh toán  công nợ. Tuy nhiên, công ty Việt Tiến chỉ nêu những khó khăn của mình mà không đưa ra thời hạn thanh toán công nợ. Công ty TNHH Hà Bình dừng việc  gửi bột mỳ bắt đầu từ tháng 4/2018. 

– 06/2018, Công ty Việt Tiến yêu cầu công ty Hà Bình bồi thường thiệt hại  do đơn phương chấm dứt hợp đồng kinh tế ký ngày 5/1/2018.

Hai bên thống nhất thương lượng giải quyết tranh chấp tại văn phòng  Công ty Hà Bình ngày 30/06/2018. 

2 Quyền và nghĩa vụ các bên trên cơ sở hợp đồng ký kết 

❖ Công ty TNHH Hà Bình: 

– Công ty có quyền nhận các khoản thanh toán từ phía công ty Việt Tiến  sau khi đã giao hàng theo đúng thỏa thuận hợp đồng số 03/01/HĐ.2018/HB. – Công ty có nghĩa vụ giao hàng đúng chất lượng, số lượng, quy cách của  hàng hóa theo thỏa thuận hợp đồng, không được tự ý hủy bỏ hợp đồng khi chưa  có sự đồng ý của công ty Việt Tiến. 

– Công ty có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho Công ty Việt Tiến nếu xảy  ra các thiệt hại khi hợp đồng vô hiệu vì hợp đồng được ký không đúng thẩm  quyền của người đại diện pháp luật. 

❖ Công ty kinh doanh và chế biến lương thực Việt Tiến: 

– Công ty có nghĩa vụ thanh toán cho công ty Hà Bình bằng tiền mặt hoặc  chuyển khoản trong vòng 20 ngày kể từ ngày nhận theo từng đợt nhận hàng như  đúng hợp đồng đã ký kết. 

– Có nghĩa vụ thanh toán tiền lãi theo mức lãi suất ngân hàng trên giá trị  công nợ chậm trả. 

– Công ty có quyền yêu cầu Công ty Hà Bình thanh toán các chi phí tổn  thất khi đơn phương chấm dứt hợp đồng. 

II. BIÊN BẢN THƯƠNG LƯỢNG GHI NHẬN SỰ THỎA THUẬN CỦA  CÁC BÊN 

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc 

BIÊN BẢN THƯƠNG LƯỢNG 

Tranh chấp hợp đồng mua bán về nghĩa vụ thanh toán 

Hôm nay, tại Văn phòng Công ty TNHH Hà Bình địa chỉ Nhà máy xay Yên Mỹ,  thị trấn Yên Mỹ, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên. Vào hồi 9 giờ ngày 30 tháng 6  năm 2018. Chúng tôi gồm có: 

– Đại diện Công ty TNHH Hà Bình: PHẠM HOÀNG KHÁNH   Chức vụ: Giám đốc Công ty TNHH Hà Bình 

– Đại diện Công ty kinh doanh và chế biến lương thực Việt Tiến: NGUYỄN  NGỌC TIẾN 

 Chức vụ: Giám đốc Công ty kinh doanh và chế biến lương thực Việt Tiến Đã tiến hành buổi họp thương lượng về tranh chấp hợp đồng mua bán về nghĩa  vụ thanh toán: 

1. Nội dung buổi họp thương lượng: 

1.1 Các sự kiện pháp lý liên quan đến tranh chấp thương mại 

– Ngày 05/01/2018, Công ty TNHH Hà Bình (bên bán) và Công ty kinh  doanh và chế biến lương thực Việt Tiến (bên mua) ký hợp đồng mua bán bột mì.  Tuy nhiên, đại diện theo pháp luật của bên bán ký kết hợp đồng không đúng thẩm  quyền. Ông Trần Ngọc Văn giữ chức vụ Phó Giám đốc Công ty TNHH Hà Bình,  không có sự ủy quyền của giám đốc là ông Phạm Hoàng Khánh nện không có  thẩm quyền ký kết hợp đồng trên theo Điều 63 và Điều 67 Luật Doanh nghiệp  2020. Trước đó, giấy ủy quyền của ông Phạm Hoàng Khánh cho ông Trần Ngọc  Văn đã hết thời hạn vào ngày 30/12/2017 và không có sự gia hạn thêm. 

– 03/2018, có văn bản xác nhận công nợ của công ty kinh doanh và chế biến lương thực Việt Tiến còn nợ công ty Hà Bình 613.000.000 đồng (Bằng chữ: sáu trăm mười ba triệu đồng). 04/2018, Công ty TNHH Hà Bình yêu cầu Công ty  Việt Tiến thanh toán công nợ và dừng việc gửi bột mì. Tuy nhiên, phía Công ty  Việt Tiến không đưa ra thời hạn thanh toán mà chỉ nêu ra lý do chậm thực hiện  nghĩa vụ thanh toán, không phù hợp với quy định pháp luật tại Điều 50 và 51  Luật Thương mại 2005. 

1.2 Quan điểm, ý kiến của các bên về sự kiện pháp lý dẫn đến tranh chấp – Công ty TNHH Hà Bình: 

Về việc ký hợp đồng không đúng thẩm quyền: Trong quy chế nội bộ công  ty TNHH Hà Bình việc ông Trần Ngọc Văn ký hợp đồng vẫn nằm trong phạm vi  ủy quyền trước đó và cũng đã được thông báo đến ban giám đốc và nhận được sự chấp thuận. Vì vậy, ông Trần Ngọc Văn ký hợp đồng với Quý công ty Việt Tiến  vẫn phù hợp với quy định của công ty TNHH Hà Bình. Hơn nữa, lỗi dẫn đến sơ  xuất này chúng tôi cho rằng không chỉ ở một phía mà do cả hai bên đã không rà  soát lại các văn bản pháp lý liên quan đã hết hiệu lực nên nếu có thiệt hại xảy ra,  cả hai công ty đều phải đồng chịu trách nhiệm. 

Về nghĩa vụ chậm thanh toán: chúng tôi đã nhiều lần gửi công văn nhắc nhở quý công ty nhanh chóng thanh toán công nợ và tiền lãi chậm trả, có cả bản  xác nhận công nợ hai bên đã ký. Tuy nhiên, phía công ty Việt Tiến nêu lí do  chung chung để kéo dài thời gian thanh toán công nợ, không đưa ra thời hạn cụ thể thanh toán, chúng tôi bắt buộc phải dừng việc gửi hàng hóa để đảm bảo duy  trì ngân sách của công ty. 

– Công ty kinh doanh và chế biến lương thực Việt Tiến: 

Công ty TNHH Hà Bình đã đưa người không có thẩm quyền để ký hợp  đồng với chúng tôi, lỗi này là hoàn toàn do công ty gây ra, ký hợp đồng với  chúng tôi mà không có sự ủy quyền của người có thẩm quyền . Nếu vụ tranh  chấp này không thương lượng thỏa đáng, hợp đồng sẽ bị vô hiệu và phía công ty Hà Bình sẽ phải hoàn toàn chịu trách nhiệm đối với những thiệt hại gây ra cho  chúng tôi. 

Chúng tôi đã đưa ra kế hoạch thanh toán công nợ cho quý công ty Hà  Bình, cụ thể là trong mùa vụ tiếp theo thuận lợi và kết thúc đầu tư ưa ưởng  mới vào hoạt động, chúng tôi sẽ có điều kiện để rút ngắn thời gian thanh toán. Lý  do chậm thanh toán công nợ chúng tôi đưa ra hoàn toàn chính đáng: vì vừa phải  đối phó với biến động giá vật tư, nguyên liệu, vừa triển khai đầu tư mở rộng sản  xuất và thị trường mì ăn liền tiêu thụ đang rất chậm nên mới ảnh hưởng đến tiến  độ thanh toán công nợ với quý công ty.  

Hơn nữa, việc không tiếp tục giao hàng của Quý công ty từ tháng 04/2018  dẫn đến rất nhiều thiệt hại cho chúng tôi. Chúng tôi vẫn phải trả lương cho công  nhân, phải trả nợ ngân hàng và phải chịu tiền mua chênh lệch giá bột mì của  công ty khác nên chúng tôi không đồng ý. Yêu cầu phía công ty Hà Bình tiếp tục  thực hiện hợp đồng.  

1.3 Các giải pháp, phương án được các bên đề xuất 

– Công ty TNHH Hà Bình: Trên tinh thần hợp tác lâu dài của hai công ty  chúng tôi đề xuất việc chấp nhận hiệu lực của hợp đồng số 03/01/HĐ.2018/HB; đồng thời ký hợp đồng mới thể hiện những thỏa thuận của các bên, đúng thẩm  quyền và đúng trình tự của pháp luật. Tuy nhiên, Công ty Việt Tiến bắt buộc  phải thanh toán công nợ và tiền lãi trên giá trị chậm trả trong vòng 3 tháng tới để phía công ty chúng tôi có đủ kinh phí cung cấp bột mì cho quý công ty. 

– Công ty kinh doanh và chế biến lương thực Việt Tiến: chúng tôi đồng ý  với phương án ký hợp đồng mới và chấp nhận hiệu lực hợp đồng cũ như phía  Công ty TNHH Hà Bình đề xuất. Về phần nghĩa vụ thanh toán, hiện nay chúng  tôi đang gặp phải rất nhiều khó khăn vì trong 3 tháng vừa qua, công ty không gửi bột mì dẫn đến thiệt hại ước tính 400.000.000 như trong Công Văn số 06-11/04/VT đã nêu rõ. Vì vậy chúng tôi đề nghị quý công ty gia hạn thời hạn thanh  toán công nợ và tiền lãi chậm trả là 06 tháng. 

2. Kết quả buổi họp thương lượng 

Sau khi có sự trao đổi thỏa thuận, hai bên đã thống nhất về những nội  dung như sau: 

– Chấp nhận hiệu lực hợp đồng số 03/01/HĐ.2018/HB 

– Hai bên ký hợp đồng mới thể hiện những thỏa thuận của các bên, đúng thẩm quyền và đúng trình tự của pháp luật vào ngày 01/07/2018. – Công ty kinh doanh và chế biến lương thực Việt Tiến sẽ phải thanh  toán công nợ cho Công ty TNHH Hà Bình tính đến tháng 03/2018 là  617.000.000 đồng. Thời hạn thanh toán là 04 tháng. Tiền lãi trên giá trị chậm trả, công ty Việt Tiến không phải thanh toán để bù đắp một phần  thiệt hại xảy ra. 

3. Điều khoản thực hiện 

Các bên thực hiện cam kết theo như đúng thỏa thuận và thời gian nêu  trong kết quả buổi họp thương lượng. Nếu một trong các bên không thực hiện  đúng thỏa thuận thương lượng thì tranh chấp sẽ đưa ra Tòa án nhân dân để giải  quyết. 

Biên bản được hoàn thành vào hồi 12 giờ, ngày 30 tháng 06 năm 2018. Biên bản này được lập thành 02 bản, mỗi bên giữ một bản. 

Hưng Yên, ngày 30 tháng 06 năm 2018 

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1. Luật Doanh nghiệp 2020; 

2. Luật Thương mại 2005.

III. Hợp đồng mua bán bột mì 1

CÔNG TY TNHH HÀ BÌNH
T.T YÊN MỸ – H. YÊN MỸTỈNH HƯNG YÊN
Số: 03/01/HĐ.2018/HB
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

HỢP ĐỒNG MUA BÁN BỘT MÌ 

– Căn cứ Bộ luật dân sự năm 2015; 

– Căn cứ Luật thương mại 2005; 

– Căn cứ Luật trọng tài thương mại 2010; 

– Căn cứ vào sự thỏa thuận của hai bên  

Hôm nay ngày 05/01/2018 

Các bên gồm có: 

I. Bên bán: Công ty TNHH Hà Bình (Bên A) 

Đại diện: ông Trần Ngọc Văn Chức vụ: Phó Giám Địa chỉ: thị trấn Yên Mỹ, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên Điện thoại: 0321.963177 – 0321.964425 Fax: 0321.964834 

đốc 

Tài khoản: Số 111.10132836.01.0 tại Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ  thương Việt Nam, thành phố Hà Nội 

Mã số thuế: 0900181214 – 1 

II. Bên mua: Công ty kinh doanh và chế biến lương thực Việt Tiến (Bên B) 

Đại diện: ông Nguyễn Ngọc Tiến Chức vụ: Giám đốc 

Địa chỉ: Trâu Quỳ, Gia Lâm, Hà Nội 

Điện thoại: 04.8766750 Fax: 04.8767431 

Tài khoản: 4311.01.000046 tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông  thôn Việt nam, Hà Nội 

Mã số thuế: 0100508975 – 1 

Sau khi bàn bạc, hai bên đã thống nhất ký hợp đồng mua bán hàng hóa với  các điều khoản sau: 

Điều 1. Hàng hóa, số lượng, giá cả 

– Hàng hóa – Bột mì. 

– Số lượng: 300 tấn/tháng

– Giá cả: theo giá thị trường từng thời điểm do hai bên thỏa thuận và được  thể hiện trên Hóa đơn GTGT bên A xuất cho bên B. 

Điêu 2. Giao hàng, quy cách, phẩm chất hàng hóa 

– Giao hàng: hàng được giao tại kho bên A. Bốc xếp mỗi bên chịu một đầu.

– Quy cách: bột mì được đóng trong bao PP trọng lượng tịnh 40kg/bao

– Phẩm chất: theo thỏa thuận của hai bên 

Điều 3. Hình thức hợp đồng 

Bên B thanh toán cho bên A bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản trong vòng 20  ngày kể từ ngày nhận theo từng đợt nhận hàng. Nếu chậm trả phải chịu mức lãi suất theo ngân hàng trên giá trị chậm trả. 

Điều 4. Thời hạn thanh toán 

Hợp đồng có giá trị thực hiện từ tháng 01/2018 đến 31/12/2018 

Điều 5. Cam kết chung 

Hai bên cam kết thực hiện đúng theo những điều khoản đã ký trong hợp  đồng. Trong quá trình thực hiện nếu có phát sinh cần sửa đổi, bổ sung hay trở ngại  gì thì hai bên cùng nhau bàn bạc cụ thể để làm phụ lục hợp đồng, không bên nào  được quyền tự hủy bỏ hợp đồng. Nếu có xảy ra tranh chấp mà hai bên không giải quyết được bằng thương lượng thì sẽ đưa ra Tòa án kinh tế tỉnh Hưng Yên để giải  quyết. 

Hợp đồng được thành lập 4 bản, mỗi bên giữ 2 bạn có giá trị pháp lý như nhau. 

ĐẠI DIỆN BÊN B ĐẠI DIỆN BÊN A 

(đã ký, đóng dấu) (đã ký, đóng dấu) 


IV. Hợp đồng mua bán bột mì 2

CÔNG TY TNHH HÀ BÌNH
T.T YÊN MỸ – H. YÊN MỸTỈNH HƯNG YÊN
Số: 03/01/HĐ.2017/HB
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

HỢP ĐỒNG MUA BÁN BỘT MÌ 

– Căn cứ Bộ luật dân sự năm 2015; 

– Căn cứ Luật thương mại 2005; 

– Căn cứ Luật trọng tài thương mại 2010; 

– Căn cứ vào sự thỏa thuận của hai bên  

Hôm nay, ngày 5/1/2017, Các bên gồm có: 

III. Bên bán: Công ty TNHH Hà Bình (Bên A) 

Đại diện: ông Trần Ngọc Văn Chức vụ: Phó Giám đốc Địa chỉ: thị trấn Yên Mỹ, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên 

Điện thoại: 0321.963177 – 0321.964425 Fax: 0321.964834 Tài khoản: Số 111.10132836.01.0 tại Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ  thương Việt Nam, thành phố Hà Nội 

Mã số thuế: 0900181214 – 1 

IV. Bên mua: Công ty kinh doanh và chế biến lương thực Việt Tiến (Bên B) 

Đại diện: ông Nguyễn Ngọc Tiến Chức vụ: Giám đốc 

Địa chỉ: Trâu Quỳ, Gia Lâm, Hà Nội 

Điện thoại: 04.8766750 Fax: 04.8767431 

Tài khoản: 4311.01.000046 tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông  thôn Việt nam, Hà Nội 

Mã số thuế: 0100508975 – 1 

Sau khi bàn bạc, hai bên đã thống nhất ký hợp đồng mua bán hàng hóa với  các điều khoản sau: 

Điều 1. Hàng hóa, số lượng, giá cả 

– Hàng hóa – Bột mì. 

– Số lượng: 300 tấn/tháng 

– Giá cả: theo giá thị trường từng thời điểm do hai bên thỏa thuận và được  thể hiện trên Hóa đơn GTGT bên A xuất cho bên B. 

Điêu 2. Giao hàng, quy cách, phẩm chất hàng hóa

– Giao hàng: hàng được giao tại kho bên A. Bốc xếp mỗi bên chịu một đầu. – Quy cách: bột mì được đóng trong bao PP trọng lượng tịnh 40kg/bao – Phẩm chất: theo thỏa thuận của hai bên 

Điều 3. Hình thức thanh toán 

Bên B thanh toán cho bên A bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản trong vòng 20  ngày kể từ ngày nhận theo từng đợt nhận hàng. Nếu chậm trả phải chịu mức lãi suất  theo ngân hàng trên giá trị chậm trả. 

Điều 4. Thời hạn hợp đồng 

Hợp đồng có giá trị thực hiện từ tháng 01/2017 đến 31/12/2017 

Điều 5. Cam kết chung 

Hai bên cam kết thực hiện đúng theo những điều khoản đã ký trong hợp  đồng. Trong quá trình thực hiện nếu có phát sinh cần sửa đổi, bổ sung hay trở ngại  gì thì hai bên cùng nhau bàn bạc cụ thể để làm phụ lục hợp đồng, không bên nào  được quyền tự hủy bỏ hợp đồng. Nếu có xảy ra tranh chấp mà hai bên không giải  quyết được bằng thương lượng thì sẽ đưa ra Tòa án kinh tế tỉnh Hưng Yên để giải  quyết. 

Hợp đồng được thành lập 4 bản, mỗi bên giữ 2 bạn có giá trị pháp lý như nhau. 

ĐẠI DIỆN BÊN B ĐẠI DIỆN BÊN A 

Giám đốc Phó Giám đốc 

(đã ký, đóng dấu) (đã ký, đóng dấu) 


V. Giấy uỷ quyền

CTY TNHH HÀ BÌNH
NM BỘT MỲ YÊN MỸ- HƯNG YÊN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Hưng Yên, ngày 15 tháng 03 năm 2016 

GIẤY ỦY QUYỀN 

  • Căn cứ quyết định số: 42/QĐ-UB ngày 13/01/2000 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hưng Yên cấp về việc thành lập Công ty TNHH Hà Bình 
  • Căn cứ vào tình hình hiện tại của Công ty. 

Tôi tên là: PHẠM HOÀNG KHÁNH 

Chức vụ: Giám đốc Công ty TNHH Hà Bình 

Trụ sở: Nhà máy xay Yên Mỹ, thị trấn Yên Mỹ, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên 

Nay ủy quyền cho: 

Ông: TRẦN NGỌC VĂN 03 

Nơi công tác: Công ty TNHH Hà Bình 

Chức vụ: Phó Giám đốc 

Trụ sở: Nhà máy xay Yên Mỹ, thị trấn Yên Mỹ, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên 

Nội dung ủy quyền: 

Thay mặt tôi ký kết các hợp đồng kinh tế, Hợp đồng tín dụng, các văn bản  pháp lý liên quan đến việc tổ chức điều hành và kinh doanh của Công ty TNHH Hà  Bình 

Địa chỉ: Nhà máy xay Yên Mỹ, thị trấn Yên Mỹ, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên 

Thời hạn ủy quyền: từ ngày 15/03/2016 đến ngày 30/12/2017  

Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung ủy quyền trên. 

CHỮ KÝ CỦA NGƯỜI ĐƯỢC ỦY QUYỀN CHỮ KÝ CỦA NGƯỜI ỦY QUYỀN


VI. Bản xác nhận công nợ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM 

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc 

BẢN XÁC NHẬN CÔNG NỢ 

(Giữa Công ty TNHH Hà Bình và Công ty Kinh doanh và chế biến lương thực Việt Tiến) 

Tính đến tháng 3/2018, Công ty kinh doanh và chế biến lương thực Việt  Tiến xác nhận còn nợ công ty Hà Bình 613.000.000 đồng (Bằng chữ: sáu trăm  mười ba triệu đồng). 

Biên bản được lập thành 02 bản, mỗi bên giữ 01 bản. 

Hưng Yên, ngày 31/3/2018 

Công ty TNHH Hà Bình Công ty Việt Tiến


VII. Công văn đề nghị thanh toán công nợ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc 

Kính gửi: Công ty TNHH KD và CB lương thực Việt  

Tiến V/v thanh toán công nợ 

Căn cứ vào tình hình công nợ của Công ty kinh doanh và chế biến lương  thực Việt Tiến còn nợ công ty TNHH Hà Bình theo bản hợp đồng kinh tế của từng  năm giữa hai công ty tính đến nay số tiền còn nợ đọng là 617.000.000 đồng quá hạn  đã lâu, mức độ thanh toán quá chậm. Bắt đầu từ tháng 4/2018, công ty chúng tôi sẽ  không giao hàng cho công ty Việt Tiến do công ty Việt Tiến còn nợ nhiều tiền hàng  chưa thanh toán. Chúng tôi yêu cầu công ty Viết Tiến phải trả nợ gốc và tiền lãi  phát sinh trên số tiền chậm thanh toán từ tháng 4/2018. 

Hai bên đã thống nhất nội dung với nhau về việc thanh toán trả nợ của  Công ty kinh doanh và chế biến lương thực Việt Tiến trả tiền cho công ty TNHH  Hà Bình và có cụ thể trả lời bằng văn bản với Công ty TNHH Hà Bình. Nhưng đến  nay công ty TNHH Hà Bình chúng tôi vẫn chưa nhận được văn bản trả lời của Quý  Công ty. 

Trên tinh thần hợp tác chúng tôi mong nhận được sự trả lời của Quý Công ty. 

Ngày 04 tháng 4 năm 2018 

CÔNG TY TNHH HÀ BÌNH 

GIÁM ĐỐC


VIII. Công văn trả lời thanh toán công nợ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Hà Nội, ngày 20 tháng 4 năm 2018 

Kính gửi: Ông Giám đốc Công ty TNHH bột mì Hà Bình 

Đầu tiên tôi xin gửi tới Ông và toàn thể Quý Công ty lời chúc sức khỏe và  lời chào trân trọng nhất, thay mặt Công ty Việt Tiến tôi xin chân thành cảm ơn Quý  Công ty về sự hợp tác và giúp[ đỡ của Quý Công ty đối với Công ty chúng tôi trong  thời gian qua. 

Sau khi bàn bạc Công ty chúng tôi xin đề nghị với Quý Công ty về kế  hoạch thanh toán. Tại thời điểm này thị trường mì ăn liền tiêu thụ đang rất chậm,  Quý Công ty hầu như đều bị giảm sản lượng trong đó có Công ty Việt Tiến vì vậy  ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất kinh doanh của Công ty Việt Tiến chúng tôi. Như  đã trao đổi với Quý Công ty về tình hình hoạt động của Công ty Việt Tiến trong  thời gian qua: vừa phải đối phó với biến động giá vật tư, nguyên liệu, vừa triển khai  đầu tư mở rộng sản xuất làm ảnh hưởng đến tiến độ thanh toán công nợ với Quý  Công ty. Với số công nợ còn lại của Quý Công ty, chúng tôi sẽ thanh toán dần hàng  tháng tùy theo điều kiện sản xuất kinh doanh và khả năng cho phép. 

Thưa Quý công ty trong thời gian tới khi mùa vụ thuận lợi và kết thúc đầu tư đưa xưởng mới vào hoạt động, chúng tôi sẽ có điều kiện để rút ngắn thời gian  thanh toán cho Quý Công ty và cụ thể nếu trong kỳ có điều kiện thuận lợi. 

Việc không giao hàng tiếp tục của Qúy công ty từ tháng 4/2018 dẫn đến các  thiệt hại cho chúng tôi. Chúng tôi vẫn phải trả lương cho công nhân, phải trả nợ ngân hàng và phải chịu tiền mua chênh lệch giá bột mì của công ty khác nên chúng  tôi không đồng ý. 

Trên tinh thần hợp tác chúng tôi mong nhận được sự trả lời của Quý Công  ty và yêu cầu công ty tiếp tục giao hàng cho chúng tôi 

CÔNG TY KD CBLT VIỆT TIẾN 

GIÁM ĐỐC 


IX. Công văn đề xuất thanh toán công nợ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc 

Kính gửi: Công ty TNHH KD và CB lương thực Việt Tiến

V/v thanh toán công nợ 

Căn cứ vào tình hình công nợ của Công ty kinh doanh và chế biến lương  thực Việt Tiến còn nợ công ty TNHH Hà Bình theo Bản hợp đồng kinh tế của từng  năm giữa hai công ty tính đến nay số tiền còn nợ đọng quá hạn đã lâu, mức độ  thanh toán quá chậm. 

Theo nội dung công văn số 04 thì Công ty TNHH Hà Bình chúng tôi không  thể chấp nhận được với nội dung chung chung không cụ thể về vấn đề trả nợ, làm  cho Công ty Hà Bình không thể xác định việc thu tiền và trả các khoản nợ đến hạn  của Công ty chúng tôi. Chúng tôi không chịu trách nhiệm gì đối với các thiệt hại  của công ty Việt Tiến bởi vì hợp đồng kinh tế ngày 5/1/2018 không phải do giám đốc của công ty Việt Tiến ký kết. 

Vì vậy, chúng tôi xin thông báo với Quý Công ty đến thương lượng, làm  việc tại Văn phòng công ty chúng tôi vào ngày 30/6/2018. 

Trân trọng kính chào. 

Ngày 10 tháng 06 năm 2018 

CÔNG TY TNHH HÀ BÌNH


X. Công văn từ chối thanh toán công nợ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Kính gửi: Công ty TNHH Hà Bình 

Theo công văn gần đây nhất chúng tôi đã nói rõ những khó khăn trong  sản xuất kinh doanh và có thiện chí sẽ tiếp tục thanh toán dần khoản nợ cũ. Nay Công ty chúng tôi nhận được Công văn số 08/11-HB của Quý  Công ty. Chúng tôi xin được thông báo: 

– Tiền lãi do chậm thanh toán tiền hàng chúng tôi không có trách nhiệm phải trả. 

– Yêu cầu công ty Hà Bình bồi thường thiệt hại cho chúng tôi do đơn  phương chấm dứt hợp đồng kinh tế ký ngày 5/1/2018. Các thiệt hại cụ thể gồm  có: 

– Trả lương cho cán bộ nhân viên 

– Đóng BHXH, BHYT 

– Khấu hao tài sản cố định 

– Trả lãi vay ngân hàng 

– Tiền chênh lệch giá mua bột mì 

Tổng cộng các thiệt hại ước tính 400.000.000 đồng. 

Công ty chúng tôi sẽ đến thương lượng giải quyết tranh chấp với công  ty Hà Bình theo Công văn số 08/11-HB. 

CÔNG TY KD CBLT VIỆT TIẾN

Bình luận về lợi nhuận và việc phân phối lợi nhuận trong hoạt động tài chính doanh nghiệp

Bình luận về lợi nhuận và việc phân phối lợi nhuận trong hoạt động tài chính doanh nghiệp.

Với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế ngày nay, không thể phủ nhận được tầm quan trọng của lợi nhuận đối với 1 doanh nghiệp daquy nhỏ hay lớn. Lợi nhuận vừa là mục tiêu, vừa là động lực và là điều kiện tồn tại của doanh nghiệp.

A. Lý luận chung về lợi nhuận và việc phân phối lợi nhuận trong hoạt động tài chính doanh nghiệp: 

I. Lợi nhuận: 

1. Khái niệm: 

Lợi nhuận được hiểu đơn giản là phần thu nhập còn lại của doanh nghiệp sau khi bù đắp các khoản chi phí phát sinh trong kỳ của doanh nghiệp. Đây Là Phần chênh lệch giữa tổng thu nhập và chi phí

Công thức xác định lợi nhuận: Lợi nhuận = Tổng thu nhập – Tổng Chi phí Trong đó, tổng thu nhập là đối với các doanh nghiệp chủ yếu là doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ. Doanh thu bán hàng hóa và cung cấp dịch vụ là biểu hiện bằng tiền giá trị sản phẩm hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp đã cung cấp cho thị trường trong một thời kỳ nhất định sau khi trừ đi các khoản giảm trừ khác như: giảm giá, chiết khấu thương mại,…thời điểm xác định doanh thu là khi người mua chấp nhận thanh toán. Chi phí là số tiền mà một doanh nghiệp bỏ ra để có được nguồn thu nhập kể trên.

Như vậy, có thể hiểu để tạo ra được lợi nhuận thì tổng doanh thu của doanh nghiệp thực hiện được trong 1 thời kỳ nhất định phải đủ bù đắp được các chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra và phát sinh lãi.

2. Phân loại: 

Hiện nay, các doanh nghiệp ngày càng được phát triển và đa dạng hóa ngành nghề kinh doanh, do đó lợi nhuận thu về đến từ nhiều nguồn gốc khác nhau, bao gồm: 

2.1. Căn cứ vào hoạt động của doanh nghiệp: 
2.1.1. Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh:

Lợi nhuận đến từ hoạt động này là khoản chênh lệch giữa doanh thu của hoạt động sản xuất kinh doanh và chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh. Hoạt Động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là hoạt động đầu tư vốn nhằm tìm kiếm lợi nhuận theo những mục tiêu đã được xác định sẵn từ đầu. Lợi Nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh có thể kể đến như: Lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh hàng hóa dịch vụ; lợi nhuận thu được từ hoạt động sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp,…

2.1.2. Lợi nhuận từ hoạt động tài chính: 

Lợi nhuận thu được từ hoạt động này bao gồm: 

– Lợi nhuận từ góp vốn tham gia liên doanh: 

– Lợi nhuận cho vay vốn 

– Lợi nhuận do bán ngoại tệ 

– Lợi nhuận về cho thuê tài sản 

– Lợi nhuận từ các hoạt động đầu tư mua bán chứng khoán ngắn hạn và dài hạn 

– Lợi nhuận từ các hoạt động đầu tư khác 

2.1.3. Lợi nhuận là hoạt động khác:

Lợi nhuận từ hoạt động khác là khoản chênh lệch giữa doanh thu và chi phí của các hoạt động khác và thuế phải nộp theo quy định (trừ thuế thu nhập doanh nghiệp). Đây là các lợi nhuận thu được từ các hoạt động riêng biệt khác với những hoạt động nêu trên. Những khoản lãi này hiếm khi xảy ra, doanh nghiệp không có dự kiến trước hoặc có kế hoạch nhưng ít có khả năng thực hiện được. 

Lợi nhuận khác thường là các khoản được nhận được từ: – Thu hồi nợ khó đòi đã xử lý, xóa sổ 

– Thu hồi nợ không xác định được chủ 

– Thu tiền phạt vi phạm hợp đồng 

– Doanh thu từ hoạt động kinh doanh của những năm trước bị bỏ sót hoặc quên ghi vào sổ kế toán năm nay mới phát hiện ra. 

2.2. Căn cứ vào quyền chiếm hữu:
2.2.1. Lợi nhuận trước thuế: 

Lợi nhuận trước thuế là số lợi nhuận mà doanh nghiệp thu về sau khi đã trừ đi phần tiền bỏ ra để kinh doanh. Nhưng chưa kể đến thuế phải nộp nhà nước và tiền lãi. 

Công thức tính lợi nhuận trước thuế: EBT= Tổng doanh thu–(Tổng Chi Phí cố định + Tổng chi phí phát sinh). 

Trong đó: 

– Tổng doanh thu: Toàn bộ doanh thu từ hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. 

– Chi phí cố định: Giá vốn bỏ ra, chi phí vận chuyển, chi phí sản xuất,chi phí thuê nhân viên, chi phí thuê địa điểm…

– Chi phí phát sinh: Các chi phí phát sinh theo quá trình hoạt động không theo kế hoạch trước đó. 

Công thức này được áp dụng cho hầu hết các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh.

2.2.2. Lợi nhuận sau thuế: 

Lợi nhuận sau thuế chưa phân phối là lợi nhuận sau thuế khi chưa được sử dụng để tái đầu tư hay các hoạt động khác. Tức là khoản lợi nhuận vẫn được giữ nguyên, chưa được sử dụng vào bất cứ hoạt động thương mại nào của doanh nghiệp. 

Cuối 1 kỳ kế toán sẽ có các tài liệu thống kê như báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, quyết toán thuế, báo cáo tài chính…Trên cơ sở này, các doanh nghiệp có thể phân chia và sử dụng số tiền lợi nhuận một cách hợp lý.

Lợi nhuận sau thuế không chỉ dùng để tái đầu tư mà các doanh nghiệp thường trích lập các quỹ dự phòng hoặc trích khen thưởng, chia cổ tức, trích lập quỹ phúc lợi… Và nếu công ty nào không chia cổ tức, không trích để tiến hành hoạt động gì mà vẫn giữ nguyên số tiền lợi nhuận. Thì đây được là lợi nhuận sau thuế chưa phân phối. Và số tiền này sẽ được cộng dồn kỳ tiếp theo. 

Đa số doanh nghiệp sẽ tính LNST bằng công thức sau: LNST= Tổng doanh thu – ( 30% số tiền đầu tư cho sản xuất kinh doanh 10% thuế giá trị gia tăng + 20% thuế thu nhập doanh nghiệp) 

2.3. Căn cứ vào yêu cầu quản trị: 

Căn cứ vào yêu cầu quản trị thì lợi nhuận có thể chia là Lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT) và Lợi nhuận trước thuế (EBIT) Mối liên hệ của 2 loại lợi nhuận này thể hiện qua công thức: EBIT = EBT + I 

Trong đó: I là chi phí lãi vay trong kỳ. 

3. Các chỉ tiêu đánh giá tình hình lợi nhuận của doanh nghiệp:

Có 5 chỉ tiêu cơ bản để 1 doanh nghiệp có thể dựa vào để đánh giá tình hình lợi nhuận của chính công ty mình, đó là:

– Tổng mức lợi nhuận 

– Tỷ suất lợi nhuận trên tổng vốn kinh doanh – Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu 

– Tỷ suất lợi nhuận trên chi phí 

– Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu 

II. Phân phối lợi nhuận trong hoạt động tài chính doanh nghiệp:

1. Nguyên tắc trong phân phối lợi nhuận: 

Phân phối lợi nhuận nhằm mục đích chủ yếu tái đầu tư mở rộng năng lực hoạt động sản xuất kinh doanh và phát triển vốn của doanh nghiệp, khuyến khích người lao động nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. 

Về nguyên tắc, lợi nhuận được chia làm 2 phần: Phần đem chia là phần không chia. 

Sau khi thực hiện các hoạt động kinh doanh, công ty sẽ tạo ra lợi nhuận, ở giai đoạn này, nhà quản trị cần đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng việc phân phối các khoản lợi nhuận này. Để đảm bảo việc phân chia lợi nhuận một cách công bằng và hợp lý, các công ty cần tuân thủ các nguyên tắc sau:- Điều chỉnh hài hòa mối quan hệ lợi ích giữa các chủ thể, bao gồm Nhà nước,công ty và cá nhân, trước hết cần thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước ( nộp thuế thu nhập) đầy đủ, kịp thời, nhằm tránh trốn thuế, trốn thuế. – Doanh nghiệp nên dành một phần lợi nhuận thỏa đáng để đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh, đồng thời chú trọng bảo vệ lợi ích của các thành viên trong doanh nghiệp; cân bằng giữa lợi ích ngắn hạn và lợi ích dài hạn. 

2. Nội dung phân phối lợi nhuận: 

Doanh nghiệp thực hiện phân phối lợi nhuận theo quy định tại Điều 31 Nghị định 91/2015/NĐ-CP; Điều 2 Nghị định 32/2018/NĐ-CP; Khoản 4 Điều 4 Thông tư 36/2021/TT-BTC và quy định sau:

(1) Lợi nhuận của doanh nghiệp được xác định theo quy định của pháp luật về kế toán sau khi bù đắp lỗ năm trước theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp, trích Quỹ phát triển khoa học và công nghệ, nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định của pháp luật, phần lợi nhuận còn lại được 

phân phối theo quy định tại các khoản 1, 2, 3 Điều 31 Nghị định 91/2015/NĐ-CP Điều 2 Nghị định 32/2018/NĐ-CP. 

(2) Căn cứ để trích lập quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi, quỹ thưởng người quản lý doanh nghiệp, kiểm soát viên xác định như sau: 

– Về xếp loại doanh nghiệp A, B, C làm căn cứ trích lập các quỹ thực hiện theo quy định của Chính phủ về giám sát đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp; giám sát tài chính đánh giá hiệu quả hoạt động và công khai thông tin tài chính của doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100%vốn điều lệ và doanh nghiệp có vốn nhà nước và Thông tư hướng dẫn của Bộ Tài chính. 

– Về tiền lương tháng thực hiện làm căn cứ trích lập các quỹ: 

Đối với trích quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi: căn cứ quỹ tiền lương thực hiện trong năm tài chính của người lao động của doanh nghiệp đã được phê duyệt và được xác định theo quy định tại Nghị định 51/2016/NĐ-CP quy định quản lý lao động, tiền lương và tiền thưởng đối với người lao động làm việc trong công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ và các văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế (nếu có) chia(:)cho 12 tháng. 

Trường hợp, doanh nghiệp thực hiện cơ chế tiền lương, tiền thưởng theo quy định đặc thù thì thực hiện theo quy định riêng của Chính phủ về đặc thù đó. 

Đối với trích quỹ thưởng người quản lý doanh nghiệp, kiểm soát viên: căn cứ quỹ tiền lương, thù lao thực hiện trong năm tài chính của người quản lý doanh nghiệp (chuyên trách và không chuyên trách) đã được chủ sở hữu phê duyệt và được xác định theo quy định của Nghị định 52/2016/NĐ-CP quy định tiền lương, thù lao, tiền thưởng đối với Người quản lý congtytrachnhiem hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100%vốn điều lệ và các văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế (nếu có), chia (:) cho 12 tháng. 

Trường hợp, doanh nghiệp thực hiện cơ chế tiền lương, tiền thưởng theo quy định đặc thù thì thực hiện theo quy định riêng của Chính phủ về đặc thù đó. 

3. Phân phối lợi nhuận ở từng hình thức doanh nghiệp:

3.1. Doanh nghiệp nhà nước: 

– Lợi nhuận thực hiện sau khi bù đắp lỗ năm trước và nộp thuế TNDN được phân phối như sau: 

+ Chia lãi cho các thành viên góp vốn liên doanh liên kết theo(nếu có)

+ Bù đắp khoản lỗ của các năm trước đã hết thời hạn được trừ vào lợi nhuận trước thuế; 

+ Trích 10% vào quỹ dự phòng tài chính; khi số dư bằng 25%vốn điều lệ thì không chích nữa; 

+ Trích lập các quỹ đặc biệt từ lợi nhuận sau thuế theo tỷ lệ đã được nhà nước quy định đối với công ty đặc thù mà pháp luật quy định phải trích lập;

+ Số còn lại sau khi lập các quỹ quy định tại các điểm nếu trên khoản này được phân phối theo tỷ lệ giữa vốn nhà nước đầu tư tại công ty và vốn công ty tự huy động bình quân trong năm. 

Vốn do công ty tự huy động do phát hành trái phiếu, tín phiếu, vay của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, công ty tự chịu trách nhiệm hoàn trả cả gốc và lãi cho người cho vay theo cam kết, trừ các khoản vay có bảo lãnh của Chính phủ, Bộ Tài chính, các khoản vay được hỗ trợ lãi suất. 

– Phần lợi nhuận được chia theo vốn nhà nước đầu tư được dùng để tái đầu tư bổ sung vốn nhà nước tại công ty nhà nước. Trường hợp không cần thiết bổ sung vốn nhà nước tại công ty nhà nước, đại diện chủ sở hữu quyết định điều động về quỹ tập trung để đầu tư vào các công ty khác. Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập quỹ này. 

– Lợi nhuận được chia theo vốn tự huy động được phân phối như sau: + Trích tối thiểu 30% vào quỹ đầu tư phát triển của công ty; 

+ Trích tối đa 5% lập quỹ thưởng Ban quản lý điều hành công ty. Mức Trích một năm không vượt quá 500 triệu đồng (đối với công ty có Hội đồng quản trị), 200 triệu đồng (đối với công ty không có Hội đồng quản trị)với điều kiện tỷ suất lợi nhuận thực hiện trước thuế trên vốn nhà nước tại công ty phải bằng hoặc lớn hơn tỷ suất lợi nhuận kế hoạch

+ Số lợi nhuận còn lại được phân phối vào quỹ khen thưởng, phúc lợi của công ty. Mức trích vào mỗi quỹ do Hội đồng quản trị hoặc Giám Đốc Công ty quyết định sau khi tham khảo ý kiến của Ban Chấp hành Công đoàn công ty. 

3.2. Công ty TNHH một thành viên nhà nước sở hữu 100%vốn điều lệ:

Lợi nhuận thực hiện sau khi bù đắp lỗ năm trước và nộp thuế thu nhập doanh nghiệp được phân phối như sau: 

+ Quỹ khen thưởng, phúc lợi trích tối đa mỗi quỹ bằng 10%lợi nhuận sau thuế sau khi trích lập quỹ dự phòng tài chính và quỹ đặc biệt nếu có; 

+ Quỹ thưởng ban quản lý điều hành trích tối đa 5%, mức cụ thể do chủ sở hữu quyết định; 

+ Quỹ đầu tư phát triển tối thiểu 65% lợi nhuận sau thuế sau khi trích lập quỹ dự phòng tài chính và quỹ đặc biệt nếu có. 

3.3. Công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh:

Sau khi thực hiện nghĩa vụ đối với ngân sách nhà nước và bù đắp các khoản chi phí đã chi ra trong kỳ, phan lợi nhuận sau thuế sẽ tiến hành phân phối theo điều lệ của công ty và đại hội cổ đông hàng năm, gồm:

+ Trích lập quỹ dự trữ bắt buộc là 5%, số dư quỹ này bằng 10%vốn điều lệ của công ty thì công ty không trích nữa. 

+ Trích lập các quỹ tích luỹ tái đầu tư. 

+ Chia cổ tức cho cổ đông, các thành viên góp vốn.

3.4. Công ty tư nhân: 

Sau khi thực hiện nghĩa vụ đối với ngân sách nhà nước, doanh nghiệp sẽ tiến hành trừ các chi phí bất hợp lệ đã chi ra trong kỳ, số còn lại toàn quyền quyết định của chủ doanh nghiệp. 

B. Bình luận về lợi nhuận và việc phân phối lợi nhuận trong hoạt động tài chính doanh nghiệp: 

Thứ nhất, một doanh nghiệp có mức lợi nhuận trong kỳ cao thì chưa chắc doanh nghiệp đó sẽ luôn có khả năng thanh toán tốt trong kỳ đó vì khả năng thanh toán của một doanh nghiệp phụ thuộc vào dòng tiền mặt của doanh nghiệp. Nếu lợi nhuận nhiều dưới dạng tài sản cố định hoặc các dạng tài sản không thể chuyển hóa thành tiền mặt thì khả năng thanh toán của doanh nghiệp đó sẽ không tốt. 

Thứ hai, một doanh nghiệp có lợi nhuận cao vẫn có thể bị phá sản. Khi Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là khi đó họ không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu. Một doanh nghiệp có mức lợi nhuận trong kỳ cao thì chưa chắc khả năng thanh toán trong kì đó sẽ tốt cho nên dù doanh nghiệp có lợi nhuận cao thì vẫn có thể bị phá sản do tình hình tài chính không tốt. 

Thứ ba, lợi nhuận là nguồn khuyến khích vật chất đối với người lao động.Khi lợi nhuận của doanh nghiệp được nâng cao, người lao động sẽ nhận được thu nhập thỏa đáng hơn. Rõ ràng điều này làm kích thích khả năng sáng tạo cũng như hứng thú làm việc cho người lao động, từ đó tăng năng suất, hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.

Thứ tư, nếu như coi lợi nhuận là đòn bẩy kinh tế trong sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp thì vấn đề không dừng lại ở quy mô lợi nhuận nhiều hay ít, tỷ suất lợi nhuận cao hay thấp mà vấn đề ở chỗ phân phối lợi nhuận như thế nào. Chính phân phối lợi nhuận mới tác động tới các mặt lợi ích của nhà nước, doanh nghiệp và người lao động. Nếu như lợi nhuận của doanh nghiệp làm ra, nhà nước huy động tất cả hay phần lớn thì không kích thích chính doanh nghiệp đó tạo ra lợi nhuận và người lao động cũng không có hứng thú, động lực trong sản xuất, hoàn thành công việc. Chỉ khi nào doanh nghiệp làm ra lợi nhuận, được quyền chi phối phần lớn lợi nhuận để tích lũy cho doanh nghiệp và giải quyết lợi ích cho người lao động thì đòn bẩy lợi nhuận mới phát huy tốt hơn vai trò của nó. 

Lợi nhuận là mục tiêu kinh tế cao nhất mà một doanh nghiệp hướng đến,bất kỳ doanh nghiệp nào cũng sẽ có chính sách phân phối lợi nhuận hợp lý cho việc vận hành công ty vẫn đạt hiệu quả cũng như chế độ đối với nhân viên vẫn đảm bảo, để từ đó năng suất và hiệu quả công việc được nâng cao. Qua việc tìm hiểu về lợi nhuận và phân phối lợi nhuận trong tài chính doanh nghiệp em đã hiểu rõ hơn tầm quan trọng của vấn đề này trong sự lớn mạnh của doanh nghiệp.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Nghị định 91/2015/NĐ-CP. 

2. Nghị định 32/2018/NĐ-CP. 

3. Nghị định 52/2016/NĐ-CP 

4. Thông tư 36/2021/TT-BTC 

Bình luận các phương thức giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh theo Luật Bảovệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010

Bình luận các phương thức giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh theo Luật Bảovệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010.

Pháp luật về giải quyết tranh chấp trong tiêu dùng có vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh các quan hệ tiêu dùng, cũng như giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng với tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, và dịch vụ. Vì vậy,khi tranh chấp phát sinh, các phương thức giải quyết tranh chấp sẽ được đưa để so sánh và chọn lựa.

CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP GIỮA NGƯỜI TIÊU DÙNG VÀ TỔ CHỨC, CÁ NHÂN KINH DOANH VÀ PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TIÊU DÙNG

1. Khái niệm tranh chấp giữa người tiêu dùng với tổ chức, cá nhân kinh doanh: 

Mỗi quốc gia đều có một cách nhìn khác nhau về khái niệm tranh chấp tiêu dùng. Tranh chấp trong tiêu dùng trong pháp luật Đài Loan định nghĩa là:“Tranh chấp phát sinh do việc mua bán hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ của người tiêu dùng và doanh nghiệp kinh doanh” 

Do vậy, nhìn một cách tổng quát thì tranh chấp liên quan tới quyền lợi của người tiêu dùng được hiểu là những mâu thuẫn về quyền và nghĩa vụ hợp pháp giữa một bên là người tiêu dùng và 1 bên là thương nhân trong đó người tiêu dùng với tư cách một bên trong quan hệ pháp luật tiêu dùng mà bị thiệt hại hoặc cho rằng bị thiệt hại đòi hỏi quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Tranh chấp trong tiêu dùng phát sinh phần lớn là vì quan hệ tiêu uống được xây dựng trên nền tảng của hợp đồng mua bán và NTD thường ở vị thế yếu hơn,còn thương nhân ở vị thế mạnh hơn. Khi mối quan hệ giữa NTD và thương nhân xảy ra mâu thuẫn không thể giải quyết được sẽ dẫn đến tranh chấp trong tiêu dùng. Tranh chấp của NTD chủ yếu về quyền lợi, không vì mục tiêu lợi nhuận và khác biệt so với các tranh chấp khác như tranh chấp trong kinh doanh thương mại, hoặc tranh chấp dân sự thông thường,… 

Trên cơ sở khái niệm và bản chất của tranh chấp tiêu dùng, giải quyết tranh chấp tiêu dùng được hiểu là việc cơ quan, hoặc tổ chức có thẩm quyền xem xét và ra quyết định xử lý các tranh chấp tiêu dùng trên cơ sở xem xét tài liệu,chứng cứ có trong vụ việc tranh chấp tiêu dùng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong quan hệ tiêu dùng. 

2. Pháp luật về giải quyết tranh chấp tiêu dùng:

Về Các phương thức giải quyết tranh chấp tiêu dùng:

Giải quyết tranh chấp tiêu dùng theo Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 quy định từ Điều 30 đến Điều 46. Cơ sở pháp lý để giải quyết tranh chấp tiêu dùng bao gồm: Dựa vào các quy định Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng làm trung tâm, và các ngành luật khác có liên quan đến việc giải quyết tranh chấp như: Bộ luật Dân sự, Luật Thương mại, Luật Vệ sinh an toàn thực phẩm, Luật Cạnh tranh…Dựa vào các quy định luật hình thức và trình tự giải quyết tranh chấp theo Bộ luật Tố tụng dân sự. 

2.1. Thương lượng: (Điều 31-32) 

Người tiêu dùng có quyền gửi yêu cầu đến tổ chức, cá nhân để thương lượng khi cho rằng quyền , lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. Đây là cách giải quyết tranh chấp phát sinh giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân thông dụng nhất và đảm bảo lợi ích các bên.

Tổ chức, cá nhân có trách nhiệm tiếp nhận, tiến hành thương lượng với người tiêu dùng trong thời hạn không quá 07 ngày làm việc, kể từ ngày tiếp nhận được yêu cầu. 

Quá thời hạn trên, nếu tổ chức, cá nhân không giải quyết hoặc giải quyết không thỏa đáng, người tiêu dùng có thể gia hạn để tiếp tục thương lượng hoặc sử dụng các phương thức giải quyết tranh chấp khác như hòa giải, trọng tài hoặc tòa án. 

2.2. Hòa giải: (Điều 33-37) 

Hòa giải là một trong các phương thức giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ. Hòa giải là việc giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân thông qua bên thứ ba. 

Tổ chức, cá nhân và người tiêu dùng có quyền thỏa thuận lựa chọn bên thứ ba là cá nhân hoặc tổ chức hòa giải để thực hiện hòa giải. Hòa giải được thực hiện trên các nguyên tắc sau: 

– Bảo đảm khách quan, trung thực, thiện chí, không được ép buộc, lừa dối.- Tổ chức, cá nhân tiến hành hòa giải, các bên tham gia hòa giải phải bảo đảm bí mật thông tin liên quan đến việc hòa giải, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác. 

2.3. Trọng tài: (Điều 38-40) 

Phương thức trọng tài được sử dụng khi điều khoản trọng tài được tổ chức,cá nhân thông báo trước khi ký kết hợp đồng giao dịch và được người tiêu dùng chấp thuận. 

Trường hợp điều khoản trọng tài do tổ chức, cá nhân đưa vào hợp đồng theo mẫu hoặc điều kiện giao dịch chứng thì khi xảy ra tranh chấp, người tiêu dùng là cá nhân có quyền lựa chọn phương thức khác nếu không nhất trí phương thức trọng tài.

Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp tại trọng tài được thực hiện theo quy định của pháp luật về trọng tài thương mại. 

Tham khảo: 

– Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam và các Trung tâm trọng tài thương mại khác. 

– Các văn phòng khiếu nại của Hội tiêu chuẩn và bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam và các Hội ở các tỉnh, thành phố. 

2.4. Tòa án: (Điều 41-46) 

Vụ án dân sự về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được giải quyết theo thủ tục đơn giản quy định trong pháp luật về tố tụng dân sự khi có đủ các điều kiện sau đây: 

1. Cá nhân là người tiêu dùng khởi kiện; tổ chức, cá nhân trực tiếp cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng bị khởi kiện; 2. Vụ án đơn giản, chứng cứ rõ ràng; 

3. Giá trị giao dịch dưới 100 triệu đồng. 

Nghĩa vụ chứng minh trong vụ án dân sự về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 

1. Người tiêu dùng có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh trong vụ án dân sự để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, trừ việc chứng minh lỗi của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ. 

2. Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hoá, dịch vụ có nghĩa vụ chứng minh mình không có lỗi gây ra thiệt hại. 

3. Toà án quyết định bên có lỗi trong vụ án dân sự về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. 

Người tiêu dùng khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình không phải nộp tạm ứng án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án.

Tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được quyền đại diện hoặc tự mình khởi kiện vì lợi ích công cộng. 

Ngoài bốn phương thức trên, Điều 25 và 26 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng quy định về giải quyết yêu cầu bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tại cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ người tiêu dùng cấp huyện. Quy định này được hướng dẫn chi tiết từ Điều 20 đến Điều 23 Nghị định Chính phủ số 99/2011/NĐ-CP ngày 27 tháng 10 năm 2011 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Theo đó: 

Trường hợp phát hiện hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của tổ chức, cá nhân gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích của nhiều người tiêu dùng, lợi ích công cộng thì người tiêu dùng có quyền yêu cầu trực tiếp hoặc bằng văn bản đến cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cấp huyện nơi thực hiện giao dịch giải quyết. 

Sau khi tiếp nhận yêu cầu bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, cơ quan có thẩm quyền tiến hành giải quyết yêu cầu. Trường hợp cần thiết, cơ quan có thẩm quyền có quyền yêu cầu các bên giải trình, cung cấp thêm thông tin, tài liệu phục vụ cho việc giải quyết yêu cầu bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. 

Trong thời hạn mười lăm (15) ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận yêu cầu bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng hợp lệ, cơ quan có thẩm quyền phải trả lời theo quy định tại Điều 26 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Trường Hợp Vụ việc phức tạp, thời hạn trả lời có thể được gia hạn nhưng không quá mười lăm (15) ngày làm việc. 

Trong quá trình giải quyết yêu cầu bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, nếu cơ quan có thẩm quyền xác định vụ việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật về xử lý vi phạm hành chính hoặc vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan khác thì chuyển hồ sơ vụ việc cho cơ quan đó giải quyết và nêu rõ trong văn bản trả lời người tiêu dùng.

CHƯƠNG II: BÌNH LUẬN VỀ CÁC PHƯƠNG THỨC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP GIỮA NGƯỜI TIÊU DÙNG VÀ TỔ CHỨC, CÁ NHÂN KINH DOANH

1. Thực trạng các quy định theo Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 về giải quyết tranh chấp tiêu dùng ở Việt Nam:

Sau 10 năm thực thi Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, cho thấy các ưu điểm, nhược điểm đã dần bộc lộ và quy định về giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng với tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa dịch vụ vẫn còn một số hạn chế nhất định, cụ thể như sau: 

Thứ nhất, đối với phương thức thương lượng: 

Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010 chưa đề cập tới thời hạn ràng buộc các bên phải đạt được thỏa thuận thương lượng để giải quyết dứt điểm tranh chấp và ràng buộc các bên đối với trách nhiệm thi hành kết quả thương lượng đã được các bên thông qua. Tại Khoản 2 Điều 31 Luật BVQLNTD 2010 chỉ quy định: “Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có trách nhiệm tiếp nhận, tiến hành thương lượng với người tiêu dùng trong thời hạn không quá 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu.” Quy định này chỉ mới giới hạn thời hạn tiếp nhận và tiến hành thương lượng trong tranh chấp tiêu dùng mà chưa đề cập tới thời hạn ràng buộc các bên phải đạt được thỏa thuận thương lượng để giải quyết dứt điểm tranh chấp. Điều này vô tình tạo ra khe hở phải doanh nghiệp nếu họ cố tình kéo dài thời gian thương lượng giữa các bên nhằm tạo ra ưu thế trong thương lượng và trì hoãn đưa ra kết quả cuối cùng. 

Thứ hai, đối với giải quyết tranh chấp tại Tòa án:

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 43 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010, Người tiêu dùng một khi khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chính mình thì không phải tạm ứng án phí, đồng thời cũng không phải tạm ứng lệ phí Tòa án. Theo quy định Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 về nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí, tiền tạm ứng lệ phí khi có người muốn yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự thì họ phải có nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng lệ phí theo quy định pháp luật, trừ trường hợp họ được phép miễn hoặc không cần phải nộp tiền tạm ứng lệ phí. 

Người tiêu dùng là chủ thể đặc biệt, khi khởi kiện không cần phải tạm ứng án phí và lệ phí so với các chủ thể thông thường khác. Tuy nhiên, Tòa Án Khi áp dụng pháp luật để xét xử, giải quyết tranh chấp, Tòa án loại trừ quyền tiên, và quyền hợp pháp của người tiêu dùng là không phải tạm ứng lệ phí, án phí. Đồng

thời, Tòa án không chấp nhận người sử dụng dịch vụ, hàng hóa với tư cách là người tiêu dùng khi họ thuê dịch vụ hoặc hàng hóa nào đó của các cá nhân, tổ chức, bao gồm thương nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ. 

Tòa án bắt buộc họ phải đóng tạm ứng án phí, lệ phí thì Tòa án mới thụ lý giải quyết. Tòa cho là việc gì giải quyết tranh chấp giữa người sử dụng dịch vụ là người thuê đối với một dịch vụ của một cá nhân hoặc tổ chức nào đó chỉ đơn thuần là vấn đề dân sự thông thường chứ không liên quan đến tiêu dùng.Đồng Thời, Tòa án cho là việc sử dụng dịch vụ như đề cập ở trên thì không phải là người tiêu dùng 

2. Giải pháp hoàn thiện: 

Thứ nhất, đối với phương thức thương lượng, hòa giải:

Sớm bổ sung cơ chế bảo đảm thực thi kết quả thương lượng, hòa giải bởi hệ thống cơ quan tư pháp và thi hành án dân sự. Kết quả thương lượng, hòa giải sau khi được lập thành biên bản có thể phải đăng ký tại cơ quan tòa án và chuyển tới cơ quan thi hành án để thực thi. Hỗ trợ quá trình thực thi các phán quyết trên là hệ thống các trung tâm thừa phát lại được tổ chức nhằm giảm tài cho co quan thi hành án dân sự của nhà nước. Trình tự công nhận và thi hành thỏa thuận thương lượng, hòa giải sẽ áp dụng theo trình tự rút gọn, tòa án tôn trọng và không can thiệp vào nội dung và giá trị pháp lý của thỏa thuận.

Thứ hai, đối với án phí: 

Theo Khoản 2 Điều 43 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 không nên quy định “Người tiêu dùng khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền,lợi ích hợp pháp của mình không phải nộp tạm ứng án phí, tạm ứng lệ phí Tòa Án”. Nên quy định NTD khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình không phải nộp tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án các cấp. 

Việc nghiên cứu về các phương thức giải quyết tranh chấp thương mại nói chung và tranh chấp giữa người tiêu dùng và cá nhân, tổ chức kinh doanh nói riêng là rất quan trọng, trong quá trình phát triển hiện nay, vai trò của người tiêu dùng phải càng được nâng cao và quan tâm hơn, việc đẩy mạnh các biện pháp bảo đảm để các quy định được áp dụng trong thực thế một cách nhuần nhuyễn giúp các chủ thể tham gia mối quan hệ tiêu dùng nhận thức được rõ hơn quyền và nghĩa vụ của mình khi xảy ra tranh chấp tiêu dùng.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010 2. Luật thương mại 2005 

3. Bộ luật tố tụng dân sự 2015 

4. Nghị định Chính phủ số 99/2011/NĐ-CP ngày 27 tháng 10 năm 2011 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 

5. Nguyễn Trọng Điệp (2014), Giải quyết tranh chấp của người tiêu dùng với thương nhân ở Việt Nam hiện nay.

Đánh giá các quy định pháp luật về chế độ thai sản

Đánh giá các quy định pháp luật về chế độ thai sản.

Hiện nay tại một số doanh nghiệp trong và ngoài nước với đặc thù công việc thì đa phần sẽ là lao động nữ số lao động nữ, điều này có tác động sâu sắc tới vấn đề bảo hiểm thai sản.

CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM THAI SẢN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM THAI SẢN 

1. Lý luận chung về chế độ bảo hiểm thai sản:

1.1. Khái niệm bảo hiểm thai sản: 

Chế độ bảo hiểm thai sản là một trong các chế độ của Bảo hiểm xã hội,bao gồm các quy định của Nhà nước nhằm bảo đảmthu nhập bị giảm và chi phí tăng lên. Điều này không chỉ đảm bảo sức khỏe cho người lao động nữ nói riêng trong quá trình mang thai, sinh con mà còn cho người lao động nói chung khi nuôi con sơ sinh và thực hiện các biện pháp tránh thai.

1.2. Ý nghĩa của bảo hiểm thai sản: 

Theo “Báo cáo Tổng kết chính sách bảo hiểm xã hội” của Bộ Lao động,Thương binh và Xã hội, từ năm 2000 đến nay, bình quân cứ 30 người tham gia bảo hiểm xã hội có 1 người được hưởng trợ cấp thai sản, với độ dài hưởng trợ cấp bình quân là 90 ngày. Từ năm 1995 đến nay, đã giải quyết cho gần 1,31 triệu lượt người hưởng chế độ thai sản. Như vậy, chế độ bảo hiểm có ý nghĩa rất quan trọng đối với người lao động (cả nam và nữ), cụ thể là:

– Tạo điều kiện cho lao động nữ thực hiện tốt chức năng làm mẹ và thực hiện công tác xã hội. 

– Tạo điều kiện cho lao động nam thực hiện nghĩa vụ khi có vợ sinhcon.

– Đảm bảo thu nhập cho người lao động trong thời gian hưởng thai sản.

– Đảm bảo sức khỏe cho người lao động và quyền được chăm sóc của trẻ sơ sinh. 

2. Quy định của pháp luật về chế độ bảo hiểm thai sản:

2.1. Đối tượng và điều kiện hưởng chế độ bảo hiểm thai sản:

Căn cứ theo Điều 30,31 Luật BHXH 2014 Nghị định115/2015/NĐ-CP của Chính phủ quy định người lao động được hưởng chế độ thai sản khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: 

a) Lao động nữ mang thai; 

b) Lao động nữ sinh con; 

c) Người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi; 

d) Người lao động nữ đặt vòng tránh thai, thực hiện các biện pháp triệt sản. 

đ) Lao động nữ mang thai hộ và người mẹ nhờ mang thai hộ

e) Người lao động nam đang đóng BHXH có vợ sinh con 

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 31 Luật BHXH2014, người lao động thuộc các trường hợp trên phải tham gia BHXH như sau: 

“2.Người lao động quy định tại các điểm b, c và d phải đóng BHXH từ đủ 06 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi. 

3.Người lao động quy định tại điểm b khoản 1 Điều này đã đóng BHXH từ đủ 12 tháng trở lên mà khi mang thai phải nghỉ việc để dưỡng thai theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền thì phải đóng BHXH từ đủ 03 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con.”

2.2. Chế độ và quyền lợi bảo hiểm thai sản:

2.2.1. Đối với thời gian hưởng chế độ bảo hiểm thai sản:

Căn cứ theo Điều 32, 33, 34, 35, 36 và 37 Luật BHXH quy định chi tiết thời gian hưởng chế độ Bảo hiểm thai sản như sau:

2.2.1.1. Thời gian nghỉ khám thai:(Điều 32)

Lao động nữ được nghỉ việc để đi khám thai 05 lần, mỗi lần 01 ngày; trường hợp ở xa cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hoặc người mang thai có bệnh lý hoặc thai không bình thường thì được nghỉ 02 ngày cho mỗi lần khám thai.Thời gian nghỉ này tính theo ngày làm việc không kể ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết,ngày nghỉ hằng tuần. 

2.2.1.2. Thời gian nghỉ khi bị sẩy thai, nạo, hút thai: (Điều 33)

Để giúp người lao động nữ nhanh chóng phục hồi sức khỏe, sớmổnđịnhnhịp sinh học của cơ thể, tại Khoản 1, Điều 33 của Luật Bảo hiểm xã hội năm2014 quy định, khi sảy thai, lao động nữ được nghỉ việc, hưởng chế độ thai sản theo chỉ định của bệnh viện có thẩm quyền. Trong thời gian nghỉ việc (tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết và ngày nghỉ hằng tuần), việc hưởng trợ cấp sẽ là :

– 10 ngày đối với trường hợp thai dưới 05 tuần tuổi. – 20 ngày đối với trường hợp thai từ 05 tuần tuổi đến dưới 13 tuần tuổi.- 50 ngày nếu thai từ 25 tuần tuổi trở lên. 

– 40 ngày nếu thai từ 13 tuần tuổi đến dưới 25 tuần tuổi.

Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay, với nhịp độ cuộc sống cũngnhư yêu cầu của công việc, nhu cầu cần đảm bảo về sức khỏe sinh sản thì mức nghỉ trên là còn thấp.

2.2.1.3. Thời gian nghỉ sinh con: ( Điều 34)

– Đối với lao động nữ: 

∙Thời gian nghỉ thai sản trước và sau khi sinh con tối đa là 6 tháng, trong đó nghỉ trước sinh không quá 02 tháng. 

∙Trường hợp lao động nữ sinh đôi trở lên, cứ thêm mỗi con, người mẹ được nghỉ thêm 01 tháng. 

– Đối với lao động nam: 

∙Trường hợp thông thường, lao động nam đóng BHXH được nghỉ 05 ngày khi có vợ sinh con. 

∙Trường hợp vợ sinh con phẫu thuật, thời gian nghỉ là 07 ngày.

∙Trường hợp sinh đôi: Nghỉ 10 ngày. 

∙Trường hợp sinh ba trở lên, cứ thêm mỗi con thì lao động nam được nghỉ thêm 03 ngày. 

∙Nếu vợ sinh đôi và phải phẫu thuật, lao động namđược nghỉ 14 ngày làm việc. 

2.2.1.4. Chế độ thai sản của lao động nữ mang thai hộ và người mẹ nhờ mang thai hộ: (Điều 35) 

– Lao động nữ mang thai hộ được hưởng chế độ khi khám thai, sẩy thai,nạo, hút thai, thai chết lưu hoặc phá thai bệnh lý và chế độ khi sinh con cho đến thời điểm giao đứa trẻ cho người mẹ nhờ mang thai hộ nhưng không vượt quá thời gian quy định. Trong trường hợp kể từ ngày sinh đến thời điểm giao đứa trẻ mà thời gian hưởng chế độ thai sản chưa đủ 60 ngày thì người mang thai hộ vẫn được hưởng chế độ thai sản cho đến khi đủ 60 ngày tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần. 

– Người mẹ nhờ mang thai hộ được hưởng chế độ thai sản từ thời điểm nhận con cho đến khi con đủ 06 tháng tuổi. 

– Thủ tục hưởng chế độ thai sản đối với lao động nữ mang thai hộ và người mẹ nhờ mang thai hộ được quy định 

2.2.1.5. Thời gian nghỉ khi nuôi con nuôi: (Điều 36)

Người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi thì được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản cho đến khi con đủ 06 tháng tuổi. 

Trường hợp cả cha và mẹ cùng tham gia bảo hiểm xã hội, đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản quy định tại khoản 2, Điều 31 của Luật Bảo hiểm xã hội 2014 thì chỉ cha hoặc mẹ được nghỉ việc hưởng chế độ. 

Để bảo vệ quyền lợi cho những người nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi, Điều 36, Luật Bảo hiểm xã hội (2014) quy định đây cũng là một trongnhững đối tượng được hưởng chế độ thai sản cụ thể là sẽ được nhận trợ cấp một lần cho mỗi con. Căn cứ Điều 39, Luật Bảo hiểm xã hội (2014), ngoài khoản tiền trợ cấp một lần nêu trên, người nhận con nuôi dưới 06 tháng tuổi còn được hưởng một khoản tiền bằng 100% mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH của 06 tháng trước khi nghỉ việc hưởng chế độ thai sản. 

2.2.1.6. Thời gian hưởng chế độ khi thực hiện các biện pháp tránh thai:(Điều 37) 

Khi thực hiện biện pháp tránh thai, hưởng chế độ thai sản theo chỉ định của cơ sở khám bệnh; chữa bệnh có thẩm quyền. Thời gian nghỉ việc tối đa được quy định như sau: 

– 07 ngày đối với lao động nữ đặt vòng tránh thai; – 15 ngày đối với NLĐ thực hiện biện pháp triệt sản. 

Thời gian hưởng chế độ thai sản nêu trên tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết,ngày nghỉ hằng tuần.

Trước đây, khi thực hiện các biện pháp tránh thai, người lao động chỉ được hưởng mức trợ cấp theo chế độ ốm đau (thấp hơn chế độ thai sản). Trong khi, các biện pháp tránh thai này đều gây ra ảnh hưởng không nhỏ tới sức khỏe và tâm lý của người lao động. Vì thế, thay đổi về quan điểm của nhà làm luật đã thể hiện sự thấu hiểu và đảm bảo tính công bằng, cũng như có sự hỗ trợ, động viên đối với người lao động khi thực hiện các biện pháp tránh thai

2.2.2. Các loại trợ cấp và mức hưởng chế độ bảo hiểmthai sản:

* Đối với lao động nữ: 

– Trợ cấp 1 lần: 

Theo Điều 38 Luật Bảo hiểm xã hội 2014, lao động nữ sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi sẽ được hưởng tiền thai sản, bao gồm: Trợ cấp một lần = Mức lương cơ sở x 2 

Năm 2021, mức lương cơ sở là 1,49 triệu đồng/tháng. Do đó, mức trợ cấp một lần khi sinh còn là: 1,49 triệu đồng x 2 = 2,96 triệu đồng.

– Mức hưởng: 

– NLĐ hưởng chế độ thai sản theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội 2014 thì mức hưởng chế độ thai sản được tính như sau: 

+ Mức hưởng một tháng bằng 100% mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH của 06 tháng trước khi nghỉ việc hưởng chế độ thai sản, Trường hợp NLĐ đóng BHXH chưa đủ 06 tháng thì mức hưởng chế độ thai sản theo quy định là mức bình quân tiền lương tháng của các tháng đã đóng BHXH; 

+ Mức hưởng một ngày đối với trường hợp quy định được tính bằng mức hưởng chế độ thai sản theo tháng chia cho 24 ngày; 

+ Mức hưởng chế độ khi sinh con; nhận nuôi con nuôi được tính theo mức trợ cấp tháng quy định; trường hợp có ngày lẻ hoặc trường hợp quy định thì mức hưởng một ngày được tính bằng mức trợ cấp theo tháng chia cho 30 ngày.

– Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng được tính là thời gian đóng BHXH, NLĐ và người sử dụng lao động không phải đóng BHXH. 

Như vậy có thể hiểu ngắn gọn: 

Mức hưởng hàng tháng = 100% x Mức bình quân tiền lươngthángđóngBHXH 06 tháng trước khi nghỉ việc 

Trường hợp chưa đóng đủ 06 tháng thì mức hưởng được tính theo mức bình quân tiền lương tháng của các tháng đã đóng. 

* Đối với lao động nam: 

Trợ cấp: 

Trợ cấp một lần = Mức lương cơ sở x 2 (tức 2,96 triệu đồng) – Tiền chế độ: 

Theo Điểm b khoản 1 Điều 39 Luật Bảo hiểmxã hội 2014: Mức hưởng = Mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXHcủa06thángtrước khi nghỉ việc : 24 x Số ngày nghỉ 

CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ VỀ CHẾ ĐỘ BẢO HIỂMTHAI SẢN

3. Thực trạng áp dụng các quy định về chế độ bảo hiểm thai sản:

3.1. Về đối tượng và điều kiện hưởng chế độ thai sản: – Về đối tượng: 

So với Luật Bảo hiểm xã hội 2006 trước đây, Luật Bảo hiểm xã hội 2014- Điều 30 đã mở rộng thêm phạm vi áp dụng chế độ bảo hiểm thai sản cho trường hợp người lao động là người làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 03 tháng và người quản lý doanh nghiệp, người quản lý điều hành hợp tác xã có hưởng tiền lương. Tuy nhiên, trong các đối tượng hưởng trợ cấp thai sản đã quy định chưa tính đến một số trường hợp,như: người lao động phải nghỉ việc vì mang thai bệnh lí, người nuôi dưỡng trẻ sơ sinh khi người mẹ tham gia bảo hiểm bị chết sau khi sinh con, lao động nam có tham gia bảo hiểm xã hội nhưng vợ không thamgia bảo hiểm. Như thế, chưa thể hiện sự bình đẳng giữa các đối tượng thuộc diện tham gia và hưởng bảo hiểm thai sản, đồng thời chưa đảm bảo đầy đủ quyền cho người lao động, đặc biệt cho lao động nữ và trẻ sơ sinh.

– Về điều kiện: 

Việc quy định điều kiện để hưởng trợ cấp thai sản – người lao động phải có thời gian đóng BHXH đủ 6 tháng trong vòng 12 tháng trước khi sinh con–dẫn đến những trường hợp đã có thời gian tham gia BHXH nhiều năm, nhưngvì lý do nào đó không đủ điều kiện nêu trên thì sẽ không được hưởng chế độ thai sản và không được tính thời gian nghỉ thai sản theo quy định. Quy định này không đảm bảo quyền lợi cho người lao động và còn dẫn đến tình trạng“lách” luật (lao động nữ nghỉ việc nhưng vẫn đóng BHXH để đủ điều kiện hưởng trợ cấp thai sản) 

3.2. Về Các loại trợ cấp và mức hưởng bảo hiểmchế độ thai sản:

Đây là khoản tiền nhằm bù đắp thêm những chi phí tăng lênđột ngột do người mẹ cần phải sắm sửa những vật dụng cần thiết cho việc nuôi con nhỏ. Vì vậy, để đảm bảo sự công bằng, pháp luật cần ấn định bằng một khoản tiền cụ thể giống như các nước, cụ thể bằng 3 đến 5 tháng tiền lương tối thiểu chung. Và khoản trợ cấp này được áp dụng cho cả người lao động nuôi con nuôi sơ sinh. Mức trợ cấp 1 lần được áp dụng cho mỗi trẻ sơ sinh kèm theo trợ cấp mất sữa, trợ cấp thêm sữa cho trường hợp sinh đôi trở lên hoặc trường hợp khi sinh con bị thiếu cân, thiếu tháng. 

4. Một số kiến nghị, đề xuất: 

Đầu tiên, theo em cần mở rộng phạm vi các đối tượng áp dụng chế độ bảo hiểm thai sản nhằm hướng tới việc bảo vệ tối đa quyền và lợi ích của người lao động trong xã hội. Mặc dù hiện tại Luật bảo hiểmxã hội 2014 đã hướng đến 2 đối tượng cụ thể cho chế độ thai sản là lao động nữ và lao động nam,tuy nhiên vẫn chưa đi sâu và đặc thù từng ngành nghề của mỗi lao động. Ví dụ như trong môi trường làm việc nặng nhọc thì đối với lao động nữ có thể được phép chuyển sang công việc nhẹ nhàng hơn từ thời điểm có thai vì thời điểm đấy là thời điểm nhạy cảm nhất trong suốt thai kì. Như vậy sẽ đảm bảo được sức khỏe của thai phụ. 

Cuối cùng, trong suốt 9 tháng thai kì lao động nữ cần thiết đượcnghỉkhám thai 7-9 lần thay vì nghỉ 5 lần như hiện tại. Tức là trung bình1-2 tháng mang thai, lao động nữ được nghỉ đi khám thai 1 lần, như vậy sẽ đảm bảo tốt cho sức khỏe của thai phụ và thai nhi. Ngày nghỉ khám thai sẽ vẫn được tính lương như bình thường. 

Thực hiện tốt chế độ bảo hiểm thai sản tronng thời gian qua đã nâng cao chất lượng sống của rất nhiều gia đình có cả lao động namvà nữ, đặc biệt là lao động nữ khi họ có thời gian nhiều hơn để chăm sóc con cũng như chăms óc cho bản thân mình. Tuy nhiên trong quá trình áp dụng không tránhkhỏi những hạn chế, bất cập. Vì vậy cần tập trung giải quyết các vấn đề còn tồn đọng để chế độ thai sản được thực hiện một cách hiệu quả hơn.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAMKHẢO

  1. Luật bảo hiểm xã hội 2014 
  2. Bộ Lao động, Thương binh và xã hội (2005), Báo cáo tổng kết chính sách bảo hiểm xã hội, Bộ Lao động, Thương binh và xã hội, ngày 10/8/2005
  3. Đỗ Thị Dung (2006), Chế độ bảo hiểm thai sản và hướng hoàn thiện nhằm đảm bảo quyền lợi của lao động nữ. Tạp chí Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Số 3/2006 
  4. Hoàng Thúy Hà (2017), “Pháp luật về bảo hiểm thai sản và thực tiễn thực hiện tại quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội”, Luận văn thạc sỹ Luật học-Trường Đại học Luật Hà Nội. 

Phân tích các điều kiện đảm bảo cho pháp luật đi vào đời sống

Phân tích các điều kiện đảm bảo cho pháp luật đi vào đời sống.

Luật pháp ra đời được coi là thành tựu đại diện cho một xã hội văn minh, được dùng để điều chỉnh các mối quan hệ trong xã hội nên pháp luật được coi là công cụ hữu hiệu nhất giúp Nhà nước quản lý xã hội. Tuy nhiên, nói cho cùng pháp luật cũng là sinh ra từ cuộc sống, được con ngươi tạo ra để phục vụ con người, vì vậy, để pháp luật đi vào đời sống một cách hài hòa vẫn luôn là một bài toán khó. Tùy từng hoàn cảnh, tùy từng trường hợp mà pháp luật được áp dụng để vừa đảm bảo công bằng, vừa được sự đồng thuận của người dân.

CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁP LUẬT

I. Pháp luật là gì

1. Khái niệm

Pháp luật là hệ thống những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội theo mục đích, định hướng nhất định.

Sở dĩ pháp luật có tính bắt buộc chung vì pháp luật do Nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện thống nhất. Tính bắt buộc chung thể hiện ở chỗ:
+ Việc tuân theo các quy tắc pháp luật không phụ thuộc vào ý thức chủ quan của mỗi người. Bất kỳ ai dù có địa vị, tài sản, chính kiến, chức vụ như thế nào cũng phải tuân theo các quy tắc pháp luật.
+ Nếu ai đó không tuân theo các quy tắc pháp luật thì tùy theo mức độ vi phạm mà Nhà nước áp dụng các biện pháp tác động phù hợp để đảm bảo thực hiện đúng các quy tắc đó.
+ Tính quyền lực Nhà nước là yếu tố không thể thiếu, bảo đảm cho pháp luật được tôn trọng và thực hiện.

Nhà nước sẽ thừa nhận những tập quán trong xã hội bằng cách pháp điển hóa, ghi nhận trong luật thành văn.

2. Đặc điểm

* Pháp luật mang tính quyền lực của Nhà nước:

Đây là đặc điểm riêng có của pháp luật mà không một công cụ điều chỉnh nào khác có. Để thực hiện việc tổ chức và quản lí các mặt của đời sống xã hội, nhà nước cần có pháp luật. Các quy định pháp luật có thể do nhà nước đặt ra, cũng có thể được tạo nên từ việc nhà nước thừa nhận các quy tắc xử sự sẵn có trong xã hội như đạo đức, phong tục tập quán, tín điều tôn giáo… Với tính cách là những quy tắc xử sự, phảp luật chính là những yêu cầu, đòi hỏi hoặc cho phép của nhà nước đối với hành vi ứng xử của các chủ thể trong xã hội. Nói cách khác, pháp luật thể hiện ý chí của nhà nước. Thông qua pháp luật, nhà nước cho phép người dân được làm gì, không cho phép họ làm gì hay bắt buộc họ phải làm gì, làm như thế nào… Với quyền lực của mình, nhà nước có thể sử dụng nhiều biện pháp khác nhau để tổ chức thực hiện pháp luật, yêu cầu các cá nhân, tổ chức trong xậ hội phải thực hiện pháp luật nghiêm chỉnh. Khi cần thiết, nhà nước có thể sử dụng các biện pháp cưỡng chế để bảo vệ pháp luật, trừng phạt người vĩ phạm, đảm bảo cho pháp luật được thực hiện nghiêm chỉnh trong cuộc sống.

* Pháp luật mang tính quy phạm phổ biến:

Pháp luật gồm các quy tắc xử sự chung, được thể hiện trong những hình thức xác định, có kết cấu loorrich rất chặt chẽ và được đặt ra không phải xuất phát từ một trường hợp cụ thể mà là sự khái quát hóa từ rất nhiều những trường hợp có tính phổ biến trong xã hội. Điều này đã làm cho quy định pháp luật có tính khái quát hóa cao, là những khuôn mẫu điển hình để các chủ thể (tổ chức, cá nhân) thực hiện theo khi gặp phải những tình huống mà pháp luật đã dự liệu.

Pháp luật mang tính băt buộc chung, các quy định pháp luật được dự liệu không phải cho một tổ chức hay cá nhân cụ thể mà cho tất cả các tổ chức và cá nhân có liên quan. Xuất phát từ vị trí, vai trò của nhà nước trong xã hội (tổ chức đại diện chính thức cho toàn xã hội), nên pháp luật là bắt buộc đối với tất cả, việc thực hiện pháp luật

* Pháp luật có tính hệ thống:

Pháp luật điều chỉnh quan hệ xã hội bằng cách tác động lên cách xử sự của các chủ thể tham gia quan hệ xã hội đó, làm cho quan hệ phát triển theo chiều hướng nhà nước mong muốn. Mặc dù điều chỉnh các quan hệ xã hội trong nhiều lĩnh vực khác nhau, song các quy định của pháp luật không tồn tại biệt lập mà giữa chúng có mối liên hệ nội tại thống nhất với nhaú, tạo nên một chỉnh thể thống nhất.Cách ngành luật có mối quan hệ với nhau, hỗ trợ lần nhau

* Pháp luật có tính xác định về hình thức:

Pháp luật được thể hiện trong những hình thức xác định như tập quán pháp, tiền lệ pháp, văn bản quy phạm pháp luật. Ở dạng thành văn, các quy định của pháp luật được thể hiện một cách rõ ràng, cụ thể, không trừu tượng, chung chung, bảo đảm có thể được hiểu và thực hiện thống nhất trên toàn xậ hội.

3. Vai trò của pháp luật

Đối với mỗi chủ thể pháp luật sẽ thể hiện các vai trò khác nhau:

Với Nhà nước: Pháp luật được xem là công cụ hữu hiệu nhất để quản lý tất cả các vấn đề trong xã hội.

Với xã hội: Pháp luật đã thể hiện được vai trò trong việc đảm bảo sự vận hành tạo lập và duy trì mối quan hệ bình đằng trong cộng đồng.

Với công dân: Pháp luật đóng vai trò quan trọng là phương tiện để bảo về quyền lợi hợp pháp của mình.

II. Pháp luật dân chủ

Pháp luật chỉ mang tính tương đối, một hệ thống pháp luật hoạt động hiệu quả trong đời sống của nhân dân chính là pháp luật vì nhân dân, là pháp luật dân chủ. Hệ thống pháp luật phải đáp ứng đúng các điều kiện để thực sự dân chủ sẽ là nền tảng, là chìa khóa để đi vào đời sống người dân một cách dễ dàng hơn. Vậy, để có thể đi vào đời sống thì pháp luật cần có những điều kiện sau đây:

Thứ nhất, pháp luật phải có nhân dân tham gia vào quá trình xây dựng, không chỉ dừng lại ở việc góp ý, nêu quan điểm mà nhân dân phải nắm giữ được quyền lập pháp thông qua các đại biểu đại diện cho quyền lợi của nhân dân.

Thứ hai, ngăn ngừa sự lạm quyền, độc đoán, chuyên quyền của các cơ quan nhà nước, thừa nhận và bảo vệ nguyên tắc phân quyền, phối hợp và kiểm soát quyền lực Nhà nước.

Thứ ba, pháp luật dân chủ là pháp luật vì con người, nội dung và bản chất pháp luật dân chủ là đề cao giá trị con người,  hoạt động của các Cơ quan Nhà nước phải tuân thủ pháp luật nhueng không được quá cứng nhắc dẫn đến xâm hại các quyền cơ bản của con người hay công dân

Thứ tư, quy định rõ quyền, nghĩa vụ của công dân chính là quyền, nghĩa vụ của Nhà nước(mang tinh chất đối xứng), thể hiện rõ quyền con người, quyền công dân chỉ có thể hạn chế trong trường hợp khẩn cấp, đặc biệt vì lý do Quốc phòng an ninh, sức khỏe cộng đồng,…

CHƯƠNG II: CÁC ĐIỀU KIỆN ĐẢM BẢO CHO PHÁP LUẬT ĐI VÀO ĐỜI SỐNG

1. Pháp luật phải khách quan

Nhà làm luật không tự làm ra luật, họ chỉ ghi nhận những quy luật phát triển của xã hội bằng những ký tự được gọi là quy phạm pháp luật. Bất luận trong khía cạnh nào, pháp luật cũng là sự nhận thức chủ quan của con người đối với thế giới khách quan, con người nhận thức tồn tại xã hội rồi đưa ra các quy tắc xử sự chung (pháp luật). Do vậy, quá trình xây dựng pháp luật phải phản ánh được những yêu cầu khách quan về sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật đối với các quan hệ xã hội nhất định. Nội dung của các quy định pháp luật phải phù hợp với các quy luật khách quan, bảo đảm phát huy vai trò tích cực của pháp luật đối với đời sống xã hội.

Để đảm bảo nguyên tắc khách quan trong xây dựng pháp luật thì trước khi bắt tay vào xây dựng pháp luật cần nghiên cứu sâu sắc thực tiễn xã hội, các quá trình kinh tế, chính trị, tư tưởng, tâm lý xã hội; đặc điểm dân cư, nhu cầu của các tầng lớp, các nhóm nghề nghiệp; vấn đề dân tộc và sắc tộc… thông tin từ việc nghiên cứu này sẽ là cơ sở tốt để xây dựng các quy định pháp luật phù hợp. Ngoài ra còn phải nghiên cứu thực tiễn pháp lý trước đó như thực tiễn quản lý, thực tiễn xét xử, hoạt động của các tổ chức và cá nhân trong xã hội…

Mặt khác nguyên tắc khách quan còn đòi hỏi phải luôn đặt các quy định pháp luật trong mối liên hệ với sự phát triển về mọi mặt của xã hội và làm sao để xây dựng được các quy định pháp luật phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện thực tiễn phát triển của đất nước. Các dự án luật phải được nhiều cơ quan tổ chức, cá nhân tham gia xây dựng, đặc biệt là cần có nhiều phương án để cho các cơ quan có thẩm quyền lựa chọn. Sau khi đã có phương án điều chỉnh cần phải có sự thẩm định về các mặt kinh tế xã hội, khoa học…, nếu thực hiện tốt nguyên tắc này hoạt động xây dựng pháp luật sẽ mang lại hiệu quả cao.

Khi xây dựng pháp luật luôn phải chú ý để làm sao các quy định pháp luật phải có khả năng thực hiện được trên thực tế. Sự phù hợp với các điều kiện thực tế (về vật chất, kỹ thuật, tổ chức…) bảo đảm cho quy định pháp luật có thể thi hành được trên thực tế. Nếu quy định pháp luật không phù hợp với thực tế thì nó sẽ khó được thi hành trong thực tế hoặc được thi hành nhưng kém hiệu quả. Nội dung các quy phạm pháp luật, các văn bản quy phạm pháp luật được xây dựng với một trình độ kỹ thuật pháp lý cao có kết cấu chặt chẽ, logic, các thuật ngữ pháp lý được sử dụng chính xác, một nghĩa, lời văn trong sáng, ngắn gọn, dễ hiểu, phù hợp với khả năng nhận thức của quảng đại quần chúng nhân dân. “Một quy phạm pháp luật sẽ phát huy được hiệu quả cao hơn nếu phù hợp với quan niệm, ý thức hiện có của công dân và ngược lại[1]. Sự chặt chẽ, rõ ràng, chính xác của các quy phạm pháp luật cũng tránh được những thiếu sót, sơ hở có thể bị lợi dụng trong quá trình thực hiện và áp dụng pháp luật. Để có thể đưa pháp luật đi vào đời sống một cách có hiệu quả thì chất lượng các văn bản pháp luật phải được xây dựng đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục luật định, có tên gọi phù hợp với nội dung thể hiện, hình thức rõ ràng, dễ thực hiện.

Ngoài ra, pháp luật phải chứa đựng các giá trị tiến bộ, dân chủ, nhưng phải phù hợp với các điều kiện kinh tế-văn hóa, chính trị-xã hội của đất nước. Đây là lí do vì sao pháp luật phải liên tục thay đổi, các VBPL cần phải sửa đổi, bổ sung các điều luật đã không còn áp dụng được trong thực tiễn nữa.

2. Pháp luật phải công khai

Việc công khai quá trình xây dựng pháp luật là cần thiết trừ trường hợp văn bản quy phạm pháp luật có nội dung thuộc bí mật nhà nước. Cần quán triệt tinh thần là xây dựng pháp luật không chỉ là công việc của nhà nước mà còn là công việc của toàn xã hội, nên cần phải để dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra.

Không chỉ bảo đảm sự công khai còn phải bảo đảm tính minh bạch trong quá trình xây dựng pháp luật. Tất cả các công đoạn, quy trình của quá trình xây dựng pháp luật, các nguyên tắc xây dựng pháp luật đều cần phải được quy định rõ ràng, rành mạch.

Trước khi muốn người dân học và làm theo pháp luật, thì phải công khai cả quá trình và kết quả của quá trình xây dựng pháp luật, để nhân dân có thể có cái nhìn khách quan hơn đối với mỗi vấn đề được đề cập đến. Dân biết dân mới kiểm tra và đánh giá được còn những bất cập nào, vì hơn ai hết họ là người chịu sự tác động của pháp luật. Từ đó có thể nâng cao được hiệu quả khi đưa pháp luật vào đời sống cũng như khiến người dân ý thức được quyền và nghĩa vụ của mình.

3. Cơ chế bảo vệ pháp luật hiệu quả

 Không khó để nhận ra tình trạng lạm dụng quyền lực Nhà nước hiện nay như ban hành văn bản vượt quá thẩm quyền, khiến cho việc áp dụng pháp luật trở nên khó khăn và không đảm bảo tính công bằng, minh bạch. Do đó, cần phải có những cơ chế để bảo vệ pháp luật để pháp luật được thực thi nghiêm túc, chuẩn mực, đúng đắn, xã hội mới thượng tôn pháp luật, tránh được tình trạng “Pháp luật từng địa phương”, “Pháp luật riêng của từng vùng, ngành” tránh được sự chồng chéo, sai phạm ở nội dung và hình thức các loại văn bản pháp luật.

Ngoài ra, Luật pháp thì không thương lượng, có lỗi sẽ phải bị xử phạt, không thể có những trường hợp nếu có người phạm luật rồi bị phạt, có khi nào vì nghèo lại miễn phạt, các cơ chế xử phạt cần được áp dụng nghiêm minh và triệt để hơn nữa để người dân không xảy ra tình trạng coi thường pháp luật để đến mức tái phạm 1-2 lần, từ đó pháp luật đi vào đời sống một cách đúng đắn và nghiêm minh hơn.

4. Ý thức của các chủ thể tham gia pháp luật

* Ý thức của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức phục vụ trong Cơ quan Nhà nước:

Thực hiện hoạt động giám sát một cách tích cực thông qua việc phản ánh đầy đủ các ý kiến của cử tri và hoạt động chất vấn của đại biểu. Đặc biệt quan tâm đến việc giám sát các chương trình mục tiêu Quốc gia mà Nhà nước đã ban hành (chương trình xây dựng nông thôn mới; chương trình giảm nghèo bền vững) để các chương trình đó thực sự mang lại hiệu quả, góp phần vào việc nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân.

 Tham gia thực hiện tốt công tác lập pháp, vận dụng thực tiễn thi hành pháp luật vào cuộc sống; lắng nghe những quan điểm khác nhau, phân tích lựa chọn thông tin, cân nhắc đánh giá các dự luật để tham gia thảo luận góp ý và biểu quyết có chất lượng các dự án luật, để luật ban hành ra sẽ đi vào cuộc sống, góp phần vào việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN của dân, do dân và vì dân. Đồng thời tham gia một cách có trách nhiệm trong góp ý, thảo luận, biểu quyết các vấn đề quan trọng của đất nước mà Quốc hội bàn bạc, quyết định để các quyết định đó thực sự hợp lòng dân và mang lại lợi ích cho nhân dân.

Thực tế chứng minh chúng ta đã làm rất tốt thông qua mô hình PBGDPL: trong năm 2020, nhiều cơ quan, đơn vị đã đổi mới, xây dựng các mô hình PBGDPL hiệu quả như: các cấp hội phụ nữ tỉnh thành lập gần 200 tài khoản Facebook để giới thiệu hoạt động của hội và tuyên truyền pháp luật; Bộ Chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh tổ chức tuyên truyền cho hành khách xuất nhập cảnh, lái xe, chủ hàng và Nhân dân khu vực biên giới, cửa khẩu được 2.500 lượt người, cấp phát 3.500 tờ rơi, tờ gấp tuyên truyền pháp luật bằng hai thứ tiếng (tiếng Việt Nam và tiếng Trung Quốc); huyện Bình Gia đa dạng hình thức hưởng ứng ngày Pháp luật Việt Nam…[2]

* Ý thức người dân:

Rõ ràng pháp luật đi vào đời sống thì người dân chính là chủ thể chịu tác động trực tiếp từ pháp luật, do đó, việc nâng cao ý thức người dân về pháp luật là một việc làm vô cùng quan trọng và mang tính lâu dài. Như đã đề cập ở trên, pháp luật chỉ mang tính tương đối, tức là trong mỗi hoàn cảnh, mỗi giai đoạn pháp luật đều được sửa đổi, bổ sung để phù hợp với điều kiện xã hội-kinh tế thời điểm đó, tương tự người dân cũng vậy, luôn luôn phải được trang bị cho bản thân những kiến thức cơ bản về pháp luật, giữ những giá trị tiến bộ của pháp luật và không dập khuôn theo những quy định cũ.

Trên thực tế, khi có những vướng mắc liên quan đến pháp luật, người dân luôn có tâm lý sợ, ngại và lúng túng. Đặc điểm văn hóa này được hình thành do nhiều yếu tố, nhưng không thể phủ nhận, nhiều người trong chúng ta ngại học, ngại tìm hiểu, dẫn đến không hiểu và không muốn dùng đến luật pháp. Vấn đề lựa chọn “kênh” pháp lý để giải quyết các tranh chấp phần lớn người dân chưa quen. Bởi thế, thay vì dùng đến pháp luật, nhiều người đã chọn cách tự xử lý, tự giải quyết một cách trái pháp luật. Thậm chí, tình trạng “tự xử” bạo lực kiểu “luật rừng” thay cho luật pháp rất đáng lo ngại.  Vì vậy, để pháp luật phát huy tốt vai trò điều chỉnh các mối quan hệ của nó thì người dân phải làm quen, phải tìm hiểu, phải học. Chúng ta cần tiếp tục quan tâm, triển khai giảng dạy, tuyên truyền pháp luật một cách hệ thống đến mọi người, mọi nơi, mọi lúc. Tùy vào từng cấp học nhưng pháp luật cần được giáo dục, giảng dạy phổ biến trong các nhà trường. Mọi người dân, dù ở lĩnh vực nào, điều kiện ra sao cũng phải được thường xuyên tiếp cận, phổ biến những kiến thức này. Nâng cao trình độ hiểu biết luật pháp thông qua tuyên truyền, giáo dục cho mọi người dân luôn là thiết yếu trong xã hội. Mỗi chúng ta cần phải học luật để hành động theo luật.

Việc pháp luật đi vào đời sống người dân có hiệu quả hay không phản ánh đúng bản chất pháp luật và chất lượng của hệ thống pháp luật. Đương nhiên, một hệ thống đảm bảo tính khách quan, khả thi, công khai, minh bạch kết hợp với ý thức cuẩ người dân lẫn các nhà làm luật sẽ là một hệ thống pháp luật chuẩn mực để nhân dân có thể tin tưởng và chấp hành làm theo. Tuy nhiên, đối với việc này còn nhiều khó khăn và hạn chế. Vì vậy, tuyên truyền và nâng cao ý thức cũng như kiến thức cho người dân sẽ luôn được đặt lên hàng đầu trong công cuộc đi tìm lời giải đáo cho câu hỏi: “Làm thế nào để đưa pháp luật vào đời sống?”


[1] http://sotuphapqnam.gov.vn/index.php/2017-03-13-06-49-51/781-tieu-chi-xac-nh-cht-lng-ca-h-thng-phap-lut

[2] https://baolangson.vn/phap-luat/334387-de-phap-luat-di-vao-cuoc-song.html

Nhận diện các rủi ro trong soạn thảo, đàm phán hợp đồng mua bán hàng hóa và cách phòng tránh

Nhận diện các rủi ro trong soạn thảo, đàm phán hợp đồng mua bán hàng hóa và cách phòng tránh.

Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng nhằm tạo cơ sở cho việc thực hiện một giao dịch cụ thể trong cuộc sống nói chung và trong kinh doanh thương mại nói riêng. Do nhiều lý do, việc soạn thảo và đàm phán hợp đồng đôi lúc vẫn còn một số thiếu sót, chưa chặt chẽ về mặt pháp lý hoặc chưa được quan tâm đúng mức. Điều đó có thể dẫn tới các rủi ro khiến cho hợp đồng vô hiệu hoặc gây khó khăn trong việc thực thi hợp đồng.

1. Chủ thể kí kết hợp đồng

a. Thực trạng:

Thực tế, hợp đồng vô hiệu do người ký không đúng thẩm quyền thường rất đa dạng về chủ thể ký kết, nhưng tựu chung lại sẽ rơi vào các trường hợp dưới đây:

Người ký là đại diện theo pháp luật của công ty nhưng không có thẩm quyền ký kết, ví dụ như: “Khi chưa có quyết định hoặc thông qua của Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị công ty CP, người đại diện theo pháp luật ký hợp đồng đầu tư hoặc bán, vay, cho vay tài sản… có giá trị bằng hoặc lớn hơn 35% giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty nếu Điều lệ công ty không quy định một tỷ lệ khác (điểm d khoản 2 Điều 135, điểm h khoản 2 Điều 149 LDN 2014) hoặc những hợp đồng ký kết với các đối tượng được quy định tại Khoản 1 Điều 162 LDN 2014.”

Người ký không phải là đại diện theo pháp luật của công ty và không có ủy quyền hợp pháp của người có thẩm quyền ký kết.

Có thể kể đến một vài trường hợp như: Phó Giám đốc, Giám đốc chi nhánh, Trưởng các phòng, ban… ký hợp đồng nhưng không có ủy quyền hợp pháp của người có thẩm quyền.

b. Cách phòng tránh:

– Kiểm tra trong Giấy ĐKKD xem ai là người đại diện theo pháp luật.

– Yêu cầu cung cấp Văn bản ủy quyền cho nhân viên khi giao dịch hoặc người ký  không phải người đại diện theo pháp luật.

– Kiểm tra trong giấy ủy quyền xem người ký có thuộc phạm vi được ủy quyền không (điều kiện ủy quyền, quyền của người được ủy quyền).

2. Rủi ro về giá cả, phương thức thanh toán

a. Thực trạng:

– Rủi ro về giá khi thị  trường biến động.

– Rủi ro về đồng tiền làm phương thức thanh toán.

– Tranh chấp về chi phí bốc dỡ, vận chuyển lưu kho bãi.

– Rủi ro về cách thức giao nhận tiền.

– Rủi ro trong phương thức bảo đảm hợp đồng bằng phương thức bảo lãnh.

– Không quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ của từng bên 

b. Cách phòng tránh:

Cần đưa ra các điều khoản chi tiết, cụ thể, linh hoạt phù hợp với từng giao dịch. Chẳng hạn như về giá cả, chính vì nhìn thấy rủi ro về mặt thị trường biến động nên khi đàm phán về giá cả chúng ta nên đề cập tới một khoảng giá chứ không nên đưa ra 1 con số cụ thể

3. Rủi ro về bảo lãnh của Hợp đồng

a. Thực trạng:

– Làm giả chứng thư bảo lãnh.

– Rủi ro người ký phát chứng thư bảo lãnh không đúng thẩm quyền vượt  quá thẩm quyền. 

– Điều kiện của bảo lãnh: Ngân hàng phát hành thư bảo lãnh trong đó yêu cầu bên thụ hưởng phải chứng minh được vi phạm của bên được bảo lãnh, khi đó ngân hàng mới thanh toán. 

– Rủi ro để từ chối bảo lãnh còn ở cách ghi thời hạn bảo lãnh, ví dụ thời hạn bảo lãnh là 360 ngày, dẫn tới cách hiểu khác nhau là ngày thường hay ngày làm việc. 

– Bên bảo lãnh có thể viện lý do để từ chối thanh toán hoặc chậm thanh toán cho bên nhận bảo lãnh. (Viện lý do HĐ gốc/ PLHĐ bị sửa đổi tùy tiện) .

b. Cách khắc phục:

– Cần áp dụng chung biểu mẫu về thư bảo lãnh đính kèm hướng dẫn. Tốt nhất không áp dụng bảo lãnh có điều kiện.

– Thực hiện đúng các điều khoản đã ký trong hợp đồng (Đặc biệt các chứng từ liên quan phải chuẩn xác, đúng và phù hợp thời gian). 

– Không nên sửa lại hợp đồng, bổ sung PLHĐ giữa hai bên khi đã có chứng thư bảo lãnh khi chưa có sự đồng ý của bên bảo lãnh. (Trường hợp  hai bên sửa đổi HD, lập PLHD phải báo/đề nghị bên bảo lãnh lập lại Bảo lãnh theo nội dung sửa đổi).

4. Rủi ro về điều khoản quy định về phạt vi phạm

a. Thực trạng:

– Theo Luật thương mại (Điều 301) thì quyền thoả thuận về mức phạt vi phạm của các bên bị hạn chế, cụ thể: “Mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm do các bên thoả thuận trong hợp đồng nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm”. Do vậy, các bên khi thoả thuận về mức phạt phải căn cứ vào quy định của Luật thương mại để lựa chọn mức phạt trong phạm vi từ 8% trở xuống, nếu các bên thoả thuận mức phạt lớn hơn (ví dụ 12%) thì phần vượt quá (4%) được coi là vi phạm điều cấm của pháp luật và bị vô hiệu. 

– Theo quy định tại Bộ luật Dân sự nếu chậm thanh toán các bên có thể thỏa thuận mức phạt nhưng không được vượt quá 150% mức lãi suất cơ bản (Điều 476).

– Mức lãi chậm trả theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả.

b. Cách phòng tránh:

– Đây là điều khoản thông thường. Khi thương thảo hợp đồng với khách hàng có thể đưa vào hợp đồng hoặc không cần đưa vào vì đã được pháp luật quy định. Cán bộ kinh doanh cần linh hoạt khi sử dụng điều khoản này. 

5. Rủi ro về điều khoản bất khả kháng

a. Thực trạng:

Giá trị quan trọng nhất của việc soạn thảo điều khoản về bất khả kháng chính là giúp cho các bên lường trước được các trường hợp miễn trách nhiệm nếu vi phạm nghĩa vụ hợp đồng khi điều kiện bất khả kháng xảy ra trong quá trình thực hiện hợp đồng. Khi đàm phán cũng như soạn thảo hợp đồng, các bên đã phải lường trước những sự kiện này, nếu không nó trở thành rủi ro lớn sau khi hợp đồng mua bán được kí kết

b. Cách phòng tránh:

– Khi soạn thảo hợp đồng cần có thỏa thuận rõ ràng về các trường hợp bất khả kháng:

– Bất khả kháng có thể do hiện tượng thiên nhiên: Lũ, lụt, hỏa hoạn, động đất, sóng thần ..

– Bất khả kháng có thể do hiện tượng xã hội: Chiến tranh, bạo loạn, đảo chính, đình công, cấm vận, thay đổi của chính phủ

Ngoài ra, các bên có thể đưa ra các sự kiện chính bản thân mình:,mất điện, hỏng máy…bên cung cấp vật tư chậm trễ giao hàng là sự kiện bất khả kháng để miễn trách nhiệm

Từ những phân tích trên có thể thấy rằng, chỉ một lỗi nhỏ trong soạn thảo hợp đồng cũng  có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền, lợi ích của các bên sau này, bao gồm nhưng không giới hạn ở việc hợp đồng bị vô hiệu, mất thời gian giải quyết tranh chấp, tốn kém chi phí vào các thủ tục tố tụng, mất uy tín,…. Chúng ta có thể tự soạn thảo và rà soát hợp đồng nhưng đừng để những rủi ro tiềm ẩn trong hợp đồng biến công sức của ta trở về con số không, các rủi ro hoàn toàn có thể phòng tránh được, vì vậy hãy cố gắng khắc phục tất cả các rủi ro đấy.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Luật Doanh nghiệp 2014
  2. Bộ luật dân sự năm 2015

Bình luận quy định pháp luật về chính sách khoan hồng theo Luật Cạnh tranh

Bình luận quy định pháp luật về chính sách khoan hồng theo Luật Cạnh tranh.

Chính sách khoan hồng là thuật ngữ không hề xa lạ đối với mọi người, đặc biệt là trong lĩnh vực cạnh tranh. Thế nhưng, Luật Cạnh tranh 2004 chưa đề cập mà phải đến khi ban hàng bộ luật mới luật Cạnh tranh 2018, chính sách khoan hồng mới được ghi nhận.

I. Lý luận chung về chính sách khoan hồng

1. Khái niệm

Khoan hồng là việc miễn hoặc giảm hình phạt đối với các doanh nghiệp vi phạm pháp luật cạnh tranh nhưng sau đó lại hợp tác với các cơ quan thực thi pháp luật cạnh tranh. Theo đó, nội dung cốt lõi của chính sách này là miễn hoặc giảm đáng kể tổ chức, cá nhân tham gia chương trình khoan hồng khỏi nguy cơ bị xử phạt hành chính hoặc bị phạt nặng. mà lẽ ra họ phải chịu thiệt hại do vi phạm luật cạnh tranh.

2. Vai trò của chính sách khoan hồng

Giá trị của chính sách khoan hồng nằm ở khả năng cho phép các cơ quan quản lý cạnh tranh được tiếp cận các chứng cứ và thông tin mật liên quan đến các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bất hợp pháp, mà trên thực tế nếu không có chính sách này thì sẽ cực kỳ khó khăn và tốn thời gian để thu thập chúng trong giai đoạn đầu của cuộc điều tra. Vì vậy, khoan hồng có thể được sử dụng như là một phương pháp bổ sung trong việc thu thập chứng cứ, giúp giảm đáng kể chi phí điều tra cũng như chi phí xét xử cho cả cơ quan quản lý cạnh tranh và tòa án. Các cơ hội được hưởng miễn trừ hình phạt cũng khuyến khích người có chức vụ trong doanh nghiệp, là người nắm giữ đầy đủ và chi tiết các bằng chứng ngay từ đầu, cung cấp thông tin về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh và từ đó giúp cho việc thu thập các chứng cứ này của các cơ quan quản lý cạnh tranh trở nên dễ dàng hơn.

Như vậy, ảnh hưởng của chính sách khoan hồng tạo ra một hiệu ứng vòng tròn như sau: chính sách khoan hồng tạo động lực cho các thành viên giữ lại chứng cứ về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh ngay từ ban đầu, điều này làm cho cơ quan quản lý cạnh tranh dễ dàng phát hiện, điều tra và xử lý hơn; một khi hiệu quả thực thi pháp luật của cơ quan quản lý cạnh tranh tăng cao, nguy cơ doanh nghiệp tham gia thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị phát hiện và xử phạt cũng sẽ càng gia tăng; trong tình thế đó, doanh nghiệp sẽ bị thúc đẩy chọn phương án chủ động tự tiết lộ hành vi vi phạm để xin được áp dụng biện pháp khoan hồng hơn là thụ động chờ bị cơ quan cạnh tranh phát hiện và xử lý nghiêm khắc.

3. Nội dung quy định chính sách khoan hồng theo Luật Cạnh tranh 2018

Nội dung chính sách khoan hồng được quy định tại Điều 112 Luật Cạnh tranh 2018 cụ thể như sau:

“1. Doanh nghiệp tự nguyện khai báo giúp Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia phát hiện, điều tra và xử lý hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm quy định tại Điều 12 của Luật này được miễn hoặc giảm mức xử phạt theo chính sách khoan hồng.

2. Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia quyết định việc miễn hoặc giảm mức xử phạt theo chính sách khoan hồng.

3. Việc miễn hoặc giảm mức xử phạt quy định tại khoản 1 Điều này được thực hiện trên cơ sở đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:

a) Đã hoặc đang tham gia với vai trò là một bên của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh quy định tại Điều 11 của Luật này;

b) Tự nguyện khai báo hành vi vi phạm trước khi cơ quan có thẩm quyền ra quyết định điều tra;

c) Khai báo trung thực và cung cấp toàn bộ các thông tin, chứng cứ có được về hành vi vi phạm, có giá trị đáng kể cho việc phát hiện, điều tra và xử lý hành vi vi phạm;

d) Hợp tác đầy đủ với cơ quan có thẩm quyền trong suốt quá trình điều tra và xử lý hành vi vi phạm.

4. Quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với doanh nghiệp có vai trò ép buộc hoặc tổ chức cho các doanh nghiệp khác tham gia thỏa thuận.

5. Chính sách khoan hồng áp dụng cho không quá 03 doanh nghiệp đầu tiên nộp đơn xin hưởng khoan hồng đến Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia đáp ứng đủ các điều kiện quy định tại khoản 3 Điều này.

6. Căn cứ xác định doanh nghiệp được hưởng khoan hồng được quy định như sau:

a) Thứ tự khai báo;

b) Thời điểm khai báo;

c) Mức độ trung thực và giá trị của các thông tin, chứng cứ đã cung cấp.

7. Việc miễn, giảm mức phạt tiền được thực hiện như sau:

a) Doanh nghiệp đầu tiên có đơn xin hưởng khoan hồng và đáp ứng đủ điều kiện quy định tại khoản 3 Điều này được miễn 100% mức phạt tiền;

b) Doanh nghiệp thứ hai và thứ ba có đơn xin hưởng khoan hồng và đáp ứng đủ điều kiện quy định tại khoản 3 Điều này lần lượt được giảm 60% và 40% mức phạt tiền.”

Theo đó, để được hưởng chính sách khoan hồng, các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận hạn chế cạnh tranh cần đáp ứng các điều kiện quy định tai Khoản 3 Điều 112 Luật Cạnh tranh 2018, cụ thể như sau:

Thứ nhất, đã hoặc đang tham gia với vai trò là một bên của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh.

Chỉ những doanh nghiệp là thành viên của các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh mới là đối tượng được hưởng khoan hồng, trừ những doanh nghiệp có vai trò tổ chức hoặc ép buộc các doanh nghiệp khác tham gia thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. Như vậy, tất cả các cá nhân và tổ chức kinh doanh, bao gồm các loại hình công ty, hợp tác xã và hộ kinh doanh (trừ một số chủ thể được pháp luật quy định) đều có thể là đối tượng được hưởng chính sách khoan hồng nếu tham gia thỏa thuận hạn chế cạnh tranh.

Thứ hai, tự nguyện khai báo hành vi vi phạm trước khi cơ quan có thẩm quyền ra quyết định điều tra.

Pháp luật Việt Nam chỉ cho phép miễn giảm trách nhiệm với doanh nghiệp thực hiện khai báo trước khi cơ quan có thẩm quyền bắt đầu việc điều tra. Nếu cơ quan điều tra tự phát hiện hoặc thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị tố giác bởi một bên thứ ba nào đó, và việc điều tra đã được bắt đầu, thì các chủ thể tham gia thỏa thuận hạn chế cạnh tranh mất hoàn toàn cơ hội được hưởng khoan hồng.

Thứ ba, khai báo trung thực và cung cấp toàn bộ các thông tin, chứng cứ có được về hành vi vi phạm, có giá trị đáng kể cho việc phát hiện, điều tra và xử lý hành vi vi phạm.

Tiêu chuẩn của chất lượng thông tin mà doanh nghiệp cung cấp là phải “có giá trị đáng kể”, tuy nhiên Luật Cạnh tranh lại chưa có những quy định để xác định giá trị của thông tin. Việc đánh giá chất lượng của thông tin phụ thuộc và sự chủ quan tùy nghi của Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia. Các doanh nghiệp tiến hành khai báo và cung cấp thông tin cho cơ quan điều tra vẫn chưa chắc được hưởng khoan hồng nếu các thông tin cung cấp không được Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia đánh giá là không đủ giá trị.

Thứ tư, hợp tác với cơ quan điều tra trong suốt quá trình điều tra và xử lý hành vi vi phạm.

Ngoài việc tự nguyện khai báo và cung cấp những thông tin về hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, các chủ thể khai báo cần phối hợp với cơ quan điều tra trong suốt quá trình điều tra, cho đến khi hành vi vi phạm đã được xử lý.

Như vậy, các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận hạn chế cạnh tranh vẫn có cơ hội được hưởng chính sách khoan hồng nếu đáp ứng các điều kiện nêu trên. Khi đó, các doanh nghiệp đầu tiên, thứ hai và thứ ba nộp đơn xin hưởng khoan hồng sẽ nhận được mức miễn giảm lần lượt là 100%, 60% và 40% mức phạt tiền đối hành vi đã thực hiện.

4. Phân biệt “Chính sách khoan hồng” và “Chính sách miễn trừ” trong luật Cạnh tranh

Chính sách khoan hồng là một nội dung hoàn toàn mới được ghi nhận trong Luật Cạnh tranh 2018 cho nên cơ chế mới này rất dễ khiến nhiều người nhầm lẫn với chính sách miễn trừ đã có trong bộ luật. Trên thực tế 2 chính sách này là hoàn toàn khác nhau:

– Về mục đích

Đối với miễn trừ: Theo thông lệ quốc tế, các trường hợp miễn trừ được xây dựng dựa trên nguyên tắc lập luận hợp lý (rule of reason), theo đó, nguyên tắc đánh giá tính bất hợp pháp của một thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trên cơ sở cân nhắc giữa các tác động tích cực và tiêu cực, đặc biệt là tác động thúc đẩy cạnh tranh và tác động hạn chế cạnh tranh hoặc giữa tác động hạn chế cạnh tranh với hiệu quả hay lợi ích kinh tế mà hành vi thỏa thuận mang lại. Xét về bản chất, khi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh đã cấu thành đủ các dấu hiệu để kết luận là vi phạm luật cạnh tranh, tuy nhiên, nếu lợi ích đối với nền kinh tế và người tiêu dùng mà thỏa thuận đó có thể mang lại cao hơn tác động hạn chế cạnh tranh thì thỏa thuận đó có thể được cơ quan cạnh tranh cho phép thực hiện. 

Hiện nay, tại Việt Nam theo quy định mới của LCT 2018, thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm sẽ được miễn trừ có thời hạn nếu nó có lợi cho người tiêu dùng và đáp ứng một trong bốn điều kiện sau đây: (1) Tác động thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật, công nghệ, nâng cao chất lượng hàng hóa, dịch vụ; (2) Tăng cường sức cạnh tranh của DN Việt Nam trên thị trường quốc tế; (3) Thúc đẩy việc áp dụng thống nhất tiêu chuẩn chất lượng, định mức kỹ thuật của chủng loại sản phẩm; (4) Thống nhất các điều kiện thực hiện hợp đồng, giao hàng, thanh toán nhưng không liên quan đến giá và các yếu tố của giá. Như vậy, mục đích hướng tới khi xây dựng cơ chế miễn trừ cho các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm là thúc đẩy cạnh tranh trên thị trường, bên cạnh đó còn mang đến lợi ích cho người tiêu dùng.

Đối với chính sách khoan hồng: Trên một phương diện khác so với miễn trừ, chính sách khoan hồng được xây dựng nhằm thu hút tham gia khai báo, hợp tác của các thành viên trong thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, từ đó khiến cho những thỏa thuận bất chính được đưa ra ánh sáng và xử lý theo quy định. Điều này cho thấy chính sách khoan hồng và cơ chế miễn trừ được thiết kế với mục đích hoàn toàn khác biệt: một bên hỗ trợ công tác phát hiện và điều tra, xử lý các hành vi vi phạm, một bên thúc đẩy lợi ích của kinh tế và quyền lợi cho người tiêu dùng.

– Về thời điểm áp dụng và thủ tục:

Thủ tục miễn trừ và chính sách khoan hồng mang bản chất của thủ tục hành chính được thực hiện theo quy định của pháp luật cạnh tranh. Do vậy, các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh hưởng quyền miễn trừ hoặc hưởng quyền khoan hồng không mặc nhiên được áp dụng khi thỏa mãn các điều kiện do luật định về mặt nội dung mà bắt buộc phải nhận được quyết định chấp thuận của cơ quan quản lý cạnh tranh (CQQLCT).

Cụ thể, để được hưởng chính sách miễn trừ thì các thành viên dự định tham gia thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm phải tiến hành nộp hồ sơ đề nghị hưởng miễn trừ cho CQQLCT có thẩm quyền. Căn cứ trên hồ sơ đề nghị hưởng miễn trừ, CQQLCT ra quyết định chấp thuận hoặc quyết định không chấp thuận cho các bên được hưởng miễn trừ. Theo đó, các bên tham gia thỏa thuận hạn chế cạnh tranh đáp ứng điều kiện được hưởng miễn trừ chỉ được thực hiện thỏa thuận hạn chế cạnh tranh sau khi có quyết định hưởng miễn trừ. Điều cho thấy chính sách miễn trừ bắt đầu xác lập trước khi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh đưa vào hoạt động.

Trong khi đó, doanh nghiệp (DN) đã hoặc đang tham gia với vai trò là một bên của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh muốn xin hưởng khoan hồng phải tiến hành liên hệ với CQQLCT để khai báo và xin được miễn, giảm mức phạt tiền theo chính sách khoan hồng. Qua đó, chúng ta thấy rằng chính sách khoan hồng lại đặt ra đối với những thỏa thuận hạn chế cạnh tranh đã được xây dựng và vận hành, khi mà có thành viên nào đó đứng ra khai báo về hoạt động bất chính của thỏa thuận.

– Về phạm vi lợi ích mà doanh nghiệp đạt được:

Nếu như chính sách khoan hồng cho phép các DN khai báo được hưởng quyền giảm trừ, thậm chí có thể miễn trừ hoàn toàn hình phạt mà lẽ ra phải bị xử lý theo quy định thì ở khía cạnh khác, chính sách miễn trừ lại đưa đến cơ hội cho các DN có một khoảng thời hạn nhất định được hưởng miễn trừ việc áp dụng các chế tài, trên cơ sở đó tạo điều kiện cho các DN có thể dành thời gian tập trung nâng cao năng lực cạnh tranh thông qua việc thực hiện các thỏa thuận hợp tác với các DN khác là đối thủ cạnh tranh trên thị trường. Theo đó, thấy phần thưởng mà các bên trong thỏa thuận hạn chế cạnh tranh nhận được từ chính sách khoan hồng tồn tại dưới 02 mức độ khác nhau, có thể được giảm trừ hoặc miễn trừ hình phạt tùy thuộc vào điều kiện mà DN đó thỏa mãn. Mặt khác, chính sách khoan hồng không đặt ra thời hạn áp dụng, điều này được hiểu là nếu một DN nhận được quyết định cho hưởng chính sách khoan hồng thì đương nhiên nhận được quyền miễn/giảm trên cơ sở xem xét toàn bộ quá trình hoạt động của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh đó. Trong khi đó, các DN được hưởng chính sách miễn trừ sẽ thoát khỏi hoàn toàn hình phạt (tức miễn trừ hoàn toàn) và quyết định cho hưởng miễn trừ không có giá trị vĩnh viễn, chúng luôn có giá trị trong một thời hạn nhất định (trong quyết định cho hưởng miễn trừ luôn xác định thời hạn cho hiệu lực) hoặc có thể được xem xét lại và có thể bị bãi bỏ theo quy định của pháp luật.

II. Bình luận và đánh giá thực tiễn áp dụng chính sách khoan hồng theo Luật Cạnh tranh 2018

Do Chính sách khoan hồng là điểm mới trong Luật Cạnh tranh 2018, do đó khi áp dụng vào thực tế vẫn không tránh khỏi những hạn chế, tuy nhiên, bên cạnh đó, rất nhiều ưu điểm cần phát huy, em xin đánh giá, bình luận chung về chính sách khoan hồng ở một số điểm như sau:

Về giá trị pháp lý: 

Bản chất chính sách khoan hồng là một công cụ nhằm phát hiện để điều tra, xử lý thỏa thuận hạn chế cạnh tranh nên chính sách khoan hồng của nhiều nước trên thế giới không được quy định thành một điều khoản trong luật, tức là không phải là một quy định pháp lý mà có tính chất là một công cụ chính sách do Cơ quan thực thi pháp luật cạnh tranh xây dựng, ban hành và áp dụng. Chính sách khoan hồng tại Hoa Kỳ do Bộ Tư pháp ban hành để trên cơ sở đó Cơ quan điều tra chống độc quyền thuộc Bộ Tư pháp áp dụng. Chính sách khoan hồng tại Úc do Ủy ban Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng xây dựng và áp dụng. Chính sách khoan hồng tại Nhật do Ủy ban thương mại công bằng ban hành và áp dụng. Còn tại Việt Nam, chính sách khoan hồng được luật định tại Điều 112 Luật Cạnh tranh 2018 của Việt Nam là một quy định pháp lý làm cơ sở để Cơ quan cạnh tranh thực thi nên có giá trị pháp lý cao đảm bảo tính chắc chắn, minh bạch đối với cộng đồng doanh nghiệp và được đảm bảo thực thi cùng với hiệu lực thực thi của Luật Cạnh tranh 2018 của Việt Nam.

Về mục tiêu và ý nghĩa: 

Chính sách khoan hồng quy định trong Luật Cạnh tranh 2018 của Việt Nam đã thể hiện đầy đủ mục tiêu và ý nghĩa của chính sách là nhằm giúp Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia phát hiện để điều tra và xử lý đối với thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm trên cơ sở tự nguyện khai báo của doanh nghiệp về hành vi vi phạm giống như mục tiêu và ý nghĩa của chính sách khoan hồng mà các nước trên thế giới trong đó có Hoa Kỳ, Nhật Bản, Úc, Châu Âu, Malaysia… đã áp dụng. Điều này được thể hiện rõ tại khoản 1 Điều 112 Luật Cạnh tranh 2018 của Việt Nam, theo đó doanh nghiệp tự nguyện khai báo giúp phát hiện, điều tra và xử lý hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm được miễn hoặc giảm mức xử phạt theo chính sách khoan hồng.

Về thẩm quyền:

Người đứng đầu của Cơ quan cạnh tranh (Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia) là Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia có quyền quyết định việc cho miễn hoặc giảm mức xử phạt. Quy định này cũng giống như ở nhiều nước là Cơ quan cạnh tranh có quyền quyết định áp dụng chính sách khoan hồng để miễn hoặc giảm mức xử phạt cho đương đơn. Tuy nhiên, kinh nghiệm các nước cũng cho thấy khi Cơ quan cạnh tranh áp dụng chương trình khoan hồng để miễn hoặc giảm mức xử phạt thì cần có sự công nhận của các cơ quan có liên quan như Cơ quan điều tra hình sự, Cơ quan công tố, Cơ quan tòa án.

     Về điều kiện áp dụng: Quy định tại Điều 112 Luật Cạnh tranh 2018 của Việt Nam về cơ bản đã đầy đủ và minh bạch về các điều kiện để được hưởng khoan hồng, điều này cho phép mọi doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức có thể tự đánh giá về khả năng của mình đáp ứng các điều kiện theo luật định để có thể được áp dụng chính sách khoan hồng. Khoản 3 Điều 12 Luật Cạnh tranh 2018 của Việt Nam quy định điều kiện để được miễn giảm mức xử phạt theo chính sách khoan hồng là tự nguyện khai báo về hành vi vi phạm trước khi Cơ quan cạnh tranh ra quyết định điều tra, cung cấp thông tin, bằng chứng và hợp tác đầy đủ với Cơ quan cạnh tranh giống như chính sách khoan hồng ở các nước.

     Yếu tố tự nguyện khai báo và khai báo trước khi có quyết định điều tra có tính chất tiên quyết đảm bảo đương đơn có thể được hưởng khoan hồng. Cần nhận thức rõ là đương đơn khai báo trước khi có quyết định điều tra, khác với việc khai báo trước khi cơ quan điều tra biết hoặc có thông tin về hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. Quy định khai báo trước khi có quyết định điều tra có tính linh hoạt cao hơn và tạo cơ hội hơn cho cả doanh nghiệp muốn khai báo và cả cơ quan điều tra cạnh tranh, bởi trong nhiều trường hợp, mặc dù Cơ quan cạnh tranh có thông tin về thỏa thuận nhưng chưa đầy đủ và đảm bảo tính chắc chắn để quyết định điều tra, do đó cần có thêm các thông tin, bằng chứng cụ thể khác và điều đó rất cần từ các đương đơn xin hưởng khoan hồng.

     Những doanh nghiệp có vai trò ép buộc, tổ chức sẽ không được miễn giảm mức xử phạt theo chính sách khoan hồng. Quy định này nhằm tránh trường hợp doanh nghiệp lợi dụng, sử dụng chính sách pháp luật và quyền lực của cơ quan thực thi như một biện pháp cạnh tranh không chính đáng của mình.

     Tuy nhiên, kinh nghiệm của các nước cũng cho thấy cần có một trình tự, thủ tục cụ thể nhằm đảm bảo rõ ràng, minh bạch và sự chắc chắn cho các cá nhân, tổ chức và cả cơ quan thực thi khi áp dụng.

Về số lượng doanh nghiệp:

Khoản 5 Điều 112 Luật Cạnh tranh 2018 của Việt Nam quy định chính sách khoan hồng chỉ áp dụng cho tối đa 03 doanh nghiệp đầu tiên nộp đơn xin hưởng khoan hồng và đáp ứng đủ điều kiện. Theo quy định tại khoản 6 điều này, cơ sở để xác định thứ tự ưu tiên của ba doanh nghiệp đầu tiên là thứ tự khai báo, thời điểm khai báo và mức độ trung thực và giá trị của các thông tin, chứng cứ đã cung cấp. Việc quy định số lượng doanh nghiệp được hưởng khoan hồng tối đa 03 doanh nghiệp một phần nhằm hạn chế số lượng chủ thể vi phạm được hưởng khoan hồng để đảm bảo tính răn đe và nghiêm minh của pháp luật (các doanh nghiệp ngoài 03 doanh nghiệp này sẽ bị xử lý nghiêm minh) đồng thời không hạn chế quá ít doanh nghiệp để có cơ hội thu được nhiều thông tin, tài liệu, bằng chứng có giá trị hơn.

Về mức miễn giảm:

Khi đã xác định được 03 doanh nghiệp đầu tiên, theo quy định tại khoản 7 Điều 112 Luật Cạnh tranh 2018 của Việt Nam, doanh nghiệp thứ nhất được miễn 100% mức phạt tiền; doanh nghiệp thứ hai và thứ ba lần lượt được giảm 60% và 40% mức phạt tiền. Quy định này đảm bảo mục tiêu hiệu quả giống như chính sách khoan hồng của các nước là bảo vệ người trình báo khỏi hình phạt, hoặc giảm hình phạt dưới mức họ phải chịu. Quy định này cũng đảm bảo tính hấp dẫn của chính sách.

 Một điểm quan trọng nữa là cùng với quy định chính sách khoan hồng, Bộ Luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) của Việt nam tại Điều 217 quy định về tội vi phạm các quy định về cạnh tranh cũng đã lần đầu tiên quy định xử lý hình sự đối với các tổ chức, cá nhân tham gia thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm, làm tiền đề cho việc thực thi hiệu quả chính sách khoan hồng tại Luật Cạnh tranh 2018 của Việt Nam.

Chính sách khoan hồng tại Điều 112 Luật Cạnh tranh 2018 của Việt Nam là một cơ chế mới để phát hiện thỏa thuận hạn chế cạnh tranh mà Cơ quan cạnh tranh có thể sử dụng. Điều này cũng khiến các thỏa thuận phi pháp trở nên rủi ro hơn, có nhiều khả năng bị phá vỡ hơn và buộc các doanh nghiệp phải cân nhắc đến việc liệu có nên tham gia vào các thỏa thuận với những kẻ có khả năng lừa đảo hay không.

III. Một số giải pháp khắc phục

Mặc dù có giá trị pháp lý và tính chắc chắn về mặt pháp lý cao nhưng do chỉ là một điều khoản trong luật nên quy định về chính sách khoan hồng tại Điều 112 Luật Cạnh tranh 2018 của Việt Nam chủ yếu là những nguyên tắc cơ bản giới hạn trong một điều khoản, chưa thực sự chi tiết, cụ thể nên các cá nhân, tổ chức và Cơ quan cạnh tranh khó có thể áp dụng hiệu quả ngay được, chưa đáp ứng đầy đủ các yêu cầu cần thiết, đặc biệt là về mặt thủ tục, để đảm bảo tính khả thi, hiệu lực, hiệu quả. Vì vậy, quy định này cần có hướng dẫn cụ thể hơn.

Ngoài ra, việc chính sách khoan hồng không áp dụng đối với các cá nhân là một bất cập. Để gia tăng khả năng thành công trong các vụ việc về thoả thuận HCCT, nên bổ sung việc áp dụng chính sách khoan hồng đối với các cá nhân có liên quan. Vì vậy, cần sửa đổi Điều 112 Luật Cạnh tranh năm 2018 theo hướng: “cá nhân có liên quan đến việc hình thành, thúc đẩy, thực hiện các thoả thuận hạn chế cạnh tranh nếu thoả mãn các điều kiện tại khoản 3 Điều này có thể được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc giảm hình phạt”

Như vậy, cần thiết xây dựng và phát triển “chính sách khoan hồng” trong quy định của Luật Cạnh tranh Việt Nam một cách hoàn thiện hơn. Khi đưa ra những đề xuất mới cần học hỏi kinh nghiệm các nước, kết hợp với nguyên tắc minh bạch, rõ ràng, bảo mật thông tin đối tượng khai báo và chương trình bảo vệ nhân chứng… bởi đây là một chính sách rất quan trọng dành cho các chủ ttheertrong lĩnh vực cạnh tranh.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Luật Cạnh tranh 2018
  2. Nguyễn Anh Tuấn, Cơ sở lý luận và thực tiễn áp dụng chính sách khoan hồng theo Luật Cạnh tranh của một số nước trên thế giới và đề xuất bổ sung cho Việt Nam, Tạp chí Khoa học pháp lý số 1/2013
  3. 4 điều kiện hưởng khoan hồng trong thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, Nguyễn Kim Anh
  4. Chính sách khoan hồng theo quy định của Luật Cạnh tranh 2018,

Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong TTDS

Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong TTDS.

Trong quá trình tòa án giải quyết vụ việc dân sự, bảo vệ kịp thời quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong tố tụng dân sự luôn luôn là mục tiêu được Toà án nhân dân coi trọng và hướng đến. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, quyền dân sự của con người ngày càng được mở rộng, kinh tế xã hội phát triển không ngừng, các tranh chấp phát sinh ngày càng đa dạng. Trên thực tế, vì lợi ích của mình hoặc do thiếu thiện chí, nhiều người có hành vi tẩu tán tài sản, hủy hoại hoặc xâm phạm chứng cứ, mua chuộc người làm chứng,…Vì vậy, đôi khi tòa án phải quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời (BPKCTT) là những biện pháp cần thiết để giải quyết nhu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ bằng chứng hoặc đảm bảo thi hành án. Bộ luật TTDS 2015 đã bổ sung thêm một số biện pháp khẩn cấp tạm thời mới phù hợp với các văn bản pháp luật khác có liên quan và thực tiễn giải quyết các vụ việc dân sự. Tuy nhiên, trong thực tiễn áp dụng các quy định về biện pháp khẩn cấp tạm thời của các Tòa án nhân dân còn nhiều hạn chế, bất cập.

I. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

1.1 Khái niệm áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng dân sự

          Biện pháp khẩn cấp tạm thời là biện pháp tòa án quyết định áp dụng trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự nhằm giải quyết nhu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ bằng chứng, bảo toàn tài sản tránh gây thiệt hại không thể khắc phục được hoặc bảo đảm việc thi hành án.[1]

          Áp dụng BPKCTT  trong giải quyết các vụ án dân sự là việc của Tòa án xét các căn cứ, thủ tục về biện pháp khẩn cấp tạm thời để ban hành một hoặc nhiều quyết định biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc ra quyết định sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời đã được áp dụng nhằm tạm thời giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, thu nhập chứng cứ, bảo vệ chứng cứ, đảm bảo việc giải quyết vụ án hoặc việc thi hành án.

1.2 Đặc điểm của việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng dân sự

          Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là hoạt động áp dụng pháp luật nên nó có đầy đủ các đặc điểm của hoạt động áp dụng pháp luật chung như: mang tính quyền lực nhà nước, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền, mang tính cá biệt,.. Tuy nhiên, so với các biện pháp khác được tòa án quyết định áp dụng trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự thì BPKCTT có những nhiều điểm khác biệt:

          – Tính khẩn cấp: Tòa án phải ra quyết định áp dụng ngay đôi khi không cần có yêu cầu của đương sự và quyết định này được thực hiện ngay sau khi được toàn án quyết định áp dụng. Mục đích của việc áp dụng BPKCTT trong các trường hợp này nhằm đáp ứng nhu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ kịp thời quyền lợi của người có yêu cầu hoặc người yếu thế.

          – Tính tạm thời: quyết định áp dụng BPKCTT chưa phải là quyết định cuối cùng về giải quyết vụ việc dân sự. Đây chỉ là biện pháp tạm thời được áp dụng trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, chưa phải là quyết định về giải quyết vụ việc dân sự. Sau khi áp dụng BPKCTT nếu lí do của việc áp dụng không còn nữa thì tòa án có thể hủy bỏ quyết định này.

          – Áp dụng BPKCTT phải tuân theo các điều kiện, trình tự, thủ tục do pháp luật quy định nhằm bảo vệ quyền  và lợi ích hợp pháp của các đương sự.

1.3 Ý nghĩa của việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng dân sự

          – Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời góp phần giải quyết nhu cầu cấp bách của đương sự: Các biện pháp khẩn cấp tạm thời như buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ cấp dưỡng, buộc thực hiện một phần nghĩa vụ bồi thường thiệt hại,… được áp dụng có ý nghĩa quan trọng trong giải quyết nhu cầu cấp bách của đương sự. Nếu không áp dụng ngay thì có thể sẽ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của đương sự.

          –  Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời góp phần bảo vệ chứng cứ cho việc giải quyết vụ án: Trên thực tế có nhiều trường hợp để trốn tránh nghĩa vụ, đương sự có tâm lý muốn hủy hoại chứng cứ, chuyển dịch quyền tài sản,… Việc áp dụng các BPKCTT góp phần ngăn ngừa các hành vi tiêu cực trên, đồng thời giúp Tòa án xem xét, đánh giá chứng cứ, giải quyết vụ án được chính xác và khách quan.

          – Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời góp phần bảo tình trạng tài sản tránh việc gây thiệt hại không thể khắc phục được, giữ được tài sản bảo đảm cho việc thi hành bản án, quyết định của tòa án sau này.

Như vậy, việc áp dụng BPKCTT mang nhiều ý nghĩa không những đối với việc giải quyết vụ viện dân sự của Tòa án mà cả đối với việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Tuy nhiên, việc áp dụng BPKCTT có thể gây thiệt hại đến quyền và lợi ích của người bị áp dụng và người khác. Do vậy, tòa án phải xem xét thận trọng trước khi quyết định áp dụng biện pháp này và phải thực hiện đúng quy định của pháp luật để tránh gây thiệt hại cho đương sự và các chủ thể khác.

II, PHÂN TÍCH VÀ BÌNH LUẬN QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ ÁP DỤNG BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI

2.1 Các loại biện pháp khẩn cấp tạm thời

          Trên thực tế, các tranh chấp dân sự xảy ra rất đa dạng, yêu cầu áp dụng BPKCTT đa dạng nên các biện pháp này cũng cần được áp dụng cụ thể. Theo quy định tại Điều 114 BLTTDS năm 2015 có 16 BPKCTT, đã bổ sung thêm một số biện pháp so với Bộ luật TTDS năm 2011 như: Cấm xuất cảnh đối với người có nghĩa vụ, cấm tiếp xúc với nạn nhân bạo lực gia đình, tạm dừng việc đóng thầu và các hoạt động có liên quan đến việc đấu thầu, bắt giữ tàu bay bay, tàu biển để bảo đảm giải quyết vụ án. Ngoài 16 biện pháp trên thì tòa án cũng có thể áp dụng các BPKCTT khác do pháp luật quy định. Mỗi BPKCTT chỉ được áp dụng trong trường hợp nhất định, với một ý nghĩa nhất định.

          Trong từng trường hợp cụ thể người có quyền yêu cầu tòa án áp dụng BPKCTT phải lựa chọn BPKCTT phù hợp để yêu cầu tòa án ra quyết định áp dụng. Do giới hạn số trang của bài tập nên em xin đi sâu phân tích một số BPKCTT cụ thể như sau:

          – Biện pháp giao người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi cho cá nhân hoặc tổ chức trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục

          Theo quy đinh tại Điều 115 BLTTDS năm 2015 thì BPKCTT giao người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi cho cá nhân hoặc tổ chức trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục được tòa án quyết định áp dụng trong việc giải quyết vụ án có liên quan đến những người này mà họ chưa có người giám hộ. Đối chiếu với Khoản 1 Điều 102 BLTTDS năm 2011, BLTTDS năm 2015 đã bổ sung thêm đối tượng được giao để “trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục” là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Quy định này là phù hợp với BLDS 2015 vì bộ luật mới đã bổ sung thêm quy định về năng lực hành vi dân sự của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Bên cạnh đó, Điều 115 BLTTDS năm 2015 đã bổ sung thêm quy định “Việc giao người chưa thành niên từ đủ bảy tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của người đó”. Quy định này nhằm bảo đảm cho việc chăm sóc, giáo dục người chưa thành niên được tốt nhất, quan tâm đến tâm tư, nguyện vọng của họ.

          Trong thực tiễn tố tụng khi giải quyết các vụ án liên quan đến người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi như vụ án li hôn, tước quyền chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên của bố mẹ,.. khi thấy cần thiết Tòa án có thể tự mình hoặc theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan tổ chức có quyền yêu cầu tòa án quyết định áp dụng BPKCTT . Tuy nhiên, trường hợp người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi trong vụ án hôn nhân và gia đình đã có người giám hộ nhưng người giám hộ đó lại đang chấp hành hình phạt tù, đang trong tình trạng bị hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên hoặc một bên cha, mẹ đang chấp hành hình phạt tù còn bên kia rơi vào hoàn cảnh đặc biệt khó khăn như ốm nặng, nghèo túng không thể trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục người chưa thành niên. Với những trường hợp này Tòa án cũng cần phải quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời giao người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi cho cá nhân, cơ quan, tổ chức đó trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.[2]

          Vì vậy, biện pháp khẩn cấp tạm thời này cần được áp dụng đối với việc giải quyết việc tuyên bó một người bị mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi nếu họ chưa có người giám hộ hoặc đã có người giám hộ nhưng người giám hộ không có khả năng thực hiện việc giám hộ.

          -Biện pháp kê biên tài sản đang tranh chấp

          Kê biên tài sản đang tranh chấp là biện pháp khẩn cấp tạm thời do Tòa án quyết định áp dụng nhằm kiểm kê, thống kê những tài sản đang có trong tranh chấp trong vụ kiện để nắm rõ những tài sản đó và buộc người đang giữ tài sản tranh chấp không được chuyển dịch, tẩu tán hay phá hủy tài sản.

          Tòa án quyết định áp dụng BPKCTT này khi giải quyết vụ án dân sự theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu. Tài sản đang tranh chấp có thể là động sản hoặc bất động sản. Trong trường hợp tài sản bị kê biên là động sản thì sau khi kê biên tài sản có thể bị thu giữ, bảo quản tại kho của cơ quan thi hành án hoặc giao cho người thứ ba quản lý cho đến khi có quyết định của Tòa án. Trường hợp tài sản bị kê biên là bất động sản thì sau khi kê biên tài sản có thể được giao cho đương sự hoặc người thứ ba quản lý cho đến khi có quyết định của Tòa án. Căn cứ vào Điều 120 BLTTDS 2015, biện pháp này được áp dụng khi có hai điều kiện sau:

          + Khoản 1 Điều 120 BLTTDS 2015 nêu nên đối tượng kê biên:  biện pháp khẩn cấp tạm thời kê biên tài sản chỉ áp dụng đối với tài sản đang có tranh chấp mà không phải là áp dụng đối với tất cả tài sản của đương sự trong vụ án dân sự. Có quan điểm cho rằng “ Những tài sản không phải là tài sản tranh chấp hoặc những tài sản chỉ liên quan đến tài sản tranh chấp sẽ không nằm trong những phạm vi những tài sản bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời kê biên”[3]. Tuy nhiên cá nhân em cho rằng những tài sản liên quan với tài sản tranh chấp có mối quan hệ mật thiết với nhau. Đôi khi đương sự vì muốn bảo vệ lợi ích cá nhân mà muốn chuyển đổi, tạo ra chứng cứ giả để tẩu tán tài sản, khiến nó không nằm trong phạm vi bị kê biên. Nếu chỉ áp dụng trong phạm vi tài sản tranh chấp thì có thể bỏ qua những tình tiết, tài sản gây thiệt hại đến đương sự, đồng thời biện pháp này cũng mất đi giá trị là tính khẩn cấp.

          + Điều kiện thứ hai là Tòa án chỉ được áp dụng BKKCTT này khi có “căn cứ cho thấy người đang giữ tài sản có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản tranh chấp”. Như vậy có thể hiểu rằng chỉ khi có những căn cứ xác thực là người đang nắm giữ tài sản tranh chấp đã có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản tranh chấp thì Tòa án mới được quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời kê biên. Nếu hiểu như cách này thì có thể biện pháp kê biên tài sản sẽ không đáp ứng được tính khẩn cấp và gần như không có tác dụng bảo toàn tài sản vì có thể đến khi áp dụng BPKCTT thì tài sản đã bị hủy hoại hoặc tẩu tán. Nhưng nếu hiểu theo cách là có căn cứ cho thấy người đang giữ tài sản có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản tranh chấp thì tính kịp thời sẽ được đảm bảo vì trên thực tế hành vi hủy hoại, tẩu tán tài sản chưa xảy ra. Chính vì vậy, điều luật này cần phải được bổ sung rõ ràng để người thực thi pháp luật thống nhất cách hiểu và áp dụng đúng đắn nhất.

2.2 Buộc thực hiện biện pháp bảo đảm

          Pháp luật đã quy định người yêu cầu tòa án áp dụng BPKCTT phải thực hiện biện pháp bảo đảm nhằm mục đích đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng và người thứ ba; tránh được việc lạm dụng yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.

          Trên thực tế, mỗi vụ việc dân sự xảy ra đều có những đặc điểm riêng cho nên việc giải quyết nó, việc áp dụng BPKCTT trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự cũng có những yêu cầu riêng. Theo Điều 136 BLTTDS 2015, việc thực hiện biện pháp bảo đảm chỉ thực hiện đối với những trường hợp mà việc áp dụng BPKCTT có thể xâm phạm nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng hoặc người thứ ba.

2.3 Thẩm quyền, thủ tục áp dụng, thay đổi và hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời

          Thẩm quyền quyết định áp dụng, thay đổi và hủy bỏ BPKCTT được xác định theo thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự. Trước khi mở phiên tòa, việc giải quyết vụ án dân sự do một thẩm phán tiến hành nên việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ BPKCTT do một thẩm phán xem xét, quyết định. Tại phiên tòa, việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ BPKCTT do hội đồng xét xử xem xét, quyết định. Trường hợp hủy bỏ BPKCTT sau khi bản án, quyết định của tòa án có hiệu lực pháp luật thì do một thẩm phán được chánh án của tòa án đã đưa ra quyết định áp dụng BPKCTT phân công giải quyết quyết định.

          Thủ tục áp dụng BPKCTT được quy định tại Điều 133 BLTTDS 2015.

          Sau khi ra quyết định mà xét thấy BPKCTT đang được áp dụng không còn phù hợp hoặc không cần thiết, phải thay đổi hoặc phải áp dụng  bổ sung BPKCTT khác vì điều kiện áp dụng thay đổi thì tòa án có thể quyết định thay đổi, áp dụng bổ sung biện pháp khẩn cấp tạm thời[4]. Ngoài ra, tòa án cũng có thể quyết định hủy bỏ BPKCTT.  Tuy vậy, để đảm bảo việc quyết định thay đổi, áp dụng bổ sung hay hủy bỏ BPKCTT được đúng, tòa án phải xem xét thận trong trước khi quyết định. Đối với việc hủy bỏ BPKCTT chỉ được thực hiện khi thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 138 BLTTDS 2015. Đồng thời, Tòa án phải xem xét quyết định để người yêu cầu áp dụng BPKCTT nhận lại chứng từ bảo lãnh được bảo đảm bằng tài sản của ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng khác hoặc tài sản bảo đảm đã nộp ở ngân hàng, trừ trường hợp người yêu cầu tòa án áp dụng BPKCTT không đúng gây thiệt hại phải bồi thường cho người bị áp dụng BPKCTT hoặc cho người thứ ba.

2.4 Khiếu nại, kiến nghị áp dụng, thay đổi và hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời

          Khi áp dụng BPKCTT thì hiệu lực và việc thi hành được quy định tại Điều 123 và Điều 126 BLTTDS. Tuy nhiên, việc áp dụng, thay đổi và hủy bỏ BPKCTT có thể không chính xác hoặc không còn căn cứ nên đương sự có quyền khiếu nại, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị. Việc khiếu nại, kiến nghị khi cho rằng quyết định áp dụng, thay đổi, bổ sung, hủy bỏ BPKCTT của Tòa án là không đúng hoặc hành vi của Thẩm phán, Hội đồng xét xử trong việc giải quyết yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là không đúng. Vì quyết định áp dụng BPKCTT  có hiệu lực thi hành ngay, không thể bị kháng cáo, kháng nghị nên quy định về khiếu nại và kiến nghị về quyết định này là cần thiết, góp phần bảo đảm cho việc giải quyết yêu cầu áp dụng BPKCTT được đúng đắn và khách quan. Điều 140, Điều 141 quy định chi tiết thời hạn và thẩm quyền và việc giải quyết khiếu nại, kiến nghị này.

2.5 Trách nhiệm do áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng

          Áp dụng BPKCTT chỉ có ý nghĩa khi nó không xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Vì vậy, để nâng cao trách nhiệm của tòa án và người có quyền yêu cầu áp dụng BPKCTT, pháp luật hiện hành còn quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do áp dụng BPKCTT không đúng.

          – Đối với trường hợp người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng[5]

Hiểu sâu về quy định này thì có thể thấy điểm bất cập. Bởi đương sự có quyền yêu cầu áp dụng BPKCTT, song việc có áp dụng hay không là do Tòa án xem xét và quyết định. Tòa án có nhiệm vụ cân nhắc, căn cứ vào quy định của pháp luật và đơn yêu cầu để quyết định có áp dụng hay không biện pháp khẩn cấp tạm thời mà đương sự yêu cầu. Vì vậy, pháp luật chỉ xác định trách nhiệm của người yêu cầu trong trường hợp này là chưa thỏa đáng mà cần có quy định cả trách nhiệm của Tòa án trong trường hợp này.

– Đối với trường hợp Tòa án tự mình áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

Theo khoản 2 Điều 113 BLTTDS 2015 tòa án áp dụng BPKCTT không đúng mà gây thiệt hại cho người bị áp dụng hoặc cho người thứ ba thì tòa án phải bồi thường cho người bị hại. Tuy nhiên, tòa án chỉ phải bồi thường trong các trường hợp nhất định quy định tại điều này. Việc xác định trách nhiệm bồi thường của tòa án, mức bồi thường cụ thể trong từng trường hợp do tòa án áp dụng BPKCTT không đúng được thực hiện theo quy định của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

Kết luận 1: Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đã quy định tương đối cụ thể, chi tiết các biện pháp khẩn cấp tạm thời, tạo cơ sở pháp lý cho việc áp dụng BPKCTT, dự liệu được các tình huống phát sinh trong thực tiễn đời sống, nên đã tạo điều kiện thuận lợi cho Tòa án, các đương sự trong quá trình yêu cầu và áp dụng BPKCTT vào thực tiễn giải quyết vụ án dân sự. Thông qua việc phân tích và đánh giá, cũng nhận thấy một số quy định của pháp luật hiện hành còn bộc lộ những điểm hạn chế, bất cập cần được nghiên cứu và hoàn thiện thêm.

II. THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT TRONG ÁP DỤNG BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI

3.1 Thực trạng thực hiện pháp luật về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

          Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung nhiều nội dung, trong đó quy định mới một số biện pháp, đồng thời sửa đổi, bổ sung một số quy định khác về các biện pháp khẩn cấp tạm thời. Thực tiễn giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động ,…thời gian qua cho thấy, việc áp dụng các quy định về biện pháp khẩn cấp tạm thời tại các Tòa án nhân dân về cơ bản đã đảm bảo đúng pháp luật. Tuy nhiên, vẫn còn một số Tòa án nhân dân để xảy ra sai sót, vi phạm. Phụ lục của chỉ thị số 03/2019/CT-CA ngày 30 tháng 12 năm 2019 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao (đính kèm phần phụ lục) đã chỉ ra một số sai sót cần rút kinh nghiệm trong vệc áp dụng các BPKCTT. Do đó, em xin đưa ra một vài vụ việc thực tiễn cho những sai phạm đó

Thứ nhất, về đương sự có quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

          Theo quy định tại khoản 1 Điều 111 BLTTDS năm 2015 thì quy định về quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời  của đương sự . Như vậy, đương sự (gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mà không phân biệt bị đơn có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập hay không) đều có quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án. Tuy nhiên, thực tiễn hiện nay vẫn còn có ý kiến khác nhau về quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Cụ thể có ý kiến cho rằng chỉ khi nào bị đơn có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập thì mới có quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Một vụ án đã  minh chứng cho vấn đề này[6].

Thứ hai, về việc yêu cầu đương sự sửa đơn yêu cầu và nộp chứng cứ cho Tòa án

          Theo quy định tại khoản 1 Điều 133 BLTTDS năm 2015, người yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải làm đơn gửi đến Tòa án có thẩm quyền. Đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của đương sự phải có các nội dung chính quy định từ điểm a đến điểm e khoản 1 Điều 133 BLTTDS năm 2015.

Như vậy, nếu đương sự làm đơn yêu cầu chưa đúng theo quy định thì Tòa án chưa xem xét đơn yêu cầu của đương sự mà phải yêu cầu đương sự sửa đổi, bổ sung đơn yêu cầu. Tuy nhiên, hiện nay BLTTDS năm 2015 cũng như chưa có văn bản nào hướng dẫn thời hạn đương sự sửa đổi, bổ sung đơn trong thời hạn bao lâu. Nếu hết thời hạn đó mà đương sự không sửa đổi, bổ sung đơn yêu cầu theo yêu cầu của Tòa án thì hậu quả pháp lý như thế nào. Cụ thể là Tòa án có quyền trả lại đơn yêu cầu cho đương sự hay không. Tương tự, nếu đương sự cung cấp chứng cứ chưa đủ thì Tòa án đề nghị đương sự cung cấp bổ sung chứng cứ trong thời hạn bao lâu. Nếu hết thời hạn được yêu cầu mà đương sự không cung cấp bổ sung được chứng cứ thì hậu quả pháp lý như thế nào. Cụ thể là Tòa án trả lại đơn yêu cầu cho đương sự hay xem xét đơn yêu cầu và ra quyết định không chấp nhận yêu cầu của đương sự.

Thứ ba, về xác định giá trị tài sản bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

          Hiện nay về nguyên tắc Tòa án chỉ phong tỏa tài sản, tài khoản tương ứng với nghĩa vụ tài sản mà người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải thực hiện. Nên việc Tòa án phải xác định giá trị tài sản bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Tuy nhiên, vấn đề xác định giá trị tài sản bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời cần phải được hướng dẫn cụ thể hơn, nhất là về thẩm quyền, trình tự, thủ tục và thời gian Tòa án phải xác định giá trị tài sản bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Cụ thể là tự Thẩm phán, Hội đồng xét xử có quyền xác định giá trị tài sản bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không. Hay là phải do Hội đồng định giá tài sản xác định. Trình tự, thủ tục tiến hành việc xác định giá tài sản như thế nào. Thời hạn để xác định già trị tài sản bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là bao lâu. Một vấn đề khác nữa là nếu tại phiên tòa đương sự có đơn yêu cầu phong tỏa tài sản và Tòa án cần phải xác định giá trị tài sản bị áp dụng biện pháp tạm thời và cần có thời gian mới xác định được già trị tài sản thì Hội đồng xét xử quyết định tạm dừng phiên tòa hay phải hoãn phiên tòa.

Thứ tư, một số biện pháp khẩn cấp tạm thời còn được hiểu chưa rõ ràng

          Có rất nhiều BPKCTT được áp dụng chưa đúng, còn hiểu sai về quy định pháp luật, cụ thể như một vài vụ án thực tiễn sau:

          Vụ án đầu tiên[7] liên quan đến biện pháp giao người chưa thành niên, người bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự cho cá nhân hoặc tổ chức trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục”

Cần phải hiểu thuật ngữ “người giám hộ” theo nghĩa rộng gồm “người đại diện theo pháp luật, người giám hộ” và phải là việc đại diện, giám hộ hợp pháp. Trong trường hợp trên, theo bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, bà L là người đại diện theo pháp luật và có quyền nuôi dưỡng cháu K. Việc ông H giữ cháu K mà không có sự đồng ý của bà L ảnh hưởng đến quyền nuôi dưỡng con chung của bà L. Vì vậy, bà L hoàn toàn có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng BPKCTT tại Điều 115 BLTTDS năm 2015.

          Vụ án thứ hai[8] liên quan đến biện pháp “cấm hoặc buộc thực hiện hành vi nhất định”

Điều 127 BLTTDS năm 2015 quy định, cấm hoặc buộc thực hiện hành vi nhất định được áp dụng nếu trong quá trình giải quyết vụ án có căn cứ cho thấy, đương sự hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác thực hiện hoặc không thực hiện một hoặc một số hành vi nhất định làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác có liên quan trong vụ án đang được Tòa án giải quyết.

Tuy nhiên, quy định của Điều 127 vô tình tạo khoảng trống để đương sự lạm dụng, né tránh khi yêu cầu Tòa án áp dụng BPKCTT trong thực tiễn. Theo đó, đương sự có thể yêu cầu Tòa án áp dụng BPKCTT tại Điều 127 để buộc người đang chiếm hữu, người giữ tài sản hoặc chủ sở hữu tài sản (mà không phải tài sản tranh chấp) không được tẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc có hành vi chuyển dịch quyền về tài sản cho người khác hoặc yêu cầu áp dụng BPKCTT đối với phần tài sản có giá trị lớn hơn nghĩa vụ của người bị áp dụng BPKCTT. Trong khi đó, các yêu cầu này thực chất thuộc phạm vi áp dụng BPKCTT tại các Điều 120, 121, 125, 126 BLTTDS năm 2015.

3.2 Hoàn thiện pháp luật TTDS về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

          – Hoàn thiện pháp luật về xác định trách nhiệm của Thẩm phán trong trường hợp áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng.

          – Hoàn thiện quy định về thời điểm ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong trường hợp đương sự nộp đơn yêu cầu áp dụng BPKCTT cùng với việc nộp đơn khởi kiện.

          – Thống nhất cách hiểu chung về quy định: đương sự có quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.

          – Bổ sung văn bản quy định thời hạn, thủ tục và hậu quả pháp lý việc yêu cầu đương sự sửa đơn yêu cầu và nộp chứng cứ cho Tòa án.

          – Quy định chi tiết về việc xác định giá trị tài sản bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.

          Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là một trong những thủ tục cần thiết khi giải quyết vụ án dân sự, góp phần bảo đảm cho hoạt động xét xử và thi hành án dân sự. Các quy định về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong BLTTDS  ngày càng được hoàn thiện bằng việc bổ sung nhiều biện pháp mới cho phù hợp với thực tiễn và pháp luật nội dung. Thông qua sự tìm hiểu và phân tích cũng như từ thực tiễn áp dụng BPKCTT , những vấn đề bất cập, mâu thuẫn trong pháp luật cần được kịp thời phát hiện và kiến nghị sửa đổi, góp phần nâng cao hiệu suất áp dụng BPKCTT, bảo vệ tốt hơn các quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, Trường đại học luật Hà Nội NXB Công an nhân dân, 2018;
  2. Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017;
  3. Luật Trách nhiệm bồi thường Nhà nước năm 2016;
  4. Chỉ thị số 03/2019/CT-CA ngày 30 tháng 12 năm 2019 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao về việc nâng cao chất lượng áp dụng các quy định về biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng dân sự;
  5. Bùi Thị Huyền, Bàn về một số biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của BLTTDS năm 2015, Tạp chí Khoa học kiểm sát, số 02/2017;
  6. Nguyễn Trọng Bình, Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng dân sự và thực tiễn tại các tòa án nhân dân Sơn La, Luận văn thạc sĩ Luật học; TS. Hoàng Ngọ Thính hướng dẫn;

Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, chủ biên TS. Bùi Thị Huyền, Nxb Lao động năm 2016;


[1] Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, nxb Công an nhân dân tr.179

[2] Bùi Thị Huyền, Bàn về một số biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của BLTTDS năm 2015, Tạp chí Khoa học kiểm sát, số 02/2017

[3] Trần Phương Thảo (2011) BIện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng dân sự, Luận văn án tiến sĩ Luật học, Hà Nội. tr.80

[4] Điều 137. Thay đổi, áp dụng bổ sung biện pháp khẩn cấp tạm thời

Khi xét thấy biện pháp khẩn cấp tạm thời đang được áp dụng không còn phù hợp mà cần thiết phải thay đổi hoặc áp dụng bổ sung biện pháp khẩn cấp tạm thời khác thì thủ tục thay đổi, áp dụng bổ sung biện pháp khẩn cấp tạm thời khác được thực hiện theo quy định tại Điều 133 của Bộ luật này

[5] Điều 113. Trách nhiệm do áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng

1. Người yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về yêu cầu của mình; trường hợp yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng mà gây thiệt hại cho người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc cho người thứ ba thì phải bồi thường.

[6] Nguyên đơn là ông A là bên được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất tranh chấp, bị đơn là chị H là bên đang trực tiếp sử dụng thửa đất. Quá trình giải quyết vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất, ông A dùng xe cơ giới đấp đất trên thửa đất tranh chấp để chặn ngang đường cấp thoát nước vào ao nuôi cá của bị đơn. Bị đơn nộp đơn yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời buộc nguyên đơn phải khai thông đường cấp thoát nước vào ao nuôi cá của bị đơn. Vì việc ông A chặn đường cấp thoát nước vào ao cá của chị H làm thiệt hại tôm mà chị H đang nuôi chưa thu hoạch. Đối với vụ án này, có quan điểm cho rằng chị H không có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời vì trong chị H không có yêu cầu phản tố gì trong vụ án. Nhưng có quan điểm cho rằng chị H có quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời vì BLTTDS năm 2015 không có quy định bị đơn không có yêu cầu phản tố sẽ không có quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.

[7] Theo đơn khởi kiện, ông Huỳnh Ngọc H cho rằng, theo bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 629/2018/HNGĐ-ST của Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh T, bà Trần Hồng L được ly hôn với ông H; bà L được quyền nuôi dưỡng con chung tên Huỳnh Ngọc K, sinh ngày 11/10/2016. Chi cục Thi hành án dân sự huyện A đã giao cháu K cho ông Trần Hồng T (cha ruột của bà L) nhận nuôi dưỡng do được bà L ủy quyền. Tuy nhiên, do ông T nuôi dưỡng cháu K không đúng với bản án đã tuyên, là người lớn tuổi, vụng về trong việc chăm sóc trẻ nhỏ nên ông H đã mang cháu K về nuôi dưỡng sau khi ông T nhận cháu K khoảng 15 phút. Vì vậy, ông H yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, giao cháu K cho ông H nuôi dưỡng.

Trong quá trình giải quyết vụ án, do yêu cầu giao trả cháu K nhưng ông H không chấp nhận nên bà L có đơn yêu cầu Tòa án áp dụng BPKCTT theo Điều 115 BLTTDS năm 2015. Tuy nhiên, Tòa án nhân dân huyện A đã không chấp nhận yêu cầu của bà L do cháu K đang có người đại diện hợp pháp, người giám hộ theo quy định của pháp luật là bà L, ông H.

[8] Theo đơn khởi kiện ngày 13/5/2019, nguyên đơn ông Huỳnh Văn T trình bày, vào ngày 17/02/2019, ông T có cho bà Nguyễn Thị Đ vay số tiền 50.000.000 đồng, lãi suất 5%/tháng, thời hạn vay 01 năm. Hai bên có lập biên nhận thể hiện. Từ lúc vay tiền đến nay, bà Đ không đóng lãi cho ông T. Do bà Đ vi phạm nghĩa vụ trả lãi nên ông T khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh B buộc bà Đ trả lại số tiền vay 50.000.000 đồng và tiền lãi theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình giải quyết vụ án, do biết bà Đ được cấp quyền sử dụng đất nông nghiệp diện tích 3.500m2 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS03878 ngày 15/9/2017 của Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh B và bà Đ đang thực hiện thủ tục chuyển nhượng cho người khác nên để đảm bào cho việc thi hành án, ông T yêu cầu Tòa án áp dụng BPKCTT tại Điều 127 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, cấm bà Đ chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện tích 3.500m2. Ngày 21/8/2019, Tòa án nhân dân huyện T ban hành Quyết định áp dụng BPKCTT theo yêu cầu của bà Đ.

Phân tích các điều kiện để các loại bất động sản được phép đưa vào kinh doanh trong thị trường bất động sản

Phân tích các điều kiện để các loại bất động sản được phép đưa vào kinh doanh trong thị trường bất động sản.

Theo pháp luật dân sự hiện hành, cụ thể tại điều 107 BLDS 2015 quy định bất động sản bao gồm: đất đai; nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai; tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng; tài sản khác theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên không phải tất cả các loại bất động sản này đều được tham gia kinh doanh vào thị trường bất động sản mà từng loại bất động sản sẽ có những điều kiện riêng, đảm bảo hoạt động kinh doanh bất động sản được an toàn và hiệu quả. Điều 5 Luật Kinh doanh bất động sản 2014 sửa đổi bổ sung 2020 quy định có bốn loại bất động sản được đưa vào kinh doanh.

Điều 5. Các loại bất động sản đưa vào kinh doanh

Các loại bất động sản đưa vào kinh doanh theo quy định của Luật này (sau đây gọi là bất động sản) bao gồm:

1. Nhà, công trình xây dựng có sẵn của các tổ chức, cá nhân;

2. Nhà, công trình xây dựng hình thành trong tương lai của các tổ chức, cá nhân;

3. Nhà, công trình xây dựng là tài sản công được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép đưa vào kinh doanh;

4. Các loại đất được phép chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai thì được phép kinh doanh quyền sử dụng đất.

Như vậy, điều kiện để các loại bất động sản này được phép kinh doanh trong thị trường bất động sản cũng khác nhau.

Nhà, công trình xây dựng có sẵn của các tổ chức, cá nhân

BĐS này được hiểu là tại thời điểm giao dịch thì nhà, công trình xây dựng đã tồn tại và nghiệm thu. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 9 Luật KDBĐS thì nhà, công trình xây dựng được đưa vào kinh doanh phải đáp ứng điều kiện sau:

Thứ nhất, có đăng ký quyền sở hữu nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất trong giấy chứng nhận về quyền sử dụng đất. Đối với nhà, công trình xây dựng có sẵn trong dự án đầu tư kinh doanh bất động sản thì chỉ cần có giấy chứng nhận về quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai. Quy định này là hoàn toàn hợp lý bởi lẽ đất là bất động sản tạo ra tiền đề vật chất để các bất động sản khác hình thành, trong đó có nhà, công trình xây dựng. Trên thực tế, nhà đất là một khối tài sản thống nhất không thể tách rời do đó một nguyên lý phổ quát trong quản lý đất đai đó là quản lý theo thửa đất, những tài sản khác sinh ra từ đất, gắn liền với đất thì được quản lý theo đất.

Thứ hai, không có tranh chấp về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất. Đây là một trong những điều kiện quan trọng để bất động sản được đưa vào kinh doanh bởi khi có tranh chấp các thủ tục pháp lý rất phức tạp, bất động sản đôi khi còn bị thu hồi hoặc đấu giá,… dẫn đến thiệt hại nhất định cho các chủ thể kinh doanh. Hơn nữa, nhà đất là một khối tài sản thống nhất, không thể tách rời và nó mang giá trị lớn không chỉ đối với mỗi cá nhân mà còn đối với quốc gia. Theo đó, việc quy định quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất không có tranh chấp là một trong những điều kiện để đưa bất động sản vào kinh doanh nhằm tránh gây ra sự tranh cãi, kiện tụng liên quan đến quyền sở hữu những tài sản đặc biệt này làm rối loạn thị trường bất động sản.

Thứ ba, không bị kê biên để bảo đảm thi hành án. Kê biên tài sản là một biện pháp cưỡng chế của cơ quan nhà nước có thẩm quyền được áp dụng khi người phải thi hành án, người vi phạm phải có trách nhiệm thi hành nghĩa vụ trả tiền và mặc dù người này có điều kiện thi hành nhưng không tự nguyện thi hành. Như vậy, đây là điều kiện không thể thiếu đối với nhà ở, công trình xây dựng đưa vào kinh doanh bất động sản tránh ảnh hưởng đến quyền lợi của những người.

Nhà, công trình xây dựng hình thành trong tương lai của các tổ chức, cá nhân

Bất động sản hình thành trong tương lai cụ thể là nhà, công trình xây dựng đang trong quá trình xây dựng và chưa được nghiệm thu đưa vào sử dụng. Điều kiện của BĐS hình thành trong tương lai được đưa vào kinh doanh được quy định tại Khoản 1 Điều 55 Luật KDBĐS 2014:

Thứ nhất, có giấy tờ về quyền sử dụng đất. Quy định này phù hợp với pháp luật đất đai hiện hành. Theo đó, Khoản 7, 8, 9 Điều 3 Luật Đất đai 2013 quy định

“7. Nhà nước giao quyền sử dụng đất (sau đây gọi là Nhà nước giao đất) là việc Nhà nước ban hành quyết định giao đất để trao quyền sử dụng đất cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất.

8. Nhà nước cho thuê quyền sử dụng đất (sau đây gọi là Nhà nước cho thuê đất) là việc Nhà nước quyết định trao quyền sử dụng đất cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất thông qua hợp đồng cho thuê quyền sử dụng đất.

9. Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất là việc Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người đang sử dụng đất ổn định mà không có nguồn gốc được Nhà nước giao đất, cho thuê đất thông qua việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất lần đầu đối với thửa đất xác định.”

Thứ hai, đã có hồ sơ dự án đầu tư xây dựng nhà ở, có thiết kế kỹ thuật nhà ở được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt và có Giấy phép xây dựng (nếu thuộc diện phải có Giấy phép xây dựng); đã giải chấp đối với trường hợp có thế chấp nhà ở. Điều kiện này rất quan trọng vì tại thời điểm ký hợp đồng trong kinh doanh BĐS thì nhà, công trình này chưa hình thành hoặc đang hình thành theo hồ sơ dự án, thiết kế bản vẽ thi công và tiến độ cụ thể. Như vậy, đối tượng của hợp đồng là nhà, công trình đang được xây dựng nên các bên không thể quan sát đánh giá trực tiếp bằng mắt, bên mua sẽ căn cứ vào hồ sơ dự án, bản vẽ được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt để quyết định giao kết hợp đồng.

Thứ ba, đối với chung cư thì đã hoàn thành việc xây dựng xong phần móng theo quy định của pháp luật về xây dựng; đối với nhà ở riêng lẻ thì đã hoàn thành việc đầu tư xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật (gồm đường giao thông, hệ thống cấp, thoát nước, hệ thống cấp điện sinh hoạt, điện chiếu sáng công cộng) của khu vực nhà ở theo thiết kế và tiến độ được duyệt.

Thứ tư, có hợp đồng bảo đảm giao dịch nhà ở ký với tổ chức tài chính hoặc ngân hành thương mại theo quy định tại Điều 118 Luật nhà ở.

Thứ năm, trước khi bán, cho thuê mua ở nhà hình thành trong tương lai, chủ đầu tư phải có văn bản thông báo cho cơ quan quản lý nhà ở cấo tỉnh về việc nhà ở đủ điều kiện được bán, cho thuê mua. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo, cơ quan quản lý nhà ở cấp tỉnh có trách nhiệm trả lời bằng văn bản cho chủ đầu tư về nhà ở có đủ điều kiện được bán, cho thuê mua; trường hợp không đủ điều kiện phải nêu rõ lý do

Như vậy, có thể thấy rằng pháp luật đã quy định trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước về việc thẩm định xem chủ đầu tư có được bán nhà ở hình thành trong tương lai hay không. Quy định như vậy nhằm đề cao vai trò của nhà nước trong việc hạn chế rủi ro cho khách hàng, phần nào sẽ dẫn đến tâm lý “tin tưởng” của khách hàng khi mua nhà ở hình thành trong tương lai.

Nhà, công trình xây dựng là tài sản công được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép đưa vào kinh doanh

Theo khoản 1 Điều 56 Luật quản lý, sử dụng tài sản công 2017 thì tài sản công được đưa vào kinh doanh bao gồm: tài sản được giao, được đầu tư xây dựng, mua sắm để thực hiện nhiệm vụ Nhà nước giao nhưng chưa sử dụng hết công suất; tài sản được đầu tư xây dựng, mua sắm theo dự án được cơ quan, người có thẩm quyền phê duyệt để phục vụ hoạt động kinh doanh mà không do ngân sách nhà nước đầu tư. Để kinh doanh loại bất động sản là tài sản công thì Đơn vị sự nghiệp công lập phải lập đề án sử dụng tài sản công vào mục đích kinh doanh. Đề án sử dụng tài sản công tại đơn vị sự nghiệp công lập vào mục đích kinh doanh như sau:

Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được đề án, cơ quan được giao thực hiện nhiệm vụ quản lý tài sản công, Sở tài chính xem xét, cho ý kiến thẩm định về: sự cần thiết, sự phù hợp của đề án với chức năng, nhiệm vụ của đơnvij, quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công và pháp luật có liên quan, có nội dung trong đề án cần phải chỉnh lý, hoàn thiện; Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được ý kiến thẩm định, đơn vị sự nghiệp công lập có trách nhiệm nghiên cứu, tiếp thu ý kiến thẩm định để chỉnh lý, hoàn thiện đề án, trình cơ quan, người có thẩm quyền phê duyệt. Riêng đối với đề án sử dụng tài sản là cơ sở hoạt động sự nghiệp của đơn vị sự nghiệp công lập thuộc trung ương quản lý có nguyên giá theo sổ kế toán từ 500 tỷ đồng trở lên thì Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan trung ương phải xin ý kiến của Thủ tướng Chính phủ (đối với đơn vị sự nghiệp công lập thuộc trung ương quản lý), Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh phải xin ý kiến của Thường trực Hội đồng nhân dân cùng cấp (đối với đơn vị sự nghiệp thuộc địa phương quản lý) trước khi phê duyệt.

Các loại đất được phép chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai thì được phép kinh doanh quyền sử dụng đất.

Căn cứ vào Điều 188 Luật đất đai 2013 thì người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sau đây:

– Có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trừ trường hợp luật định. Giấy chứng nhận là căn cứ để xác định ai là người có quyền sử dụng đất, ai là chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất theo thông tin tại trang bìa hoặc trang ghi thông tin biết động. Điều kiện này rất quan trọng bởi nếu không có nó giao dịch vô hiệu và đất không được phép kinh doanh.

– Đất không có tranh chấp. Khi đất có tranh chấp thì NSD đất không được sang tên (chuyển nhượng) hoặc các quyền khác như chuyển đổi đất nông nghiệp, cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất.

– Quyền sử dụng đất không bị kê biên để đảm bảo thi hành án. Đất bị kê biên là hoạt động bảo đảm thi hành án do cơ quan thi hành tiến hành kiểm kê, lập danh sách tài sản (trong đó có đất đai) thuộc sở hữu của bị can, bị cáo hoặc người có trách nhiệm dân sự theo bản án, quyết định của Toà án. Pháp luật quy định điều kiện này là phù hợp với mục đích là bảo đảm an toàn tuyệt đối cho các giao dịch, bảo vệ lợi ích chính đáng cho các chủ thể tham gia.

– Trong thời hạn sử dụng đất

Thời hạn sử dụng đất là khoảng thời gian mà người sử dụng đất được thực hiện các quyền của mình. Tuỳ từng loại đất và trường hợp cụ thể mà thời hạn sử dụng đất là ổn định lâu dài, 50 năm, 70 năm, 99 năm. Thời hạn sử dụng đất khi nhận chuyển nhượng phụ thuộc vào thời hạn của chính loại đất đó. Nội dung này được quy định rõ tại Điều 128 Luật đất đai 2013: “Thời hạn sử dụng đất khi nhận chuyển quyền sử dụng đất đối với loại đất có quy định thời hạn là thời gian sử dụng đất còn lại của thời hạn sử dụng đất trước khi nhận chuyển quyền sử dụng đất”. Do đó đất trong thời hạn sử dụng của chủ sở hữu mới được phép chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại,..và được phép kinh doanh quyền sử dụng đất.

Như vậy, pháp luật KDBĐS đã quy định rất rõ ràng và cơ bản các điều kiện về BĐS được đưa vào kinh doanh. Tại Khoản 1 Điều 8 Luật KDBĐS xác định kinh doanh BĐS không đủ điều kiện theo quy định của Luật này là một hành vi cấm thực hiện. Do đó, các tổ chức, cá nhân kinh doanh bất động sản phải tuân thủ theo các điều kiện như trên, trường hợp vi phạm pháp luật và phải chịu các chế tài tương xứng cho hành vi đó.

Phân tích các nguyên tắc của kinh doanh bất động sản, đánh giá thực tiễn

Phân tích các nguyên tắc của kinh doanh bất động sản, đánh giá thực tiễn.

Thị trường bất động sản được biết đến là một trong những thị trường quan trọng có tầm ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế thị trường vì bất động sản là những tài sản có giá trị lớn về mặt kinh tế. Có thể nói rằng thị trường bất động sản là một trong những thị trường khó gia nhập, bao gồm các giao dịch về bất động sản được thực hiện thông qua quan hệ hàng hoá tiền tệ. “Kinh doanh bất động sản là việc đầu tư vốn để thực hiện hoạt động xây dựng, mua, nhận chuyển nhượng để bán, chuyển nhượng; cho thuê, cho thuê lại, cho thuê mua bất động sản; thực hiện dịch vụ môi giới bất động sản; dịch vụ sàn giao dịch bất động sản; dịch vụ tư vấn bất động sản hoặc quản lý bất động sản nhằm mục đích sinh lợi”- Khoản 1 Điều 3 Luật kinh doanh bất động sản 2014 sửa đổi bổ sung 2020. Để thực hiện tốt hoạt động kinh doanh bất động sản đòi hỏi pháp luật phải đặt ra những nguyên tắc chung, thống nhất. Điều 4 Luật KDBĐS quy định bốn nguyên tắc trong kinh doanh bất động sản như sau:

Một là, Bình đẳng trước pháp luật, tự do thoả thuận trên cơ sở tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của các bên thông qua hợp đồng, không trái quy định của pháp luật.

Nguyên tắc đầu tiên cũng là nguyên tắc mang tính tiên quyết trong hoạt động kinh doanh bất động sản. Nội dung của nó thể hiện tất cả các chủ thể tham gia vào thị trường bất động sản, không phân biệt doanh nghiệp tư nhân hay nhà nước, doanh nghiệp trong nước hoặc nước ngoài, tất cả đều được Nhà nước đối xử bình đẳng về quyền và nghĩa vụ khi tham gia kinh doanh bất động sản, miễn là họ có đủ điều kiện tham gia theo quy định của pháp luật. Theo đó, Điều 10[1] Luật KDBĐS quy định điều kiện của tổ chức, cá nhân kinh doanh bất động sản. Trong một sân chơi là thị trường BĐS, luật chơi chính là Luật KDBĐS, người chơi là các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tham gia vào thì tất cả đều có sự bình đẳng trước pháp luật. Bởi pháp luật là cán cân công lý, không có sự thiên vị bất kì ai. Quan hệ bình đẳng giúp các bên cạnh tranh một cách công bằng, lành mạnh, không có tiêu cực. Chỉ có môi trường lành mạnh thì các cá nhân, tổ chức mới kinh doanh phát triển mạnh mẽ và bền vững.

Việc tự do thoả thuận trên cơ sở tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của các bên thông qua hợp đồng và không trái pháp luật cũng là nội dung quan trọng trong nguyên tắc đầu tiên này. Bản chất của các giao dịch liên quan đến BĐS thực chất là sự thoả thuận về nội dung của các chủ thể. Các chủ thể được tự do ý chí để thoả thuận những gì mình mong muốn trong phạm vi không trái với các quy định của pháp luật. Có thể nói bất động sản là một thị trường mở, mỗi cá nhân, tổ chức tham gia vào thị trường đều có nhu cầu của riêng mình như chọn bất động sản phù hợp với mệnh, gia carnh, phong thuỷ,…do đó họ có quyền phát triển, lựa chọn những lối đi riêng. Việc này cũng góp phần tạo nên một thị trường sôi động hơn, thôi thúc và phát triển nền kinh tế nước nhà.

Cùng với sự phát triển của thị trường và nền kinh tế, hoạt động kinh doanh bất động sản (BĐS) là một hoạt động tất yếu và khách quan. Thời gian qua, sau đợt suy thoái của thị trường BĐS bắt đầu từ năm 2011 thì giai đoạn từ năm 2015-2020 là giai đoạn phục hồi, phát triển của thị trường. Giai đoạn này ghi nhận hoạt động kinh doanh BĐS diễn ra sôi nổi và đạt hiệu quả cao, nhiều khu quy hoạch, dự án đầu tư của tỉnh và chính phủ kéo theo sự quan tâm và thị hiếu của nhà đầu tư khiến thị trường biến động mạnh. Hiện nay các chủ thể thực hiện khá tốt nguyên tắc này do phải chịu chi phối của nhiều văn bản quy phạm pháp luật. Tuy nhiên, vẫn có những quy định chưa đồng nhất về chủ thể trong các văn bản. Ví dụ: Theo khoản 1 Điều 10 Luật KDBĐS 2014 thì tổ chức, cá nhân kinh doanh bất động sản phải có vốn pháp định không thấp hơn 20 tỷ đồng. Nếu hiểu kinh doanh bất động sản bao gồm cả kinh doanh dịch vụ bất động sản thì hành vi thứ 2 cũng phải thỏa mãn yêu cầu về vốn pháp định. Tuy nhiên, theo điểm b khoản 1 Điều 3 Nghị định 76/2015/NĐ-CP ngày 10/9/2015 về quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật KDBĐS 2014 thì tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ bất động sản không bị buộc phải có vốn pháp định. Rõ ràng, đây là sự nhầm lẫn do khi ghép khái niệm kinh doanh bất động sản và kinh doanh dịch vụ bất động sản mà các nhà soạn thảo không tính đến nên phải giải thích trong nghị định hướng dẫn thi hành.

Hai là, bất động sản đưa vào kinh doanh phải đáp ứng các điều kiện do luật định.

Điều 9[2] Luật KDBĐS 2014 quy định điều kiện của bất động sản được đưa vào kinh doanh. Đây là nguyên tắc cơ bản và cần thiết bởi đó là quy định tối thiểu và cần có để chứng minh mình là chủ sở hữu của BĐS được đưa vào giao dịch, chứng minh tình trạng pháp lý của tài sản sẽ đảm bảo an toàn cho các bên giao dịch đồng thời việc quy định quyền sử dụng đất không bị tranh chấp giúp giải quyết các vấn đề rắc rối có thể phát sinh khi thi hành án. Nguyên tắc này nhằm tạo môi trường đầu tư an toàn cho các nhà đầu tư kinh doanh bất động sản bởi đối tượng được đưa vào kinh doanh là phù hợp và được pháp luật công nhận.

Trên thực tế đa số các BĐS đưa vào kinh doanh đã đáp ứng đủ theo điều kiện luật định và pháp luật quy định cũng khá chặt chẽ. Tuy nhiên vẫn còn nhiều loại BĐS mà hiện nay pháp luật đang vướng mắc trong việc hoàn thiện quy định pháp lý để đưa vào kinh doanh như cấp giấy chứng nhânj quyền sở hữu cho bất động sản du lịch (codotel) hay căn hộ văn phòng (officetel),…Về điều kiện để bất động sản hình thành trong tương lai được bán cũng đang là một vấn đề đáng quan tâm, pháp luật quy định phải có bảo lãnh của ngân hàng, có rất nhiều dự án triển khai mua bán bất động sản hình thành trong tương lai nhưng không có sự bảo lãnh chính thức từ phía ngân hàng. Nguyên nhân bởi một số chủ đầu tư cho rằng là do vướng mắc trong khâu thẩm định năng lực tài chính và tài sản thế chấp của doanh nghiệp, đồng thời các ngân hàng e ngại bảo lãnh cho dự án nhà ở, công trình xây dựng hình thành trong tương lai tồn đọng nhiều rủi ro.

Ba là Kinh doanh bất động sản phải trung thực, công khai, minh bạch

Thị trường bất động sản là thị trường không hoàn hảo bởi cung chậm hơn cầu, BĐS lại mang tính cá biệt và loại hình KDBĐS liên quan đến tài sản lớn, tiềm ẩn nguy cơ có khả năng lừa đảo cao, đặc biệt là BĐS hình thành trong tương lai. Do đó, hoạt động kinh doanh bất động sản cần phải trung thực và chính xác, đầy đủ thông tin, rõ ràng và khách quan tránh tình trạng tạo ra thông tin để lừa đảo khách hàng. Khi thực hiện các giao dịch BĐS các chủ thể phải có thái độ đúng đắn, thành thật về BĐS là đối tượng giao dịch. Luôn luôn công khai và có thái độ đúng đắn, không che giấu, cố gắng lấp liếm, tạo thông tin giả về BĐS đề trục lợi cá nhân. Công khai minh bạch về dự án, hồ sơ pháp lý, giấy tờ kèm theo, chủ thể kinh doanh, BĐS,..mặt khác cũng cần phải trung thực đối với cơ quan nhà nước khi tiến hành làm thủ tục hành chính, cần khai báo chính xác những số liệu có liên quan đến BĐS. Nguyên tắc này mang đến cho chủ thể những lợi thế để gia nhập thị trường, có những giao dịch BĐS như mong muốn. Đồng thời góp phần tạo nên một môi trườnh kinh doanh lành mạnh, các chủ thể có thể tìm hiểu một cách nhanh chóng và tình hình của thị trường, từ đó đưa ra những phương án phù hợp cho những mục tiêu, chiến lược của mình. Đặc biệt, môt môi trường an toàn và đáng tin cậy sẽ thu hút các nguồn đầu tư lớn, xây dựng một thị trường rộng mở.

Thời gian qua, tình trạng đồn thổi, thiếu minh bạch trong BĐS gây ra tình trạng đẩy giá bất động sản lên cao, tạo bong bóng trên thị trường và gây tâm lý bất ổn cho người dân, gây nhiễu loạn hoạt động quản luý, điều hành của cơ quan nhà nước, đồng thời để lại nhiều hệ luỵ xấu cho thị trường BĐS cũng như đối với các vấn đề an ninh, trật tự xã hội. Hàng loạt cơn sốt đất bất thường xảy ra không chỉ đối với các thành phố lớn như Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh, mà ngay cả tại các địa phương vốn không có thế mạnh về thị trường BĐS như Hưng Yên, Bắc Giang,… giá đất cũng tăng cao chóng mặt. Thực tế, qua các cuộc kiểm toán về công tác quản lý, sử dụng đất đai, tài nguyên, tình trạng thiếu công khai, minh bạch trong quy hoạch sử dụng đất đã nhiều lần được kiểm toán nhà nước chỉ ra và yêu cầu chấn chỉnh. Tuy nhiên, do sự thiếu quyết liệt, thiếu giải pháp hữu hiệu của các địa phương, dẫn đến tình trạng này vẫn tồn tại. Một nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó là do chưa có sự đồng bộ về mặt thông tin, tình trạng đầu cơ BĐS, lực lượng môi giới BĐS đã lợi dụng sơ hở đó để thổi giá nhằm thu lợi bất chính, trái quy định của pháp luật.

Bốn là, Tổ chức cá nhân có quyền kinh doanh bất động sản tại khu vực ngoài phạm vi bảo vệ quốc phòng, an ninh theo quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt

Mỗi một quốc gia đều có khu vực bảo vệ an ninh quốc phòng nắm giữ bí mật kinh tế quân sự, những vấn đề then chốt của một quốc gia. Có thể nói đây là những khu vực quan trọng ảnh hưởng đến sự tồn tại của quốc gia đó, ảnh hưởng đến đời sống vật chất và nền kinh tế của toàn thể dân cư. Do đó, các chủ thể không được phép kinh doanh BĐS trong khu vực này là hợp lý. Nguyên tắc này tạo ra sự thống nhất cho các chủ thể khác nhau. Từ đó sẽ kèm theo là sự đơn giản khi thực hiện các thủ tục, tạo ra sự gọn nhẹ khi thực hiện khi có hoạt động giám sát, kiểm sát hoạt động. Mục đích của nguyên tắc cuối cùng này là đảm bảo sự hoà bình ổn định của an ninh quốc phòng nước nhà bởi đi cùng với sự mạnh mẽ của nền kinh tế chính là an nguy của chính trị cũng như an ninh quốc gia. Bất kì cá nhân, tổ chức nào vi phạm sẽ bị xử lý theo quy định pháp luật. Còn những bất động sản khác sẽ được tự do trong vòng hoạt động kinh doanh của mình, hơn nữa khi xác định nó thuộc hay không thuộc loại bất động sản phục vụ cho mục đích an ninh quốc phòng thì sẽ an toàn cho các chủ thể tiến hành kinh doanh, không bị thiệt hại xảy ra khi có sự thay đổi. Hiện nay, cá nhân và tổ chức kinh doanh BĐS đúng theo tinh thần của pháp luật. Tuy nhiên một thực tế còn tồn đọng đó là công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất vẫn còn lộ ra rất nhiều những bất cập trong lý luận cũng như thực tiễn, gây ảnh hưởng đến sự phân bổ và sự phát triển của thị trường BĐS. Thẩm quyền trong công tác này được quy định khá mờ nhạt, cụ thể tại khoản 2 Điều 21 Luật đất đai 2013 tạo ra nhiều kẽ hở để cơ quan có thẩm quyền tự do thao túng quyền lực. Thực trạng thời gian giải toả, thu hồi đất phục vụ cho công tác quốc phòng và an ninh lại tỉ lệ nghịch với thời gian tiền đền bù được tới tay người dân. Ngoài ra, đa số các chủ thể đều có ý thức tìm hiểu và khai thác thông tin, chấp hành nghiêm chỉnh quy định của pháp luật trước khi kinh doanh.


[1] Điều 10. Điều kiện của tổ chức, cá nhân kinh doanh bất động sản

1. Tổ chức, cá nhân kinh doanh bất động sản phải thành lập doanh nghiệp hoặc hợp tác xã (sau đây gọi chung là doanh nghiệp) và có vốn pháp định không được thấp hơn 20 tỷ đồng, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

2. Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân bán, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê mua bất động sản quy mô nhỏ, không thường xuyên thì không phải thành lập doanh nghiệp nhưng phải kê khai nộp thuế theo quy định của pháp luật.

3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.”

[2] Điều 9. Điều kiện của bất động sản đưa vào kinh doanh

  1. Nhà, công trình xây dựng đưa vào kinh doanh phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Có đăng ký quyền sở hữu nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất trong giấy chứng nhận về quyền sử dụng đất. Đối với nhà, công trình xây dựng có sẵn trong dự án đầu tư kinh doanh bất động sản thì chỉ cần có giấy chứng nhận về quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai;

b) Không có tranh chấp về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất;

c) Không bị kê biên để bảo đảm thi hành án.

2. Các loại đất được phép kinh doanh quyền sử dụng đất phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Có giấy chứng nhận về quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai;

b) Không có tranh chấp về quyền sử dụng đất;

c) Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;

d) Trong thời hạn sử dụng đất.

Bình luận việc thực hiện chính sách tiền tệ tác động đến tỷ giá hối đoái

Bình luận việc thực hiện chính sách tền tệ tác động đến tỷ giá hối đoái

Theo như em tìm hiểu, nửa đầu năm 2017, nước ta đã phải đối mặt với bối cản cán cân thương mại thâm hụt ( Cán cân thương mại hàng hóa của khối doanh nghiệp có vốn FDI trong nửa đầu năm thặng dư hơn 7,55 tỷ USD); những biến động lớn trên thị trường tài chính quốc tế đặc biệt sự kiện Brexit và các khâu chuẩn bị, quá trình đàm phán thực hiện Brexit. Những tác động đa chiều của cuộc bầu cử tại Mỹ, cũng như các quyết định của Mỹ, biến động về quan hệ ngoại giao của Qatar và một số nước Trung Đông; Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) tăng lãi suất 2 lần. Đồng đô la Mỹ mất giá trên thị trường tài chính quốc tế,…Tuy nhiên tỷ giá vẫn được giữ ổn định nhờ sự tác động của chính sách tiền tệ:

– Thứ nhất, trong nửa năm đầu 2017, tỷ giá không thay đổi nhiều nên NHNN đã có động thái mua vào khoảng 1 tỷ USD vào dự trữ ngoại hối. Lượng tiền này tiếp tục được bơm ra nền kinh tế thông qua các ngân hàng. Tính trong 6 tháng đầu năm, tín dụng ngoại tệ đã tăng 5,5% – 6% trong khi năm 2016 không tăng.

– Thứ hai, để góp phần giảm áp lực đáng kể lên tỷ giá, chính sách tiền tệ đã phối hợp đồng bộ, chặt chẽ trong điều hành lãi suất VND trên thị trường tiền tệ và thị trường trái phiếu Chính phủ. Thanh khoản của hệ thống các TCTD, sự ổn định của thị trường vàng… Cụ thể là quyết định giảm lãi suất điều hành đồng thời giữ nguyên hạn mức tăng trưởng tín dụng chung là 18%. Mục đích của NHNN là cho các ngân hàng thương mại (NHTM) cơ hội giảm lãi suất cho vay và thúc đẩy tăng trưởng tín dụng. Qua số liệu thống kê, mức lãi suất huy động và cho vay năm 2016 và 6 tháng đầu năm 2017 đang ở mức thực dương, NIM của các ngân hàng đang ở mức hợp lý, xu hướng lạm phát giảm thấp.

Nhận thấy tác động của chính sách tiền tệ giai đoạn này là trong hệ thống tỷ giá hối đoái linh hoạt, tư bản vận động tự do, NHNN thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng mức cung tiền trong nền kinh tế làm cho lãi suất giảm xuống làm cho tăng tổng cầu, nhờ vậy mà quy mô của nền kinh tế mở rộng, thu nhập tăng và tỷ lệ thất nghiệp giảm. Khi lãi suất giảm, tư bản đương nhiên đổ ra nước ngoài để đầu tư vào những nước có lãi suất cao hơn, lúc này thị trường ngoại hối dư cầu làm cho tỷ giá ngoại tệ tăng, tỷ giá nội tệ giảm kéo theo xuất khẩu ròng tăng, tổng cầu tăng nên nền kinh tế cân bằng tại điểm có sản lượng cao hơn mức ban đầu.

– Thứ ba, chính sách tiền tệ đã thực hiện biện pháp thu hút lượng ngoại tệ vào Việt Nam bằng cách tái cơ cấu hệ thống ngân hàng. Cụ thể, thực hiện theo quyết định 1058/ QĐ-TTg của thủ tướng chính phủ quyết định phê duyệt đề án cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với xử lí nợ xấu giai đoạn 2016-2020. Triển khai hoạt động này là việc lành mạnh hóa, nâng cao năng lực tài chính: Kiểm soát chặt chẽ chất lượng tín dụng và xử lý nợ xấu, xử lý nợ xấu tại các NHTM thông qua bán nợ cho VAMC, tăng vốn điều lệ và lợi nhuận để lại; Đổi mới hệ thống quản trị ngân hàng theo hướng hiện đại, phù hợp với thông lệ, chuẩn mực quốc tế; Cơ cấu lại hoạt động kinh doanh theo hướng an toàn, lành mạnh,…Theo tác động của quy luật cung cầu ngoại tệ sẽ làm cho đồng ngoại tệ mất giá, đồng nội tệ lên giá, tỷ giá hối đoái giảm. Ngược lại, khi cán cân thanh toán quốc tế bội chi sẽ làm cho đồng ngoại tệ lên giá, đồng nội tệ mất giá, tỷ giá hối đoái tăng.

Tóm lại, chính sách tiền tệ trong 6 tháng đầu năm 2017 đã  thực hiện một cách thận trọng và chặt chẽ, ổn định được lãi suất và tỷ giá. Trong khi đó, việc điều hành giảm lãi suất phát hành trái phiếu phù hợp, giảm chi tiêu ngân sách và có lộ trình tăng giá hàng hoá thiết yếu phù hợp ở chính sách tài khoá đã góp phần kiểm soát lạm phát. Từ đây ta có thể nhận thấy Chính sách tiền tệ, chính sách tỷ giá và quản lý ngoại hối, chính sách lãi suất và tín dụng tiếp tục được điều hành hiệu quả và kết hợp hài hòa với chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác để  thực hiện cho được mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát ở mức thấp và thúc đẩy tăng trưởng trong trung và dài hạn. Đây là nhiệm vụ chính trị tổng quát, xuyên suốt của ngành Ngân hàng với vai trò chủ đạo để cùng với các Bộ, ngành thực hiện cho được mục tiêu chung của Chính phủ. Quản lý chặt chẽ thị trường ngoại tệ, thị trường vàng, không để xảy ra những biến động bất lợi. Tiếp tục tăng dự trữ ngoại hối Nhà nước và cải thiện cán cân thanh toán quốc tế. Phát huy vai trò chủ đạo của thị trường tiền tệ trong việc duy trì sự ổn định của thị trường tài chính, hỗ trợ thúc đẩy thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản phát triển lành mạnh.

Như vậy, qua việc tìm hiểu rõ hơn về nội dung và tác động của chính sách tiền tệ đối với việc thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô ở nước ta hiện nay, đặc biệt là tác động của nó đối với tỷ giá hối đoái đóng vai trò và ý nghĩa hết sức quan trọng trong nền kinh tế. Hiểu rõ về chính sách tiền tệ và vận dụng nó trong nền kinh tế hiện nay đòi hỏi cần phải có tầm nhìn rộng và kiến thức về nó. Để nền kinh tế Việt Nam có thể đi lên đạt được những mục tiêu tăng trưởng mà Nhà nước ta đã đề ra thì cần vận dụng một cách triệt để và có hiệu quả chính sách này.

Thực trạng điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam trong giai đoạn 2010-2018

Thực trạng điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam trong giai đoạn 2010-2018.

Chính sách tiền tệ của Việt Nam Giai đoạn 2010 – 2015

– Năm 2010, 2011, trước hai thách thức lớn của nền kinh tế là lạm phát cao và khu vực sản xuất gặp nhiều khó khăn, Ngân hàng Trung ương đã mạnh dạn áp dụng cơ chế điều hành mới là xây dựng và công bố chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng hàng năm thay cho việc các tổ chức tín dụng sẽ tự quyết trong giai đoạn trước. Trong 6 tháng đầu năm 2011, lạm phát tăng 13,29% so với đầu năm và tăng 20% so cùng kỳ năm trước, gây khó khăn cho nỗ lực kiềm chế lạm phát dưới 15% theo mục tiêu đề ra, thị trường bất động sản và chứng khoán sụt giảm mạnh.

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã điều hành chính sách tiền tệ chặt chẽ, thận trọng để kiểm soát lạm phát và hỗ trợ ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an toàn hệ thống, thực hiện mạnh mẽ các biện pháp điều hành nhằm kiểm soát tốc độ tăng trưởng tín dụng dưới 20% và điều chỉnh cơ cấu tín dụng theo hướng tập trung vốn cho sản xuất, giảm tỉ trọng dư nợ cho vay lĩnh vực phi sản xuất. Việc tăng cường thanh tra, giám sát và xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm trần lãi suất huy động đã tạo điều kiện cho việc giảm dần mặt bằng lãi suất huy động và cho vay trong những tháng cuối năm.

– Đầu năm 2012, NHNN đã đưa ra mục tiêu giảm lãi suất huy động xuống còn 9-10%/năm vào cuối năm 2012, đồng thời đưa ra lộ trình giảm trung bình mỗi quí 1%/năm. Đến cuối năm 2012, lãi suất huy động VND giảm mạnh từ 3-6%/năm, lãi suất cho vay giảm từ 5-9%/năm so với cuối năm 2011 và trở về mức lãi suất của năm 2007. Lãi suất cho vay ưu tiên giảm về mức 12%/năm, cho vay sản xuất kinh doanh khác và cho vay tiêu dùng ở mức 12-15%/năm, riêng lãi suất cho vay đối với các khách hàng tốt chỉ còn 9-11%/năm. Tổng phương tiện thanh toán và tín dụng tăng lần lượt khoảng 20% và 9%, phù hợp với mục tiêu kiềm chế lạm phát ở mức thấp (6,8%), góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

– Năm 2013, Quốc hội và Chính phủ đề ra trong về một số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường, NHNN tiếp tục điều hành linh hoạt và đồng bộ các công cụ chính sách tiền tệ, chủ động điều chỉnh lượng tiền trong lưu thông nhằm đảm bảo ổn định thị trường tiền tệ, ngoại hối và kiểm soát tiền tệ. Tính đến cuối tháng 8/2013, tín dụng cho nền kinh tế đã tăng 6,45% so với đầu năm, khả năng đạt mục tiêu tăng trưởng tín dụng 12% trong năm 2013 đang trở thành hiện thực. 

– Năm 2014, thực hiện chỉ đạo của Chính phủ tại Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 2/1/2014, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã ban hành Chỉ thị số 01/CT-NHNN ngày 13/2/2012. Kết quả đạt được là lạm phát giảm so với năm 2013 và là mức thấp nhất trong hơn một thập kỷ. Tốc độ tăng giá tiêu dùng (tính theo năm) đã trượt về ngưỡng 2%, tính đến cuối năm 2014 CPI tăng khoảng 1,84%. Tính đến 12/12/2014, tỷ giá VND/USD liên ngân hàng là 21.126 đồng, không thay đổi kể từ ngày 19/6/2014, thấp hơn 0,6% so với trần tỷ giá. Thanh khoản thị trường ngoại hối khá tốt, các nhu cầu ngoại tệ hợp pháp của tổ chức và cá nhân đều được TCTD đáp ứng đầy đủ, kịp thời.

– Năm 2015, trên cơ sở bám sát Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ và nhiệm vụ của ngành ngân Ngân hàng tại Chỉ thị số 01/CT-NHNN ngày 27/01/2015 về tổ chức thực hiện chính sách tiền tệ (CSTT) và đảm bảo hoạt động ngân hàng an toàn, hiệu quả năm 2015 và diễn biến kinh tế, tiền tệ, trong năm 2015, NHNN đã triển khai đồng bộ và quyết liệt các giải pháp điều hành chính sách tiền tệ nhằm mục tiêu kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý đồng thời đảm bảo an toàn hoạt động của các tổ chức tín dụng (TCTD).

Tóm lại, Điểm nhấn trong điều hành chính sách tiền tệ trong giai đoạn 2010-2015  là việc NHNN đã rất thành công trong kiểm soát lạm phát. Tháng 8/2011 lạm phát ở mức 23%, năm 2012 xuống còn 6,81%, năm 2013 ở mức 6,04%; năm 2014 giảm mạnh xuống 1,84%, và năm 2015 chỉ còn 0,60%. Lạm phát thấp, đồng thời tăng trưởng tín dụng được kiểm soát phù hợp với tăng trưởng kinh tế, hỗ trợ cho GDP đạt mức tăng trưởng bình quân 5,9% trong giai đoạn 2011-2015. Lãi suất từ mức 20% – 25%/năm, thì nay lãi suất cho vay ngắn hạn còn khoảng 6% – 9%, trung và dài hạn còn 9% – 11%. Bên cạnh những thay đổi tích cực về tín dụng và lãi suất, trong 5 năm qua, chính sách điều hành tỷ giá hợp lý của NHNN cũng đã tạo điều kiện tốt hơn cho DN trong việc chủ động lên kế hoạch sản xuất kinh doanh. Từ chỗ cam kết tỷ giá hàng năm, khi nền kinh tế chịu tác động lớn dần bởi diễn biến tài chính – tiền tệ thế giới, NHNN đã có phản ứng kịp thời.

Chính sách tiền tệ của Việt Nam Giai đoạn 2016-2018

Năm 2016, nền kinh tế thế giới và trong nước vẫn chưa ổn định và nhiều yếu tố khó lường, đặt ra nhiều thách thức cho Chính phủ và Ngân hàng trung ương. NHNN đã điều hành đồng bộ các công cụ, giải pháp CSTT để điều tiết tiền tệ hợp lý, đảm bảo các chỉ tiêu tiền tệ, tín dụng tăng theo đúng định hướng đề ra. Lạm phát cả năm tăng 4,74%, đạt mục tiêu kiểm soát ở mức dưới 5% của Quốc hội. NHNN đã nỗ lực ổn định lãi suất thị trường, trong bối cảnh lạm phát tăng trở lại, tín dụng tăng ngay từ đầu năm, nhu cầu phát hành TPCP lớn, kỳ hạn dài. NHNN đã chủ động điều tiết tiền tệ, cho phép thanh khoản của hệ thống dư thừa, lãi suất thị trường liên ngân hàng ở mức thấp, qua đó tạo điều kiện ổn định lãi suất huy động, giảm sức ép lên lãi suất cho vay nhưng không gây áp lực tăng lạm phát. Nhờ các biện pháp đồng bộ như trên, mặt bằng lãi suất được giữ ổn định, một số TCTD trên cơ sở cân đối nguồn vốn đã giảm lãi suất cho vay hỗ trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh[5].

– Năm 2017, NHNN đã thực hiện đồng bộ, linh hoạt các công cụ CSTT để ổn định thị trường tiền tệ, góp phần kiểm soát lạm phát, tạo điều kiện thuận lợi để TCTD giảm lãi suất cho vay và tăng cường khả năng cung ứng tín dụng cho nền kinh tế, góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế đạt 6,81% (cao nhất trong 10 năm và cao hơn mục tiêu 6,7%). Đồng thời, NHNN tiếp tục tập trung triển khai các giải pháp giảm lãi suất cho vay nhằm góp phần hỗ trợ doanh nghiệp và tăng trưởng kinh tế. Trong điều kiện lãi suất chịu áp lực gia tăng trong 6 tháng đầu năm 2017, NHNN đã nỗ lực điều hành CSTT đảm bảo thanh khoản cho TCTD, duy trì lãi suất liên ngân hàng ở mức hợp lý, góp phần ổn định và giảm mặt bằng lãi suất thị trường. NHNN đã mở rộng tín dụng đi đôi với an toàn chất lượng tín dụng, đảm bảo cung ứng vốn cho nền kinh tế, tạo điều kiện thuận lợi trong tiếp cận vốn ngân hàng. Nhờ thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, nguồn vốn tín dụng đã được khơi thông và tăng trưởng tốt ngay từ đầu năm, hỗ trợ tích cực cho tăng trưởng kinh tế. Hơn nữa, tỷ giá và thị trường ngoại tệ cơ bản ổn định, nợ xấu được kiểm soát dưới 3% và thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt. – Năm 2018, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã thắt chặt các chính sách tiền tệ thông qua việc giảm mức độ hoạt động trên thị trường mở, yêu cầu các ngân hàng kiểm soát hoạt động cho vay theo hạn mức tăng trưởng tín dụng và đặt ra mức tăng trưởng tín dụng tối đa cho năm 2018. Đầu tháng 8, ngân hàng nhà nước đã ban hành chỉ thị số 04 để kiểm soát chặt chẽ tốc độ tăng trưởng tín dụng và chất lượng tín dụng của hệ thống ngân hàng. Với chính sách tiền tệ thận trọng hơn của ngân hàng nhà nước, có thể khẳng định rằng ngân hàng nhà nước đã nhận thấy cần phải có biện pháp để ngăn chặn rủi ro gia tăng. Nói cách khác, ngân hàng nhà nước đang định hướng chính sách tiền tệ thắt chặt hơn trong tương lai, có thể thực hiện ngay cả khi chưa dùng đến công cụ lãi suất cơ bản. Tổng cục Thống kê cho biết, tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý III năm 2018 ước tính tăng 6,88% so với cùng kỳ năm trước, tuy thấp hơn mức tăng 7,45% của quý I nhưng cao hơn mức tăng 6,73% của quý II, cho thấy nền kinh tế vẫn giữ được đà tăng trưởng.

Lạm phát ổn định, CPI bình quân 9 tháng tăng 3,57% so với bình quân cùng kỳ năm trước. Xuất khẩu hàng hóa tăng 15,4%, nhập khẩu hàng hóa tăng 11,8%. Tiêu dùng cuối cùng tăng cao 7,09%, tích lũy tài sản tăng 7,71%. Tính đến ngày 20/9/2018, tăng trưởng tín dụng ở mức 9,52% so với cuối năm 2017, tổng phương tiện thanh toán tăng 8,74% so với cuối năm 2017 (cùng kỳ năm 2017 tăng 9,59%); huy động vốn tăng 9,15% (cùng kỳ năm 2017 tăng 10,08%), thanh khoản đồng Việt Nam của toàn hệ thống vẫn tiếp tục được đảm bảo, hoạt động của các tổ chức tín dụng, thị trường tiền tệ về cơ bản ổn định và thông suốt.

Kết luận, trong giai đoạn 2010 – 2018, nước ta đã không ngừng đổi mới những chính sách tiền tệ thích ứng với nền kinh tế thế giới, nhằm đạt được những mục tiêu kinh tế vĩ mô. Cụ thể là sự điều chỉnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc, hướng điều chỉnh lãi suất chiết khấu, thực hiện hoạt động thị trường mở,… Tuy nhiên, thị trường liên ngân hàng và thị tường tiền tệ cần phải được củng cố và phát triển theo hướng cơ cấu lại hệ thống ngân hàng, minh bạch hóa các thông tin, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh sôi động để đạt hiệu quả tối đa của chính sách tiền tệ. Bên cạnh đó cần phải hoàn thiện hành lang pháp lý về hệ thống ngân hành, tài chính để có cơ chế thực thi chính sách tiền tệ nói chung và công cụ chính sách tiền tệ được ninh bạch và có hiệu quả. Để chính sách tiền tệ thực sự hiệu qủa thì phải đặt nó trong một tổng thể với các chính sách khác, đặc biệt là chính sách tài khóa. Cần có sự kết hợp đồng thời cả hai chính sách này với nhau để bổ sung, hỗ trợ cho nhau khắc phục những nhược điểm, hạn chế mà khi thực hiện rời hai chính sách này có thể xảy ra nhằm tăng cường sự phát triển và giữ vững sự ổn định nền kinh tế.

Nguyên lý tác động của chính sách tiền tệ đến tỷ giá hối đoái

Nguyên lý tác động của chính sách tiền tệ đến tỷ giá hối đoái.

Chính sách tiền tệ thực chất là sự cụ thể hóa những biện pháp nhằm tác động vào mức cung tiền của nền kinh tế, từ đó ảnh hưởng đến lãi suất trên thị trường và thông qua lãi suất, chính sách tiền tệ tác động đến tổng cầu và sản lượng của nền kinh tế để từng bước thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô được đặt ra trong từng thời kỳ, từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế.

Tỷ giá hối đoái (còn được gọi là tỷ giá trao đổi ngoại tệ, tỷ giá Forex, tỷ giá FX hoặc Agio) giữa hai tiền tệ là tỷ giá mà tại đó một đồng tiền này sẽ được trao đổi cho một đồng tiền khác. Nó cũng được coi là giá cả đồng tiền của một quốc gia được biểu hiện bởi một tiền tệ khác. Ví dụ: tỷ giá hối đoái đồng Việt Nam do ngân hàng ngoại thương công bố là theo thông lệ quốc tế: Số đơn vị tiền đồng Việt Nam cần thiết để mua một đơn vị tiền nước ngoài chẳng hạn 15.000 đ/ USD.

Như vậy, sự tác động của chính sách tiền tệ đến tỷ giá hối đoái được hiểu đơn giản là sự điều tiết tỷ giá bằng cách Ngân hàng Trung ương tác động lên thị trường ngoại hối làm thay đổi lượng tiền cung ứng trên thị trường. Ngân hàng Trung ương thông qua việc tác động vào tỷ giá hối đoái để thực hiện các mục tiêu của chính sách tiền tệ và chính sách kinh tế đối ngoại.

Do trình độ phát triển kinh tế của mỗi nước khác nhau và cách thức tổ chức quản lý cũng khác nhau nên cũng có những cơ chế tỷ giá khác nhau. Chính vì vậy, sự tác động của chính sách tiền tệ đối với từng tỷ giá cũng khác nhau.

1. Tác động của chính sách tiền tệ với tỷ giá hối đoái cố định – Tư bản vận động tự do

Tỷ giá hối đoái do Ngân hàng Trung ương quy định mà giữ ở một mức giá nhất định đã công bố. Khi có sức ép nâng hoặc giảm tỷ giá, Ngân hàng Trung ương sẽ dùng dự trữ ngoại tệ để can thiệp cho tỷ giá giữ nguyên mức. Tuy nhiên, vì tư bản chuyển động hoàn toàn tự do nên Ngân hàng Trung ương sẽ không thể cùng một lúc theo đuổi cả hai mục tiêu là ổn định tỷ giá hối đoái và ổn định mức cung tiền.

Giả sử, theo mô hình trên đây, nền kinh tế cân bằng tại E. Ngân hàng trung ương thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng. Trong ngắn hạn, mức giá chưa tăng đã làm cho LM1=> LM2. Tại E’ có i<i’ => Tư bản đổ ra nước ngoài => Thị trường ngoại hối dư cầu (E có xu hướng tăng). Để giữ nguyên tỷ giá buộc Ngân hàng Trung ương phải bán ra ngoại tệ làm MS giảm => LM2 giảm chuyển về LM1. Nền kinh tế từ E’ chuyển về E ban đầu.

2. Tác động của chính sách tiền tệ đối với E linh hoạt – Tư bản vận động tự do

Sự tác động này thể hiện thông qua mô hình trên đây. Nền kinh tế cân bằng tại E, Ngân hàng Trung ương thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng làm cho LM1 => LM2. Cũng giống như trong trường hợp tỷ giá cố định, việc tăng cung tiền làm lãi suất trong nước tạm thời giảm xuống thấp hơn so với lãi suất nước ngoài, tạo ra một dòng vốn chảy ra nước ngoài. Nhưng trong chế độ E thả nổi thì không có sự can thiệp của Ngân hàng Trung ương. Lúc này, thị trường ngoại hối dư cầu làm cho E tăng (e giảm) => NX tăng => AD tăng => IS1 chuyển lên IS2. Nền kinh tế cân bằng tại E’’ với sản lượng đã tăng lên cao Y’’.

3. Tác động của chính sách tiền tệ đối với E thả nổi có quản lý

Đối với hệ thống này, chính sách tiền tệ cho phép tỷ giá dao động trong một khoảng tùy theo yêu cầu của chính sách quản lý kinh tế sao cho phù hợp với thực trạng. Trừ khi tỷ giá hối đoái vượt quá khoảng giới hạn cho phép thì chính sách tiền tệ mới tác động để trở về khoảng giới hạn ban đầu.

Thực trạng Pháp luật cạnh tranh Việt Nam về kiểm soát việc tập trung kinh tế

Thực trạng Pháp luật cạnh tranh Việt Nam về kiểm soát việc tập trung kinh tế.

Hiện nay, dưới sức ép của cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp luôn tìm cách nâng cao năng lực kinh doanh để có thể tồn tại và phát triển. Khi đó, tập trung kinh tế (M&A) là phương án mà các doanh nghiệp thường nghĩ tới nhằm tập trung nguồn vốn, công nghệ mới,… giúp nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường, đặc biệt đối với doanh nghiệp đang lâm vào tình trạng phá sản hoặc đang gặp nhiều khó khăn về tài chính. Tập trung kinh tế còn có thể làm tăng hiệu quả kinh tế theo quy mô và phạm vi, làm giảm chi phí, nâng cao chất lượng và thúc đẩy sản lượng[1]. Dưới góc độ lợi ích cho nền kinh tế Việt Nam, quốc gia có hơn 90% là doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa thì việc các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế còn giữ vai trò tích cực, thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế. Tuy nhiên, trong một số trường hợp nhất định, tập trung kinh tế có khả năng gây ảnh hưởng tiêu cực đến cấu trúc thị trường và suy giảm tính cạnh tranh trên thị trường. Chính vì vậy, hệ thống pháp luật cạnh tranh về kiểm soát việc tập trung kinh tế cần phải đảm bảo sự chặt chẽ và chính xác.

I. NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ TẬP TRUNG KINH TẾ VÀ KIỂM SOÁT VIỆC TẬP TRUNG KINH TẾ

1.1 Khái niệm, đặc điểm pháp lý tập trung kinh tế (M&A) trong pháp luật cạnh tranh

1.1.1. Khái niệm

Pháp luật Việt Nam không đưa ra khái niệm mang tính khái quát để định nghĩa hành vi tập trung kinh tế mà chỉ liệt kê dưới các hình thức tập trung kinh tế, bao gồm: sáp nhập doanh nghiệp, hợp nhất doanh nghiệp, mua lại doanh nghiệp, liên doanh giữa các doanh nghiệp và các hình thức tập trung kinh tế khác theo quy định của pháp luật.

1.1.2. Đặc điểm

          Thứ nhất, chủ thể thực hiện hành vi TTKT là các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp tham gia TTKT có thể là các doanh nghiệp hoạt động trên cùng hoặc không cùng thị trường liên quan.

          Thứ hai, hành vi TTKT được thực hiện dưới những hình thức nhất định theo quy định của pháp luật. Đây là điểm khác biệt cơ bản của hành vi tập trung kinh tế vì nó dẫn đến sự thay đổi cơ cấu sở hữu cũng như tổ chức quản lí doanh nghiệp.

          Thứ ba, thông qua việc thực hiện các hình thức tập trung kinh tế sẽ dẫn đến hậu quả là hình thành các doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế lớn mạnh, thay đổi cấu trúc thị trường và tương quan cạnh tranh trên thị trường.

          Thứ tư, dựa trên những tiêu chí nhất định theo các quy định của pháp luật cạnh tranh, Nhà nước sẽ kiểm soát các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế.

1.2 Tác động của tập trung kinh tế và sự cần thiết phải kiểm soát tập trung kinh tế

1.2.1 Mục tiêu của kiểm soát tập trung kinh tế

          Tại mỗi quốc gia, chính sách kiểm soát tập trung kinh tế là một bộ phận trong tổng thể các chính sach của Chính phủ, bao gồm chính sách công, chính sách kinh tế và chính sách cạnh tranh. Là một bộ phận của chính sách cạnh tranh nói chung, chính sách TTKT được cụ thể hóa là một trong ba lĩnh vực điều chỉnh của Luật cạnh tranh, bao gồm: thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh và kiểm soát TTKT. Các quy định về kiểm soát TTKT có tác độnh tiền kiểm, nhằm ngăn chặn các vụ việc TTKT có khả năng gây phương hại đến cạnh tranh.

          – Thứ nhất, M&A ngay lập tức loại bỏ áp lực cạnh tranh giữa các bên tham gia vào vụ việc và làm giảm số lượng các đối thủ cạnh tranh trên thị trường. Khi tác động loại bỏ cạnh tranh của vụ việc M&A đủ lớn, thị trường sẽ mất đi định hướng hiệu quả kinh tế, đồng thời trong một số trường hợp doanh nghiệp thành lập sau vụ việc M&A không cần thực hiện các hành vi có thể vi phạm các quy định mang tính hậu kiểm của Luật Cạnh tranh mà vẫn có thể loại bỏ được các đối thủ cạnh tranh và thu lợi từ thị trường.

          – Thứ hai, không phải vi phạm nào cũng kịp thời phát hiện và xử lý. Do đó, việc áp dụng các biện pháp tiền kiểm có thể giúp làm giảm bớt áp lực cho cơ quan thực thi pháp luật. Ngoài ra, ngay cả khi có thể thực hiện được các biện pháp khắc phục ở khâu hậu kiểm đối với các vụ việc M&A bị phát hiện có tác động xấu tới cạnh tranh, thì các biện pháp này cũng rất tốn kém.

          Như vậy, chính sách kiểm soát M&A là nhằm mục đích ngăn ngừa việc thay đổi cấu trúc thị trường có thể dẫn đến việc làm tổn hại đến động lực cạnh tranh trên thị trường, từ đó làm suy giarm hiệu quả kinh tế và xâm hại tới lợi ích của người tiêu dùng.

1.2.2 Vai trò của việc kiểm soát tập trung kinh tế đối với nền kinh tế

          Trong một nền kinh tế, việc một doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường, sẽ dẫn đến hạn chế cạnh tranh và nếu tồn tại doanh nghiệp có vị trí độc quyền thì chắc chắn sẽ dẫn đến thủ tiêu cạnh tranh. Vì thế, Nhà nước cần có cơ chế để kiểm soát các quá trình dẫn đến việc hình thành doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường.

          Với tính chất là một sinh hoạt kinh tế, tự do cạnh tranh tự nó có thể dẫn tới nguy cơ cản trở hoặc tiêu hủy cạnh tranh. Nhà nước có thể lựa chọn nhiều phương cách để ứng xử với hiện tượng này:

  • Tin vào sự điều chỉnh của thị trường, yin vào sự hợp lý của quá trình TTKT hướng tới độc quyền mà chủ trương không can dự.
  • Can thiệp để tạo điều kiện cho cạnh tranh diễn ra bằng cách ngăn chặn độc quyền, chia nhỏ doanh nghiệp độc quyền, cấm thỏa thuận để tạo vị thế thống lĩnh thị trường.
  • Chấp nhận vị thế thống lĩnh thị trường hoặc độc quyền của một số doanh nghiệp song giám sát, ngăn ngừa sự lạm dụng vị trí đó.
  • Công hữu hóa doanh nghiệp có vị trí độc quyền, đặt chúng dưới sự quản lý của các cơ quan công quản và định hướng hoạt động của chúng vì lợi ích chung.

          Trên thực tế, các quốc gia đều tìm cách phối hợp các phương án trên. Trong đó, giải pháp chính vẫn là phối hợp giữu biện pháp can thiệp để duy trì cạnh tranh và khi độc quyền đã diễn ra, tìm cách giám sát để điều tiết, hạn chế việc lạm dụng vị thế độc quyền.

II. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT CẠNH TRANH VIỆT NAM VỀ KIỂM SOÁT TẬP TRUNG KINH TẾ

2.1 Thực trạng pháp luật về nhận diện hoạt động M&A

2.1.1 Quy định pháp luật về nhận diện hoạt động M&A

          Các hoạt động M&A diễn ra trong thực tế đời sống kinh tế xã hội rất đa dạng. Để kiểm soát được nó nhằm ngăn chặn những tác động gây hạn chế cạnh tranh đáng kể thì đòi hỏi phải nhận diện được nó. Pháp luật cạnh tranh Việt Nam nhận diện M&A dựa trên các căn cứ chủ yếu là chủ thể, phạm vi không gian, hình thức thực hiện và ngưỡng tập trung kinh tế.

Thứ nhất, về chủ thể của hoạt động M&A:

          Chủ thể của hoạt động M&A chỉ có thể là doanh nghiệp mà không phải là hộ kinh doanh. Luật cạnh tranh 2004 trước đây chỉ kiểm soát đối với các doanh nghiệp thực hiện M&A khi các doanh nghiệp này hoạt động trên cùng thị trường liên quan. Quy định đó vô hình đang bỏ qua các hình thức M&A theo chiều dọc và hỗn hợp mà chỉ kiểm soát các hình thức M&A theo chiều ngang. Nhận thức được nhiều sai lầm trong quá trình thực thi pháp luật, Luật cạnh tranh 2018 đã mở rộng các hình thức kiểm soát để đảm bảo kiểm soát toàn diện, cụ thể là kiểm soát các doanh nghiệp có mối quan hệ trong chuỗi sản xuất, phân phối, cung ứng đối với một loại hàng hóa, dịch vụ nhất định hoặc ngành nghề kinh doanh của các doanh nghiệp tham gia M&A là đầu vào của nhau hoặc bổ trợ cho nhau. Lúc này, hình thức M&A chịu sự kiểm soát đã được mở rộng sang cả chiều ngang và hỗn hợp thay vì chỉ chiều dọc như trước kia.

          Bên cạnh đó, hoạt động M&A chỉ xảy ra khi có ít nhất hai doanh nghiệp cùng tham gia thực hiện, tức là các doanh nghiệp này đã tồn tại trước đó. Như vậy, hành vi tập trung kinh tế không phải là hành vi đơn phương của một doanh nghiệp. Một doanh nghiệp tự bỏ vốn ra thành lập một doanh nghiệp mới tham gia cạnh tranh trên cùng thị trường không bị coi là hành vi M&A và do đó không bị xem xét.

Thứ hai, về phạm vi không gian thực hiện hoạt động M&A

          Pháp luật cạnh tranh Việt Nam trước đây chỉ ràng buộc các hành vi M&A được thực hiện bên trong lãnh thổ Việt Nam. Tuy nhiên trên thực tế có rất nhiều vụ việc cạnh tranh được thực hiện bên ngoài lãnh thổ Việt Nam nhưng có ảnh hưởng nhất định đến thị trường Việt Nam. Nhằm hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực, phạm vi điều chỉnh của pháp luật cạnh tranh hiện hành được mở rộng sang cả các hành vi M&A thực hiện ngoài lãnh thổ Việt Nam, tạo ra hành lang pháp lý để có thể điều tra và xử lý toàn diện mọi hành vi M&A nếu có tác động hay có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh đến thị trường Việt Nam.

Ngoài ra, việc mở rộng phạm vi điều chỉnh cũng giúp tạo ra cơ sở pháp lý để cơ quan cạnh tranh Việt Nam có thể hợp tác với các cơ uan cạnh tranh của các quốc gia khác trong quá trình điều tra, xử lý các vụ việc, tạo điều kiện thực thi các cam kết về cạnh tranh mà Việt Nam đã đưa ra trong các hiệp định thương mại.

Thứ ba, về hình thức thực hiện M&A

Tập trung kinh tế được quy định trong Điều 29 Luật Cạnh tranh 2018 gồm những hình thức sau: sáp nhập doanh nghiệp, hợp nhất doanh nghiệp, mua lại doanh nghiệp, liên doanh giữa các doanh nghiệp và các hình thức tập trung kinh tế khác theo quy định của pháp luật. Trong đó:

Sáp nhập doanh nghiệp là việc một hoặc một số doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình sang một doanh nghiệp khác. Sau khi thực hiện sáp nhập thì hoạt động kinh doanh hoặc sự tồn tại của doanh nghiệp bị sáp nhập cũng sẽ chấm dứt, doanh nghiệp bị sáp nhập sẽ bị xóa tên trong sổ đăng ký kinh doanh.

Hợp nhất doanh nghiệp là việc hai hoặc nhiều doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình để cùng tạo thành một doanh nghiệp mới. Sau khi hợp nhất doanh nghiệp thì các doanh nghiệp bị hợp nhất chấm dứt sự tồn tại, còn doanh nghiệp mới được tạo thành sẽ được hưởng các quyền và nghĩa vụ của các doanh nghiệp hợp nhất.

Mua lại doanh nghiệp là việc một doanh nghiệp mua toàn bộ hoặc một phần tài sản của doanh nghiệp khác đủ để kiểm soát, chi phối toàn bộ hoặc một phần doanh nghiệp bị mua lại. Tuy nhiên, một số trường hợp doanh nghiệp mua lại một doanh nghiệp khác mà không thực hiện quyền kiểm soát hay chi phối (hoặc chỉ thực hiện trong một khuôn khổ bắt buộc) để bán lại trong một năm thì không được coi là tập trung kinh tế.

Liên doanh giữa các doanh nghiệp là việc hai hoặc nhiều doanh nghiệp cùng nhau góp một phần tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình để hình thành một doanh nghiệp mới. Sau khi thực hiện liên doanh thì doanh nghiệp thực hiện liên doanh không mất sự tồn tại như trong trường hợp hợp nhất mà vẫn tiếp tục hoạt động.

Thứ tư, về tiêu chí xác định hoạt động M&A thuộc diện bị kiểm soát

– Ngưỡng thông báo M&A: tại Việt Nam việc kiểm soát tập trung kinh tế được thực hiện theo hình thức tiềm kiểm, trong trường hợp các doanh nghiệp thuộc ngưỡng thông báo tập trung kinh tế quy định tại Điều 13 Nghị định 35/2020/NĐ-CP thì phải thông báo với cơ quan quản lý cạnh tranh trước khi thực hiện hành vi tập trung kinh tế. Có thể thấy, mức thị phần kết hợp trên thị trường liên quan phải thông báo theo quy định hiện hành “từ 20% trở lên” là thấp hơn so với mức “30-50%” trước đây. Điều này cho thấy các nhà làm luật muốn kiểm soát chặt chẽ hơn và sớm hơn các hoạt động M&A.

– Hoạt động M&A bị cấm: Để kiểm soát, ngăn cản việc hình thành một doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh, gây ảnh hưởng lớn đối với nền kinh tế thì pháp luật cạnh tranh của Việt Nam kiểm soát và cấm tập trung kinh tế theo hướng hạn chế những tác động tiêu cực của tập trung kinh tế đến thị trường. Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia đánh giá tác động hoặc khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể của việc tập trung kinh tế dựa theo một trong các yếu tố hoặc kết hợp giữa các yếu tố sau:

+ Thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế trên thị trường liên quan

+ Mức độ tập trung trên thị trường liên quan trước và sau khi tập trung kinh tế

+ Mối quan hệ của các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế trong chuỗi sản xuất, phân phối, cung ứng đối với một loại hàng hóa, dịch vụ nhất định hoặc ngành nghề kinh doanh của các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế là đầu vào của nhau hoặc bổ trợ cho nhau

+ Lợi thế cạnh tranh do tập trung kinh tế mang lại trên thị trường liên quan

+ Khả năng doanh nghiệp sau tập trung kinh tế tăng giá hoặc tăng tỉ suất lợi nhận trên doanh thu một cách đáng kể

+ Khả năng doanh nghiệp sau tập trung kinh tế loại bỏ hoặc ngăn cản doanh nghiệp khác gia nhập hoặc mở rộng thị trường

+ Yếu tố đặc thù trong ngành, lĩnh vực mà các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế

  – Hoạt động M&A có điều kiện: đây là một quy định mới so với Luật cạnh tranh 2004, thể hiện sự tôn trọng quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp. Thay vì cấm, lúc này pháp luật cạnh tranh đã cho phép tập trung kinh tế với điều kiện phải thực hiện một số biện pháp nhằm ngăn ngừa khả năng gây tác động đến cạnh tranh trên thị trường. Điều kiện này được quy định cụ thể tại Điều 42 Luật cạnh tranh 2018.[2]

2.1.2 Quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục kiểm soát hoạt động M&A

– Thẩm quyền kiểm soát hoạt động M&A thuộc về Ủy ban cạnh tranh quốc hgia thuộc Bộ Công Thương, đây là thiết chế mới dựa trên sự “M&A” giữa hai cơ quan cạnh tranh trước đây là Hội đồng cạnh tranh quốc gia và Cơ quan quản lý cạnh tranh. Hiện nay Chính phủ chưa ban hành nghị định hướng dẫn chi tiết về chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của thiết chế này nhưng theo kế hoạch, Ủy ban cạnh tranh Quốc gia sẽ xây dựng theo mô hình tổng cục và có 8 giúp việc cho Ủy ban cạnh tranh.

– Thủ tục và các bước thông báo tập trung kinh tế cũng được quy định rõ tại từ Điều 33 đến Điều 41 Luật Cạnh tranh 2018 và tại Nghị định số 35/2020/NĐ-CP.

2.1.3 Xử lý hoạt động M&A vi phạm pháp luật cạnh tranh

  Điều 44 Luật Cạnh tranh 2018 liệt kê một số hành vi vi phạm quy định về tập trung kinh tế. Đối với mỗi hành vi này thì trong Luật Cạnh tranh 2018 cũng đưa ra thẩm quyền và các hình thức xử lý cụ thể. Theo quy định tại khoản 2 và 3 Điều 110 Luật cạnh tranh 2018 thì tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật về cạnh tranh có thể bị áp dụng một số hình thức xử phạt sau:

  • Cảnh cáo
  • Phạt tiền
  • Thu hồi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc văn bản tương đương, tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề
  • Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm pháp luật về cạnh tranh
  • Tịch thu khoản lợi nhuận thu được từ việc thực hiện hành vi vi phạm

Ngoài những hình thức xử phạt trên, tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh còn có thể bị áp dụng một hoặc một số biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định pháp luật hiện hành.

Thẩm quyền thủ tục xử phạt được quy định chi tiết tại Nghị định 75/2019/NĐ-CP. Chủ tịch Ủy ban cạnh tranh quốc gia có thẩm quyền bao gồm tất cả các hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả ngoại trừ việc thu hồi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp đã cấp cho doanh nghiệp. Thay vào đó, Chủ tịch Ủy ban cạnh tranh quốc gia có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng biện pháp này.

2.2 Thực tiễn thi hành pháp luật về kiểm soát hoạt động M&A tại Việt Nam

2.2.1 Những kết quả đạt được

Thứ nhất, xây dựng và hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật cạnh tranh kiểm soát hoạt động M&A và các điều kiện đảm bảo thi hành

          Sự ra đời của Luật Cạnh tranh 2004 và các văn bản quy định chi tiết đã đánh dấu một bước tiến, một cốc mới tạo hành lang pháp lý cho hoạt động M&A diễn ra sôi động. Sau gần 14 năm thi hành, với sự thay đổi của bối cảnh kinh tế- xã hội, với xu hướng hội nhập quốc tế cũng như khắc phục những bất cập trong nội dung quy định Luật cạnh tranh năm 2004 đã được thay thế bởi Luật cạnh trsnh 2018 và các văn bản liên quan nhằm tăng cường hiệu lực, hiệu quả thực thi, đáp ứng các yêu cầu thực tiễn. Hệ thống pháp luật mới đã cho thấy hoạt động kiểm soát M&A đã được đồng bộ, thể hiện sự rõ ràng và minh bạch đối với cộng đồng doanh nghiệp.

Thứ hai, thành lập, tổ chức bộ máy của các cơ quan cạnh tranh

          Kế thừa và phát huy quy định của Luật cạnh tranh 2004, hiện nay các cơ quan cạnh tranh tại Việt Nam bao gồm Cơ quan cạnh tranh Việt Nam (tên gọi quốc tế là VCAD) sau này đổi tên là Cục quản lý Cạnh tranh Việt Nam (VCA) và Hội đồng Cạnh tranh Việt Nam (VCC). Đồng thời với quá trình xây dựng và hoàn thiện tổ chức của cơ quan cạnh tranh, đội ngũ cán bộ cũng không ngừng nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ,.. giúp cho các cơ quan cạnh tranh ngày càng được trưởng thành hơn và từ đó có thể hoàn thành tốt công việc, đặc biệt là trong công tác điều tra, xử lý đối với các vi phạm pháp luật cạnh tranh nói chung và kiểm soát M&A nói riêng.

Thứ ba, nâng cao nhận thức về pháp luật cạnh tranh kiểm soát hoạt động M&A cho doanh nghiệp và cộng đồng xã hội

          Theo kết quả của một cuộc khảo sát của Bộ Công thương 2015 về mức độ nhận thức của doanh nghiệp về pháp luật cạnh tranh và cơ quan cạnh tranh, có 72,8% doanh nghiệp được kharp sát trả lời là có biết về Luật cạnh tranh. Phần lớn các doanh nghiệp này tập trung ở 2 trung tâm kinh tế lớn nhất của cả nước là Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, do các hoạt động M&A vốn khá phức tạp nên để nhận biết nên mức độ hiểu biết của doanh nghiệp đối với các quy định về vấn đề này của doanh nghiệp còn khá hạn chế

Thứ tư, kết quả thi hành các quy định pháp luật cạnh tranh kiểm soát hoạt động M&A

          Năm 2019 là năm đầu tiên mà Luật cạnh tranh 2018 có hiệu lực (từ ngày 01/07/2019) cơ quan cạnh tranh đã:

          -Thẩm định và trả lời hồ sơ thông báo M&A theo quy định của Luật cạnh tranh 2004 của công ty Gebr.Knauf K.g World Cup Acquisition và USQ Coporation.

          – Tiếp nhận và xử lý 05 hồ sơ thông báo M&A theo quy định của Luật cạnh tranh 2018:

+ TTKT giữa công ty CP Sữa Việt Nam (Vinamilk) và Công ty CP GTNfoods;

+ Liên hiệp hợp tác xã Thương mại TP. Hồ Chí Minh (Saigon Coop) mua các công ty con của Tập đoàn Auchan tại Việt Nam;

+ M&A giữa công ty Cổ phần công nghệ Sen Đỏ và Công ty Cổ phần Tiki;

+ M&A giữa công ty Cổ phần Greedfeed Việt Nam và Công ty Cổ phần phân phối công nghệ Quang Dũng;

+ M&A giữa hai doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuấ, phân phối và kinh doanh nước giải khát.

          – Rà soát 02 giao dịch mua bán, sáp nhập trên thị trường và giám sát việc thực hiện Quyết định xin hưởng miễn trừ M&A của doanh nghiêp theo Luật cạnh tranh 2004 của:

+ Công ty Cổ phần Dịch vụ thương mại Tổng hợp (VinCommerce) và Công ty TNHH Đầu tư Phát triển sản xuất Nông nghiệp VinEco sáp nhập vào Tập đoàn Masan;

+ Công ty CP chế tạo thuốc Taisho (Nhật bản) mua cổ phần Công ty CP Dược Hậu Giang.

          Như vậy, thực tiễn thi hành pháp luật về kiểm soát hoạt động M&A tại Việt Nam trong thời gian qua đã đạt được những kết quả nhất định không chỉ trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật cạnh tranh kiểm soát hoạt động M&A mà còn cả trong hoạt động thực thi kiểm soát các giao dịch M&A để bảo vệ sự cạnh tranh lành mạnh trên thị trường

2.2.2 Một số hạn chế, bất cập

          Bên cạnh một số kết quả tích cực như ở trên thì kể từ khi luật cạnh tranh 2004 lần đầu tiên được ban hành đến nay đã 17 năm nhưng số vụ việc M&A bị kiểm soát, điều tra, xử lý còn hạn chế kéo theo đó là số tiền xử lý thu về nộp vào ngân sách nhà nước hầu như không đáng kể so với chi phí quản lý nhà nước bỏ ra để duy trì bộ máy nhà nước kiểm soát hoạt động này. Những hạn chế trong kết quả thực thi pháp luật cạnh tranh kiểm soát hoạt động M&A có thể khái quát ở các phương diện sau:

          -Các quy định kiểm soát M&A chưa thực sự đi vào cuộc sống, chưa phát huy được sứ mệnh bảo vệ môi trường cạnh tranh công bằng, lành mạnh làm tiền đề cho sự phát triển của kinh tế đất nước.

          – Số vụ việc M&A vi phạm được phát hiện, điều tra, xử lý còn hạn chế trong khi thực tế hoạt động tại Việt Nam có quy mô ngày càng phát triển, tiềm ẩn nhiều tác động tiêu cực tới thị trường, đặc biệt trong những ngành, lĩnh vực có quy mô lớn hoặc đóng vai trò thiết yếu trong nền kinh tế như lĩnh vực năng lượng dược phẩm, phân phối, bán lẻ, vận tải, logistic, du lịch, các ngành ứng dụng công nghệ,..

          – Quá trình điều tra, xử lý, kiểm soát M&A gặp nhiều khó khăn do các quy định của Luật còn cứng nhắc dẫn đến bỏ sót hành vi vi phạm, khó chứng minh hành vi vi phạm của doanh nghiệp, chưa có cơ chế và tiêu chí định hướng cụ thể để cơ quan cạnh tranh đánh giá tác động hạn chế cạnh tranh của các giao dịch M&A một cách toàn diện, khách quan để từ đó ngăn ngừa và xử lý các hành vi vi phạm, bảo đảm và thúc đẩy cạnh tranh hiệu quả.

III. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT HOẠT ĐỘNG M&A Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

          Luật cạnh tranh 2018 đã khắc phục, bổ sung hoàn thiện một cách tương đối đầy đủ và toàn diện các vấn đề trong pháp luật cạnh tranh trước đây. Tuy nhiên vẫn tồn tại những điểm hạn chế nên vẫn cần phải tiếp tục hoàn thiện pháp luật cạnh tranh kiểm soát hoạt động M&A trong thời gian tới theo một số xu hướng sau:

– Bổ sung quy định về khái niệm tập trung kinh tế

          Ở cả Luật cạnh tranh 2004 và Luật cạnh tranh 2018 đều không có định nghĩa chung nhất về hành vi “tập trung kinh tế” mà được thực hiện bằng các cách liệt kê hình thức được coi là TTKT, mặc dù các nhà làm luật đã quy định một điều khoản “quét”[3] nhằm dự liệu khả năng quy địnhvà bổ sung các dạng hành vi mới trong luật, tuy nhiên việc này có khả năng tạo ra sự tùy tiện và thiếu đồng bộ giữa các quy định của pháp luật. Khái niệm TTKT được đưa ra đòi hỏi thể hiện được bản chất của hành vi TTKT và mang tính bao quát để có thể bao gồm hết các hành vi TTKT có thể xảy ra trên thị trường nói chung. Theo đó, kiến nghị bổ sung khái niệm TTKT như sau: “TTKT là việc thâu tóm trực tiếp hoặc gián tiếp toàn bộ hoặc một phần tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác có đủ để kiểm soát doanh nghiệp đó hoặc kết hợp toàn bộ hoặc một phần giữa các doanh nghiệp để cùng kiểm soát doanh nghiệp hình thành sau kết hợp”

– Quy định cụ thể các tiêu chí đánh giá đối với giao dịch M&A theo chiều dọc và hỗn hợp

          Luật cạnh tranh 2018 dã mở rộng các hình thức M&A bị kiểm soát sang cả hình thức M&A theo chiều dọc và hỗn hợp. Đây là điểm tiến bộ đáng ghi nhận nhưng các tiêu chí được quy định tại Điều 13 Nghị định 35/2020/NĐ- CP dùng để thẩm định chính thức giao dịch M&A bị kiểm soát vẫn chủ yếu dựa trên thị trường liên quan, tức là chỉ được áp dụng đối với M&A theo chiều ngang. Bởi vậy cần kịp thời bổ sung hoàn thiện để việc áp dụng quy định thực sự phát huy hiệu quả trên thực tế cũng như giúp cho các doanh nghiệp dễ dàng hơn trong hoạch định M&A theo dạng này.

– Hoàn thiện quy định pháp luật về xác định thị trường liên quan khi xem xét các giao dịch M&A theo chiều ngang

          Cách thức xác định thị trường liên quan hiện hành của Việt Nam về cơ bản là tương đồng so với các nước khác trên thế giưới ngoại trừ việc còn thiếu các quy định về phân tích yếu tố thời điểm trong việc xác định thị trường liên quan. Yếu tố thời điểm có vai trò quan trọng trong thời gian cung ứng và sử dụng một sản phẩm, dịch vụ, ảnh hưởng đến việc xác định thị trường liên quan. Do vậy, đề xuất nghiên cứu xem xét quy định yếu tố này ltrong việc xác định thị trường liên quan.

– Sửa đổi quy định về cách xác định thị phần

          Mặc dù cách xác định thị phần của Luật cạnh tranh 2018 đã khắc phục được phần nào bất cập của pháp luật cạnh tranh trước đây bằng việc bổ sung tiêu chí số đơn vị sản phẩm mua vào/bán ra trên thị trường liên quan nhưng vẫn chưa đặt ra vấn đề xác định thị phần khi trên thị trường liên quan có sự xuất hiện của các doanh nghiệp kinh doanh đa ngành, đa nghề và các doanh nghiệp này tung ra các sản phẩm hòa trộn các dịch vụ, sản phẩm với nhau. Khi đó cần bổ sung quy định hướng dẫn cụ thể cách xác định thị phần trong những trường hợp này.

– Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, chuyên gia thực thi trong lĩnh vực M&A

          Hệ thống pháp luật kiểm soát M&A có hoàn thiện đến đâu nhưng nếu thiếu đi những cán bộ, chuyên gia để phát huy, đưa ra các quy định đó vào cuộc sống thì hệ thống pháp luật đó chỉ mãi mãi nằm trên giấy tờ. Trong báo cáo tổng kết 12 năm thi hành Luật cạnh tranh trước đây, Bộ Công Thương đã thừa nhận đội ngũ cán bộ, chuyên gia trong lĩnh vực giải quyết vụ việc cạnh tranh nói chung là vừa ít về lượng vừa thiếu về kinh nghiệm và thực tiễn. Nhất là mô hình kinh tế thị trường của Việt Nam hiện nay rất cần về cán bộ, chuyên gia giỏi, được đào tạo đa ngành, bài bản trong lĩnh vực M&A. Bởi vậy, cần phải đẩy mạnh công tác bổ nhiệm tuyển dụng đào tạo, tập huấn cọ sát để hình thành nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung đặc biệt vào hai kĩ năng quan trọng nhất trong công tác thực thi là điều tra và xét xử.

Việt Nam là một quốc gia có nền kinh tế thị trường non trẻ, chuyển đổi từ nền kinh tế hàng hóa kế hoạch phi-thị trường bắt đầu vào những năm cuối thập niên 80. Tuy nhiên, Việt Nam là một trong những quốc gia đầu tiên trong khối các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đã ban hành, xây dựng được chế định pháp luật cạnh tranh tương đối toàn diện kiểm soát M&A. Nhưng trong suốt thời gian qua cho tới gần đây, các quy định này vẫn chưa thực sự đi vào đời sống để thực sự phát huy hiệu quả, vẫn còn bộc lộ những điểm hạn chế về quy định pháp luạt cũng như thực tiễn thi hành. Luật cạnh tranh 2018 cùng các văn bản pháp luật liên quan được ban hành nhằm khắc phục phần nào những nhược điểm trên, tuy nhiên vẫn còn một số vấn đề cần tiếp tục được nghiên cứu, đánh giá.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Luật cạnh tranh 2004
  2. Luật cạnh tranh 2018
  3. Nghị định 35/2020/NĐ- CP quy định chi tiết một số điều của Luật Cạnh tranh 2018
  4. Lê Văn Thắng, Pháp luật cạnh tranh Việt Nam về kiểm soát tập trung kinh tế đối với hoạt động M&A trong giai đoạn hiện nay, Luận văn thạc sĩ luật học, 2020

Nguyễn Xuân Nam, “Kiểm soát tập trung kinh tế theo Luật Cạnh tramh Việt Nam- Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, 2014.


[1] Nguyễn Xuân Nam, “Kiểm soát tập trung kinh tế theo Luật Cạnh tramh Việt Nam- Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, 2014.

[2] Điều 42. Tập trung kinh tế có điều kiện

Tập trung kinh tế có điều kiện là tập trung kinh tế được thực hiện nhưng phải đáp ứng một hoặc một số điều kiện sau đây:

1. Chia, tách, bán lại một phần vốn góp, tài sản của doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế;

2. Kiểm soát nội dung liên quan đến giá mua, giá bán hàng hóa, dịch vụ hoặc các điều kiện giao dịch khác trong hợp đồng của doanh nghiệp hình thành sau tập trung kinh tế;

3. Biện pháp khác nhằm khắc phục khả năng tác động hạn chế cạnh tranh trên thị trường;

4. Biện pháp khác nhằm tăng cường tác động tích cực của tập trung kinh tế.

[3] Điểm đ Khoản 1 Điều 29 LCT 2018 “Các hình thức TTKT khác theo quy định của pháp luật” được coi là các điều khoản “quét”

Trách nhiệm, nghĩa vụ của tổ chức tín dụng trong hoạt động huy động vốn nhằm đảm bảo quyền lợi của người gửi tiền

Trách nhiệm, nghĩa vụ của tổ chức tín dụng trong hoạt động huy động vốn nhằm đảm bảo quyền lợi của người gửi tiền – liên hệ thực tiễn.

Việt Nam đang trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cùng với xu hướng “toàn cầu hoá” hiện nay, nhu cầu về vốn cho phát triển kinh tế lại càng trở nên cấp thiết. Các tổ chức tín dụng (TCTD) là một loại hình doanh nghiệp đặc thù với lĩnh vực kinh doanh tiền tệ nên vô cùng nhạy cảm với nền kinh tế. Các Tổ chức tín dụng kinh doanh tiền tệ dưới hình thức sử dụng vốn tự có và vốn huy động để cho vay, đầu tư và cung cấp dịch vụ tiền tệ khác. Như vậy, an toàn trong kinh doanh là yêu cầu bức thiết đối với hoạt động của các tổ chức tín dụng. Để đảm bảo an toàn trong kinh doanh của các TCTD pháp luật có những quy định có tính hạn chế quyền tự do kinh doanh của các TCTD nhằm bảo đảm an toàn cho chính họ, đồng thời để bảo vệ những lợi ích chung của Nhà nước bao gồm sự ổn định tiền tệ quốc gia, sự an toàn của cả hệ thống các tổ chức tín dụng, lợi ích của người gửi tiền và hạn chế đến mức thấp nhất những tiêu cực, rủi ro có thể xảy ra trong hoạt động của tổ chức tín dụng.

I. KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN VÀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG Ở VIỆT NAM

1.Khái quát hoạt động huy động vốn của tổ chức tín dụng

Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng. Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân[1]

Huy động vốn theo nghĩa chung nhất là việc các TCTD tập trung những giá trị tiền tệ từ các tổ chức kinh tế và các cá nhân trong xã hội thông qua quá trình thực hện các nghiệp vụ tín dụng, thanh toán, các nghiệp vụ kinh doanh khác và được dùng là vốn để kinh doanh.

Huy động vốn là hoạt động thường xuyên và luôn gắn liền với kế hoạch kinh doanh của TCTD, bởi lẽ vốn huy động là nguồn vốn chủ yếu để các TCTD tiến hành các hoạt động kinh doanh của mình. Chính vì vậy, khi tiến hành các hoạt động huy động vốn, TCTD phải tính toán sao cho việc sử dụng đồng vốn huy động được hiệu quả nhất. Mặt khác, huy động vốn xét về bản chất chính là việc TCTD đi vay tiền từ các chủ sở hữu số tiền đó và có trách nhiệm hoàn trả đúng hạn cả gốc và lãi khi đến hạn hoặc khi khách hàng có nhu cầu rút vốn.

Vai trò của hoạt động huy động vốn:

– Đối với các TCTD:

 Huy động vốn đem lại nguồn vốn lớn, chủ yếu cho các TCTD tiến hành các hoạt dộng kinh doanh. Nguồn vốn này là cơ sở để các TCTD tổ chức mọi hoạt động kinh doanh, quyết định quy mô hoạt động tín dụng và các hoạt động khác của TCTD, quyết định năng lực thanh toán và đảm bảo uy tín của TCTD trên thương trường, quyết định năng lực cạnh tranh của TCTD,..Không những thế, huy động vốn còn tạo tiền đề để TCTD tiến hành các hoạt động kinh doanh khác như: làm dịch vụ thanh toán, ngân quỹ, góp phần làm tăng thêm lợi nhuận cho các TCTD.

– Đối với nền kinh tế:

Thông qua hoạt động huy động vốn của các TCTD, nền kinh tế có thêm một kênh thu hút các nguồn vốn nhàn rỗi khác nhau trong dân cư nhằm đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư cho kênh phát triển kinh tế – xã hội, xây dựng cơ sở hạ tầng, sự cung cầu vốn giữa các thành phần khác nhau trong xã hội gặp nhau được dễ dàng hơn. Cũng qua hoạt động này, Nhà nước có thể điều chỉnh chính sách tiền tệ, ổn định giá trị đồng tiền, thúc đẩy phát triển kinh tế. Hơn nữa, chính sách lãi suất huy dộng vốn hợp lý, hoạt động huy động vốn của các TCTD sẽ tăng khả năng kích thích tiết kiệm trong nhân dân. Thông qua hoạt động này chúng ta có thể đánh giá được trình độ phát huy nội lực của quốc gia, khai thác tiềm năng của mọi nguồn vốn đang còn tiềm ẩn thu gom được một lượng tiền tương đối lớn trong nền kinh tế, giảm dần lượng tiền mặt trong lưu thông. Từ đó, các TCTC có thể tập trung được các nguồn vốn cho đầu tư phát triển kinh tế, góp phần nâng cao đời sống nhân dân.

2. Pháp luật chiều chỉnh hoạt động huy động vốn của các tổ chức tín dụng tại Việt Nam

Hiện nay, theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, các TCTD được huy động vốn thông qua bốn hình thức sau:

Thứ nhất, huy động vốn bằng hình thức nhận tiền gửi:

Khoản 13 Điều 4 Luật các TCTD 2010 đưa ra định nghĩa về hoạt động này: “Nhận tiền gửi là hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận”

Như vậy, trên phương diện pháp lý thì “quan hệ tiền gửi” là quan hệ kinh tế phát sinh giữa một bên là tổ chức, cá nhân gửi tiền với bên kia là tổ chức được phép nhận tiền gửi. Xét về bản chất thì quan hệ tiền gửi là một quan hệ hợp đồng vay nợ, bởi vì quan hệ này được thiết lập dựa trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng và tự do thỏa thuận giữa các chủ thể; Có sự chuyển giao một lượng tiền nhất định từ người gửi tiền sang tổ chức nhận tiền gửi để tổ chức này quản lý, sử dụng. Sau đó, tổ chức nhận tiền gửi có nghĩa vụ phải hoàn trả cho người gửi tiền cả gốc và lãi (nếu có) khi đến hạn hoặc khi người gửi tiền có yêu cầu; Đồng thời, quan hệ gửi tiền phát sinh trên cơ sở có sự tín nhiệm giữa các bên. Trong các hình thức huy động vốn của TCTD, hình thức huy động vốn bằng nhận tiền gửi là hình thức chủ yếu, chiếm tỷ lệ lớn trong tổng nguồn vốn huy động của mỗi TCTD.

Các loại tiền gửi: Tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận.

Thứ hai, huy động vốn thông qua việc phát hành giấy tờ có giá

 Theo Khoản 8, Điều 6, Luật ngân hàng nhà nước Việt Nam 2010; Khoản 1, Điều 3 Thông tư 04/2016/TT-NHNN và Khoản 1 Điều 2 Thông tư 01/2012/TT-NHNN quy định: ‘’ Giấy tờ có giá là bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ giữa tổ chức phát hành giấy tờ có giá với người sở hữu giấy tờ có giá trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều kiện khác”.

Các giấy tờ có giá do TCTD phát hành là một công cụ vay nợ trên thị trường tiền tệ, thị trường vốn dưới hình thức giấy nhận nợ hoặc chứng chỉ tiền gửi, trong đó TCTD cam kết trả gốc, lãi cho người mua sau một thời gian nhất định

Dựa trên các quy định của pháp luật hiện hàng thì giấy tờ có giá bao gồm:

– Căn cứ vào thời hạn phát hành:

+ Giấy tờ có giá ngắn hạn

+ Giấy tờ có giá dài hạn

– Căn cứ và chủ sở hữu giấy tờ có giá:

+ Giấy tờ có giá ghi danh

+Giấy tờ có giá vô danh

TCTD muốn được huy động vốn bằng phát hành giấy tờ có giá phải thỏa mãn những điều kiện mà pháp luật quy định và được thống dốc Ngân hàng Nhà nước hoặc người được Thống đốc ủy quyền chấp thuận bằng văn bản. TCTD huy động vốn bằng phát hành giấy tờ có giá phỉa có trách nhiệm công bố công khai về việc phát hành giấy tờ có giá theo quy định, phải thanh toán tiền gốc và lãi đúng hạn và đầy đủ cho người sở hữu giấy tờ có giá và phải thực hiện chế độ báo cáo kết quả phát hành cho Ngân hàng Nhà nước theo quy định.

Thứ ba, huy động vốn bằng việc vay vốn giữa các Tổ chức tín dụng

Ngoài việc huy động vốn của dân cư và của các tổ chức kinh tế- xã hội, Pháp luật còn cho phép TCTD được vay vốn của các TCTD khác ở trong nước và các TCTD nước ngoài. Quy định cụ thể trong hoạt động vay vốn giữa các TCTD được nói rõ trong Luật các TCTD 2010 đối với từng loại hình TCTD. Việc vay và cho vay vốn của các TCTD sẽ giúp cho các tổ chức tín dụng điều hòa, phân phối vốn để tăng cường khả năng thanh toán, đảm bảo an toàn, hiệu quả choa hoạt động của từng TCTD. Quan hệ vay vốn này được thực hiện dựa trên cơ sở hợp đồng tín dụng.

Về biện pháp bảo đảm, các bên thỏa thuận việc áp dụng hoặc không áp dụng hình thức bảo đảm cho khoản vay bao gồm đảm bảo bằng tài sản, bảo lãnh của một TCTD khác. Việc áp dụng hình thức bảo đảm và xử lý tài sản bảo đảm tiền vay được thực hiện theo quy định của pháp luật hiện hành. Về phương thức cho vay các bên thỏa thuận áp dụng phương thức cho vay từng lần, theo hạn mức hoặc các phương thức khác phù hợp với quy định của pháp luật.

Thứ tư, huy động vốn thông qua vay vốn của Nhà nước.

Ngoài các hình thức huy động vốn đã nêu, các TCTD có thể vay vốn từ Ngân hàng Nhà nước. Hoạt động này vừa là một hình thức huy động vốn của TCTD vừa là một công cụ để Ngân hàng Nhà nước thực hiện chính sách tiền tệ, tái cấp vốn.

II. TRÁCH NHIỆM, NGHĨA VỤ CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN NHẰM ĐẢM BẢO QUYỀN LỢI CỦA NGƯỜI GỬI TIỀN

1. Bảm đảm an toàn cho người gửi tiền

Bảo đảm an toàn cho người gửi tiền là sự bảo đảm an toàn về số tiền mà khách hàng gửi vào TCTD và những thông tin về chính khách hàng phải được bảo vệ và giữ bí mật.

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 14 Nghị định 117/2018/NĐ-CP thì Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có trách nhiệm sau đây:

“2. Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có trách nhiệm sau đây:

a) Cung cấp thông tin khách hàng trung thực, đầy đủ, kịp thời, đúng đối tượng và phạm vi thông tin được yêu cầu cung cấp;

b) Đảm bảo an toàn, bí mật thông tin khách hàng trong quá trình cung cấp, quản lý, sử dụng, lưu trữ thông tin khách hàng;

c) Giải quyết khiếu nại của khách hàng trong việc cung cấp thông tin khách hàng theo quy định của pháp luật;

d) Tổ chức giám sát, kiểm tra và xử lý vi phạm quy định nội bộ về giữ bí mật, lưu trữ, cung cấp thông tin khách hàng;

đ) Chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật đối với trường hợp vi phạm quy định của Nghị định này, pháp luật có liên quan.”

            Căn cứ khoản 1, 2 Điều 35 BLDS 2015 và Điều 6 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010 thì việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, tổ chức phải được cá nhân, tổ chức đồng ý. Ngoài ra, Điều 38 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt nam 2010 và Điều 14 Luật các tổ chức tín dụng 2010 đều có quy định về nghĩa vụ bảo vệ bí mật bí mật thông tin liên quan đến tài khoản, tiền gửi, tài sản gửi và các giao dịch của khách hàng. Về nguyên tắc giữ bí mật, cung cấp thông tin khách hàng, Nghị định 117/2018/NĐ-CP quy định về việc giữ bí mật, cung cấp thông tin khách hàng của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cũng nêu rõ tại Điều 4: “Thông tin khách hàng của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải được giữ bí mật và chỉ được cung cấp theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017, Nghị định này và pháp luật có liên quan”.

            Như vậy, thông tin khách hàng của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng phải được bảo mật tuyệt đối, trừ các trường hợp pháp luật quy định được phép cung cấp. Bảo mật thông tin của khách hàng là trách nhiệm của các tổ chức tín dụng, các chi nhánh ngân hàng, các cơ quan, tổ chức này không được tự ý tiết lộ thông tin khách hàng ra bên ngoài hay thực hiện bất kì hành vi bất chính nào như việc trục lợi, sử dụng trái phép, mua bán, trao đổi, tặng cho, sửa chữa, thay đổi hoặc công khai hóa thông tin đó. Ngoài ra, sự an toàn còn được thể hiện ở tính hoàn trả cả gốc và lãi cho người gửi tiền khi hợp đồng hết hạn. Đây cũng là nghĩa vụ của TCTD khi thực hiện hợp đồng gửi tiền theo quy định của pháp luật.

Đồng thời, Nghị định 117/2018/NĐ-CP cũng có quy định để khách hàng có thể bảo vệ mình trong trường hợp có vi phạm xảy ra, theo đó, khách hàng có quyền khiếu nại, khởi kiện, yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật trong trường hợp cơ quan nhà nước, tổ chức khác, cá nhân, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cung cấp, sử dụng thông tin khách hàng không đúng quy định của pháp luật.

2. Công bố công khai các dịch vụ và chế độ ưu đãi đối với người gửi tiền

            Quy định về vấn đề này, theo khoản 4 Điều 10 Luật các TCTD 2010 thì các TCTD phải có trách nhiệm Thông báo công khai lãi suất tiền gửi, phí dịch vụ, các quyền, nghĩa vụ của khách hàng đối với từng loại sản phẩm, dịch vụ đang cung ứng”

            Bản chất của việc TCTD nhận tiền gửi của người gửi tiền là hợp đồng vay tài sản. Như vậy, mọi điều khoản của hợp đồng phải được công khai. Trong quan hệ hợp đồng này, TCTD tự nắm bắt và chi phối được quyền lợi của mình nhưng người gửi tiền thì không thể thực hiện được điều đó. Quyền lợi của người gửi tiền chịu sự chi phối của TCTD. Vì thế, để thực hiện đúng quy định của pháp luật về giao kết hợp đồng và bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền, các TCTD phải công khai các loại dịch vụ và ưu đãi đối với người gửi tiền trong từng loại dịch vụ đó.

            Mục đích của người gửi tiền vào TCTD rất đa dạng, có người muốn gửi để an toàn, hưởng lợi nhuận, có người muốn mở tài khoản để thanh toán,…Tuy nhiên, dịch vụ mà được nhiều người gửi tiền lựa chọn nhất đó là gửi tiết kiệm để hưởng lãi suất. Có thể khẳng định nhiều người ở Việt Nam hiện nay, đặc biệt là tầng lớp người già , tiền sinh hoạt của họ trông chờ vào tiền lãi mà họ nhận hàng tháng khi tham gia hoạt động gửi tiền vào các TCTD. Để đảm bảo quyền lợi và thỏa mãn nhu cầu này của người gửi tiền, các TCTD đưa ra các loại hình gửi tiết kiệm phong phú: không kì hạn, có kì hạn (kì hạn 1 tháng, 2 tháng, 3 tháng,..) Thông thường, kì hạn càng kéo dài thì mức lãi suất càng cao. Tùy vào mục đích và nhu cầu, người gửi tiền tự lựa chọn dịch vụ cho phù hợp. Để đảm bảo quyền được thông tin của người gửi tiền, tất cả các dịch vụ kể trên của TCTD được công khai tại thông qua nhiều hình thức (ghi trong hợp đồng mẫu của ngân hàng, niêm yết công khai tại quầy giao dịch của ngân hàng,…). Qua đó, người gửi tiền biết rõ quyền và nghĩa vụ của mình khi tham gia hợp đồng với TCTD.

3. Thực hiện đúng và đầy đủ các quy định về tỷ lệ bảo đảm an toàn và phòng tránh rủi ro trong quá trình hoạt động

            Để đảm bảo khoản tiền gửi của khách hàng, TCTD phải thực hiện đúng các quy định về tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của mình. Cụ thể trong Luật các Tổ chức tín dụng 2010 và Thông tư 13/2018/VBHN- NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Theo đó, các TCTD phải đảm bảo các quy định về:

  • Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu: các TCTD phải duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 9% giữa vốn tự có so với tổng tài sản “có” rủi ro của TCTD (tỷ lệ an toàn vốn riêng lẻ)[2]. Phải thực hiện Báo cáo tài chính hợp nhất theo quy định của pháp luật, ngoài việc duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu nêu trên, phải đồng thời duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 9% trên cơ sở hợp nhất vốn, tài sản của TCTD và công ty trực thuộc (tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu hợp nhất).
  • Giới hạn tín dụng: các TCTD phải căn cứ vào quy định tại Thông tư trên, quy chế nội bộ về quản lý chất lượng tín dụng để xây dựng, ban hành quy định về các tiêu chí xác định một khách hàng và nhóm khách hàng có liên quan, chính sách tín dụng đối với khách hàng và các giới hạn tín dụng áp dụng đối với một khách hàng và nhóm khách hàng có liên quan.
  • Tỷ lệ về khả năng chi trả, cuối mỗi ngày: TCTD phải xác định và có các biện pháp để đảm bảo các tỷ lệ về khả năng chi trả cho ngày hôm sau như tỷ lệ tối thiểu bằng 15% giữa tổng tài sản “có” thanh toán ngay và tổng nợ phải trả.
  • Giới hạn góp vốn, mua cổ phần, mức góp vốn, mua cổ phần của TCTD trong một doanh nghiệp, quỹ đầu tư, dự án đầu tư không được vượt quá 11% vốn điều lệ của doanh nghiệp, quỹ đầu tư, dự án đầu tư đó trừ trường hợp góp vốn, mua cổ phần thành lập công ty trực thuộc theo quy định của pháp luật.
  • Tỷ lệ cấp tín dụng so với nguồn vốn huy động: TCTD chỉ được sử dụng nguồn vốn huy động để cấp tín dụng với điều kiện trước và sau khi cấp tín dụng đều đảm bảo tỷ lệ về khả năng chi trả và các tỷ lệ bảo đảm an toàn khác quy định tại Thông tư này.

      Bên cạnh đó, các TCTD còn phải xác lập mức dự phòng rủi ro và xử lý rủi ro. Hoạt động ngân hàng là hoạt động luôn tiềm ẩn những nguy cơ rủi ro cao. Vì vậy, việc quy định các biện pháp phòng ngừa và xử lý rủi ro tín dụng là rất cần thiết nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của các TCTD và đảm bảo quyền lợi người gửi tiền.

4. Tạo thuận lợi cho khách hàng gửi tiền, rút tiền theo yêu cầu

      Một trong những yêu cầu tiên quyết đối với các TCTD trong hoạt động huy động vốn chính là việc tạo thuận lợi tối đa cho các khách hàng khi có nhu cầu gửi hay rút tiền. Bởi đa số người gửi tiền thực hiện gửi tiền vào các TCTD là nhằm mục đích cất trữ một khoản tiền nhàn rỗi và sinh lợi nhuận; khi có nhu cầu sử dụng cấp bách thì cần phải được sự hỗ trợ tích cực từ các TCTD, đây cũng là nghĩa vụ và trách nhiệm của họ.

      Thông tư 48/2018/TT-NHNN quy định về tiền gửi tiết kiệm đã quy định chi tiết về Thủ tục gửi tiền tiết kiệm cũng như thủ tục chi trả tiền gửi tiết kiệm của TCTD đối với khách hàng lần lượt tại Điều 12 và Điều 18. Các quy định về trình tư, thủ tục gửi tiền, rút tiền rất chặt chẽ, đầy đủ đảm bảo tính an toàn cho cả TCTD cũng như khách hàng, tuy nhiên vẫn rất nhanh chóng, thuận tiện cho người gửi tiền.

Ví dụ quy định về thủ tục gửi tiền gửi tiết kiệm tại địa điểm giao dịch của tổ chức tín dụng được quy định tại Điều 12 của thông tư như sau:

Điều 12. Thủ tục gửi tiền gửi tiết kiệm tại địa điểm giao dịch của tổ chức tín dụng

1. Người gửi tiền phải trực tiếp đến địa điểm giao dịch của tổ chức tín dụng và xuất trình Giấy tờ xác minh thông tin của người gửi tiền; trường hợp gửi tiền gửi tiết kiệm chung, tất cả người gửi tiền phải trực tiếp xuất trình Giấy tờ xác minh thông tin của mình. Trường hợp gửi tiền gửi tiết kiệm thông qua người đại diện theo pháp luật, người đại diện theo pháp luật phải xuất trình giấy tờ chứng minh tư cách đại diện của người đại diện theo pháp luật, Giấy tờ xác minh thông tin của người đại diện theo pháp luật và Giấy tờ xác minh thông tin của người gửi tiền.

2. Người gửi tiền đăng ký chữ ký mẫu trong trường hợp thay đổi chữ ký mẫu hoặc chưa có chữ ký mẫu được lưu tại tổ chức tín dụng. Đối với người gửi tiền là người không viết được, người không đọc được, người không nhìn được: người gửi tiền thực hiện theo hướng dẫn của tổ chức tín dụng.

3. Tổ chức tín dụng đối chiếu, cập nhật các thông tin người gửi tiền theo quy định của pháp luật về phòng, chống rửa tiền.

4. Người gửi tiền thực hiện thủ tục khác theo hướng dẫn của tổ chức tín dụng.

5. Sau khi hoàn thành các thủ tục quy định tại khoản 1, 2, 3 và 4 Điều này, tổ chức tín dụng thực hiện việc nhận tiền gửi tiết kiệm và giao Thẻ tiết kiệm cho người gửi tiền.

6. Đối với việc gửi tiền gửi tiết kiệm vào Thẻ tiết kiệm đã cấp:

a) Trường hợp gửi bằng tiền mặt: Người gửi tiền thực hiện các thủ tục quy định tại khoản 1, 2, 3 và 4 Điều này, xuất trình Thẻ tiết kiệm đã cấp. Tổ chức tín dụng nhận tiền gửi tiết kiệm, ghi nhận tiền gửi tiết kiệm vào Thẻ tiết kiệm đã cấp và giao Thẻ tiết kiệm cho người gửi tiền;

b) Trường hợp gửi từ tài khoản thanh toán của người gửi tiền: người gửi tiền thực hiện các thủ tục do tổ chức tín dụng hướng dẫn.

5. Mua bảo hiểm tiền gửi

            Theo khoản 1 Điều 4 Luật Bảo hiểm tiền gửi (BHTG) 2012: “ Bảo hiểm tiền gửi là sự bảo đảm hoàn trả tiền gửi cho người được bảo hiểm tiền gửi trong hạn mức trả tiền bảo hiểm khi tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi lâm vào tình trạng mất khả năng chi trả tiền gửi cho người gửi tiền hoặc phá sản”.

            Bảo hiểm tiền gửi xuất hiện như một đòi hỏi khách quan của nền kinh tế, là cơ sở để củng cố niềm tin của người gửi tiền đối với các TCTD. Hiện nay, BHTG là công cụ quan trọng nhất để bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền. Người gửi tiền trong các TCTD đóng vai trò là người cho vay, khi các TCTD phá sản hoặc mất khả năng thanh toán các khoản tiền vay đó thì người gửi tiền phải chịu rủi ro. Như vậy, rủi ro của người gửi tiền về cơ bản nằm ngoài tầm kiểm soát của họ và họ không có khả năng tự bảo vệ mình. Vì thế, để đảm bảo quyền lợi của người gửi tiền và đảm bảo cho an toàn cho nền tài chính quốc gia cần có một tổ chức đứng ra BHTG cho họ.

            Đặc điểm lớn nhất của BHTG là người được thụ hưởng (người gửi tiền) không phải là người tham gia bảo hiểm mà là chính các TCTD. Chính vì thế, BHTG trở thành hình thức bắt buộc đối với cá TCTD có huy động vốn từ dân cư. TCTD là người đi vay tiền của người gửi tiền nhưng đồng thời cũng là chủ thể trực tiếp chi phối quyền lợi của người gửi tiền. Bởi vậy, việc bảo vệ quyền lợi người gửi tiên vừa là quyền vừa là nghĩa vụ và trách nhiệm của TCTD. TCTD huy động vốn, việc bảo vệ tốt quyền lợi của người gửi tiền là cơ sở củng cố niềm tin, tạo thêm cơ hội kinh doanh.

6. Mở Tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng nhà nước, duy trì số dư bắt buộc

            Các TCTD phải mở tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng nhà nước và phải duy trì dự trữ bắt buộc theo quy định tại Luật NHNN, Luật các TCTD. Quy định này nhằm đảm bảo hoạt động kinh doanh diễn ra thường xuyên và ổn định, an toàn. Từ đó, đảm bảo quyền lợi cho người gửi tiền trong hoạt động huy động vốn của tổ chức tín dụng

            Ngày 27/12/2019, Ngân hàng Nhà nước ban hành Thông tư 30/2019/TT-NHNN quy định về thực hiện dự trữ bắt buộc của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Theo đó, dự trữ bắt buộc là số tiền mà tổ chức tín dụng phải gửi tại Ngân hàng Nhà nước được xác định theo quy định tại Điều 5, duy trì theo quy định tại Điều 9 và hướng dẫn tại Phụ lục ban hành kèm theo Thông tư này; Điều 6 quy định Tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc và tiền gửi vượt dự trữ bắt buộc và có 3 trường hợp tổ chức tín dụng không thực hiện dự trữ bắt buộc theo Điều 3.

Điều 5. Xác định dự trữ bắt buộc

1. Dự trữ bắt buộc trong kỳ duy trì dự trữ bắt buộc được Ngân hàng Nhà nước xác định cho từng tổ chức tín dụng bằng cách lấy tỷ lệ dự trữ bắt buộc quy định đối với tổ chức tín dụng theo từng loại tiền gửi trong kỳ duy trì dự trữ bắt buộc nhân với số dư bình quân tiền gửi phải tính dự trữ bắt buộc tại tổ chức tín dụng trong kỳ xác định dự trữ bắt buộc tương ứng theo từng loại tiền gửi.

Công thức tính dự trữ bắt buộc như sau:

DTBB =     i      (Tỷ lệ DTBBi x HĐi)

Trong đó:

DTBB: Số tiền phải dự trữ bắt buộc trong kỳ duy trì dự trữ bắt buộc đối với tổ chức tín dụng;

Tỷ lệ DTBBi: Tỷ lệ dự trữ bắt buộc quy định đối với tổ chức tín dụng tương ứng với tiền gửi phải tính dự trữ bắt buộc loại i áp dụng trong kỳ duy trì dự trữ bắt buộc;

i: Số dư bình quân tiền gửi phải tính dự trữ bắt buộc loại i tại tổ chức tín dụng trong kỳ xác định dự trữ bắt buộc.

2. Số dư bình quân tiền gửi phải tính dự trữ bắt buộc tại tổ chức tín dụng trong kỳ xác định dự trữ bắt buộc được tính bằng cách cộng các số dư tiền gửi phải tính dự trữ bắt buộc cuối mi ngày tại toàn hệ thống của tổ chức tín dụng (bao gồm trụ sở chính, chi nhánh ở trong nước và các đơn vị trực thuộc hạch toán phụ thuộc ở trong nước của tổ chức tín dụng hoặc trụ sở của chi nhánh ngân hàng nước ngoài) trong kỳ chia cho tổng số ngày trong kỳ xác định dự trữ bắt buộc.

Công thức tính số dư bình quân tiền gửi phải tính dự trữ bắt buộc đối với từng loại tiền gửi như sau:

Số dư bình quân tiền gửi phải tính dự trữ bắt buộc loại i (HĐi)=Tổng số dư tiền gửi phải tính dự trữ bắt buộc loại i cuối mỗi ngày trong kỳ xác định dự trữ bắt buộc
Số ngày trong kỳ xác định dự trữ bắt buộc

III. THỰC TRẠNG TRÁCH NHIỆM, NGHĨA VỤ CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN

1. Những mặt đạt được

            – Trách nhiệm của các tổ chức tín dụng (TCTD) nhận tiền gửi là đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người gửi tiền cũng như giữ vững được uy tín, thương hiệu. Để đảm bảo an toàn giao dịch, an toàn tiền gửi, cả TCTD và người gửi tiền đều phải tuân thủ các quy định pháp luật về tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi có kỳ hạn. Ngày 31/12/2018, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã ban hành Thông tư số 48/2018/TT-NHNN quy định về tiền gửi tiết kiệm (Thông tư 48) và Thông tư 49/2018/TT-NHNN về tiền gửi có kỳ hạn (Thông tư 49) nhằm đảm bảo an toàn giao dịch cho cả TCTD và người gửi tiền, đồng thời đảm bảo lợi ích hợp pháp của pháp nhân, cá nhân có nhu cầu gửi tiền khi có nguồn tiền nhàn rỗi hoặc thu nhập hợp pháp.

            Nhìn chung, hệ thống pháp luật đã có sự thay đổi để hoàn thiện hành lang pháp lý nhằm đảm bảo quyền lợi của người gửi tiền. Với việc ban hành các quy định về tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi có kỳ hạn, NHNN đã đề cao tính minh bạch, an toàn cho người gửi tiền.

Tại Thông tư 48, NHNN đưa ra các quy định cụ thể về đối tượng gửi tiết kiệm, hình thức tiền gửi tiết kiệm, địa điểm nhận và chi trả tiền gửi tiết kiệm…Theo đó, người gửi tiền phải trực tiếp đến địa điểm giao dịch của TCTD và xuất trình giấy tờ xác minh định danh của người gửi tiền/người đại diện theo pháp luật. Quy định này nhằm đảm bảo an toàn giao dịch cho cả TCTD và người gửi tiền. Trong khi đó, Thông tư 49 bảo đảm lợi ích hợp pháp của pháp nhân, cá nhân là người cư trú và người không cư trú muốn gửi tiền có kỳ hạn khi có nguồn tiền nhàn rỗi hoặc thu nhập hợp pháp. Đồng thời, quy định này cũng nhằm hạn chế các dòng vốn nóng, đầu cơ trên thị trường tiền tệ, người gửi tiền gửi có kỳ hạn chỉ được thực hiện thông qua tài khoản thanh toán của chính mình. Như đối với giao dịch gửi tiền khác, việc gửi, nhận tiền gửi có kỳ hạn có thể được thực hiện thông qua người đại diện hợp pháp hoặc tự mình thực hiện. Đây là những biện pháp nhằm đảm bảo an toàn tiền gửi cho người dân và TCTD.

            – Pháp luật về bảo hiểm tiền gửi ngày càng được hoàn thiện hơn. Theo số liệu của BHTG Việt Nam (BHTGVN) từ năm 2000 đến nay đã chi trả đầy đủ, kịp thời cho 1622 người gửi tiền với tổng số tiền khoảng 21 tỷ đồng, đã củng cố niềm tin, giúp người dân yên tâm vào hoạt động của các TCTD. Trên cơ sở kế thừa những ưu điểm và khắc phục những thiếu sót của Nghị định 89/1999/NĐ-CP về BHTG, Luật BHTG 2012 đã ra đời với những quy định tiến bộ gồm nhiều quy phạm ghi nhận quyền của người gửi tiền, quy định cơ chế bảo vệ quyền của người gửi tiền, quy định cơ chế xử phạt đối với chủ thể vi phạm quyền của người gửi tiền,…

            – Các quy định về phòng tránh rủi ro và đảm bảo an toàn cho hệ thống tín dụng nhằm vào bảo vệ quyền lợi người gửi tiền có nhiều thành tựu đáng kể. Trong thời gian qua, các cơ quan có thẩm quyền đã ban hành nhiều văn bản pháp luật nhằm đưa ra các thông số để lường trước vấn đề rủi ro, trên cơ sở đó, tìm các giải pháp nhằm hạn chế và loại trừ rủi ro đối với hệ thống tín dụng. Với những nỗ lực này, bước đầu tạo điều kiện để hệ thống tín dụng phát triển lành mạnh, tránh sự sụp đổ tạo nền phản ứng dây chuyền cho hệ thống kinh tế quốc gia và bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền.

2. Những hạn chế

            Bên cạnh những mặt đạt được kể trên, do nhiều nguyên nhân khác nhau trách nhiệm của các TCTD trong hoạt động huy động vốn nhằm bảo vệ quyền lợi người gửi tiền còn nhiều bất cập và hạn chế.

            Thứ nhất, pháp luật về bảo vệ quyền lợi người gửi tiền ở nước ta chưa được thống nhất trong văn bản pháp luật riêng biết mà quy định trong Luật Dân sự, Luật các TCTD, Luật BHTG, Luật bảo vệ người tiêu dùng,..Các quy định nằm rải rác ở nhiều văn bản và nghị định khác nhau, điều này gay khó khăn cho cơ quan áp dụng pháp luật, đồng thời đối với cả các TCTD. Bởi vì khi cần sử dụng các quy phạm pháp luật để bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền, họ phải “ nhặt” ở nhiều văn bản khác nhau, gây ra tình trạng thiếu hụt căn cứ pháp lý dẫn đến trách nhiệm của các TCTD đối với người gửi tiền cũng giảm sút.

            Thứ hai, một số TCTD còn cố tình thực hiện sai hay thực hiện không đầy đủ quy định của pháp luật BHTG, nhất là trong công tác kiểm tra tại chỗ của tổ chức BHTG. Một sai phạm thường gặp nữa là trong việc nộp phí BHTG. Đó là tình trạng nộp thừa hay cố tình trốn tránh không nộp phí BHTG, nộp phí không đầy đủ, không đồng bộ.

            Thứ ba, trong một số trường hợp, hợp đồng gửi tiền chưa rõ ràng. Bản chât của việc gửi tiền là hợp đồng vay tài sản, trong đó bên vay là các TCTD, bên cho vay là người gủi tiền Thực tế hiện nay, hoạt động này không có văn bản hợp đồng cụ thể. Ví dụ, hoạt động gửi tiền tiết kiệm, người gửi tiền đến quầy giao dịch của các TCTD điền các thông tin vào một tờ mẫu mà ngân hàng cung cấp, sau đó giao dịch viên điền các phần thông tin đó vào phần mềm quản lí và cuối cùng giao dịch viên đưa cho người gửi tiền một “sổ tiết kiệm” . Trên sổ tiết kiệm có ghi một số thông tin cơ bản như họ tên khách hàng, chứng minh thư nhân dân của khách hàng, số tiền gửi, kỳ hạn gửi và một số điều khoản thường là để bảo vệ quyền lợi của TCTD. Do trình độ hiểu biết còn thấp nên người gửi tiền thường ít quan tâm đến quyền lợi của mình khi gửi tiền, họ chấp nhận theo những điều khoản mà TCTD đưa ra, thậm chí có người còn không quan tâm đến những điều khoản đó.

Nếu xảy ra tranh chấp giữa TCTD và người gửi tiền thì hợp đồng là căn cứ đầu tiên và quan trọng nhất để giải quyết. Nhưng trong hợp đồng không ghi cụ thể quyền và nghĩa vụ của mỗi bên. Việc giải quyết quyền lợi cho người gửi tiền phải căn cứ vào quy chế riêng của TCTD. Như vậy, người gửi tiền vốn ở thế bất lợi, càng khó đưa ra các chứng cứ bảo vệ quyền lợi của mình khi có tranh chấp với TCTD.

            Thứ tư, thực tế kiến thức về pháp luật bảo vệ người gửi tiền của các nhân viên trong các TCTD còn nhiều hạn chế. Trong nhiều trường hợp, cán bộ ngân hàng vì tư lợi đã xâm phạm quyền lợi của người gửi tiền. Những hành vi vi phạm chủ yếu là chuyên viên ngân hàng thường làm giấy tờ chứng từ, không nhập số tiền gửi của khách hàng vào hệ thống quản lý để chiếm đoạt số tài sản đó. Hoặc có trường hợp có nhập hệ thống nhưng nhập ít hơn số tiền thực nhận được của người gửi tiền và chiếm đoạt số tiền chênh lệch.

            Vừa qua, vụ chiếm đoạt hơn 400 tỉ đồng tại Oceanbank Hải Phòng đã làm chấn động tâm lý của người gửi tiền. Cụ thể Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an ngày 18-7 cho biết đã hoàn tất bản kết luận điều tra vụ án tham ô và lừa đảo chiếm đoạt tài sản xảy ra tại Ocean Bank Chi nhánh Hải Phòng. Cơ quan điều tra đã đề nghị Viện KSND tối cao truy tố 4 bị can nguyên là cán bộ OceanBank gồm: Trần Thị Kim Chi (nguyên giám đốc chi nhánh); Nguyễn Thị Minh Huệ (nguyên trưởng phòng kế toán kho quỹ); Lê Vương Hoàng (nguyên giao dịch viên, kiểm soát viên) và Chu Văn Nha (nguyên thủ quỹ). Số tiền các bị can chiếm đoạt trong vụ án này là hơn 400 tỉ đồng. 

            Thủ đoạn của các bị can là để tiền ngoài hệ thống để chiếm đoạt, tự hạch toán sổ tiết kiệm dù không được khách hàng yêu cầu. Kết quả điều tra cho thấy tháng 3-2010, Trần Thị Kim Chi được bổ nhiệm làm phó giám đốc OceanBank chi nhánh Hải Phòng. Thời gian này, một số khách hàng có sẵn mối quan hệ với Chi và cán bộ ngân hàng nên thường liên hệ và đặt lịch trước mỗi lần đến giao dịch hoặc gửi tiết kiệm. Tuy nhiên, các bị can không hạch toán số tiền gửi của khách hàng lên hệ thống FCC và phát hành sổ tiết kiệm ngoài hệ thống, sau đó tiêu hủy chứng từ mở sổ tiết kiệm mà khách hàng đã ký. Bằng thủ đoạn nêu trên, Trần Kim Chi đã in và phát hành 79 sổ tiết kiệm ngoài hệ thống cho 21 khách hàng, chiếm đoạt của khách hàng hơn 242 tỉ đồng và 2,7 triệu USD. Bên cạnh đó, do cần tiền để sử dụng cá nhân hoặc trả cho khách hàng có sổ tiết kiệm ngoài hệ thống đến rút tiền, Chi đã trực tiếp hoặc thông qua cấp dưới lấy tiền từ quỹ chi nhánh để sử dụng hoặc trả cho khách hàng. Để cân đối quỹ tiền mặt, Chi chỉ đạo nhân viên hạch toán, tất toán sổ tiết kiệm của khách hàng đang có trên hệ thống FCC mặc dù khách hàng không yêu cầu tất toán. Đến kỳ hạn tất toán sổ tiết kiệm, Chi chỉ đạo Lê Vương Hoàng chủ động liên hệ khách hàng, đặt lịch đón tiếp, vận động khách hàng tiếp tục gửi tiền tiết kiệm. Khi khách hàng đồng ý gửi tiếp, Hoàng hướng dẫn làm các thủ tục tất toán nộp lại sổ tiết kiệm cũ, ký khống (không điền nội dung ngày, tháng, năm) vào phiếu rút tiền. Sau đó, Hoàng mở sổ tiết kiệm mới nhưng không hạch toán vào hệ thống, đồng thời tiêu hủy các sổ tiết kiệm mới mà chỉ giữ lại các chứng từ tất toán sổ tiết kiệm cũ để hợp thức hóa cho việc tất toán khống trước đó.

IV. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN NÂNG CAO NGHĨA VỤ VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC TCTD TRONG HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN NHẰM ĐẢM BẢO QUYỀN LỢI CỦA NGƯỜI GỬI TIỀN

            Thứ nhất, pháp luật cần quy định rõ quyền của người gửi tiền để tăng phần trách nhiệm của các TCTD. Đây có lẽ là nội dung quan trọng nhất bởi phải xác định được quyền của người gửi tiền chúng ta mới xây dựng được cơ chế bảo vệ những quyền đó. Để phù hợp với thông lệ quốc tế, pháp luật nước ta cần ghi nhận người gửi tiền có những quyền sau: quyền được thỏa mãn những nhu cầu gắn với khoản tiền gửi; quyền được an toàn, quyền được cung cấp thông thi, quyền được lựa chọn, quyền được đại diện, quyền được khiếu nại, khởi kiện và bồi thường thiệt hại.

            Thứ hai, xây dựng cơ chế bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền là cá nhân và tổ chức cần có những điểm riêng biệt. Người gửi tiền là cá nhân thường có mục đích gửi tiết kiệm và hưởng lãi suất, người gửi tiền là tổ chức thường có mục đích là mở tài khoản thanh toán. Vì thế, khi xây dựng cơ chế bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền, bên cạnh những quy định chung, nhà làm luật cần xây dựng những quy định  riêng cho phù hợp với đặc điểm của từng chủ thể.

            Thứ ba, hoàn thiện quy định của pháp luật về hợp đồng gửi tiền. Như đã phân tích ở phần hạn chế, việc gửi tiền hiện nay chưa có hợp đồng nên trong nhiều trường hợp xảy ra tranh chấp, người gửi tiền khó khăn trong việc đưa ra cơ sở pháp lý chứng minh vi phạm của các TCTD. Lĩnh vực tài chính tiền tệ là một lĩnh vực nhạy cảm, sự sụp đổ của một tổ chức tài chính nào đó sẽ gây hậu quả khôn lường cho nền kinh tế. Để đảm bảo an toàn cho hệ thống huyết mạch của nền kinh tế quốc gia cần có nhiều giải pháp đồng bộ. Để góp phần bảo đảm sự an toàn này, quy định của pháp luật về giao kết hợp đồng gửi tiền cần khắt khe, chặt chẽ.

            Thứ tư, bên cạnh việc hoàn thiện hành lang pháp lý, TCTD nâng cao quy trình kiểm soát chặt chẽ rủi ro, nhất là rủi ro khách hàng bị lừa đảo, chiếm đoạt tài sản, lộ thông tin cá nhân. Các rủi ro công nghệ nếu xảy ra rất dễ khiến khách hàng bị thiệt hại và có thể để lại hậu quả trên diện rộng. Xu hướng ngân hàng mở (Open Banking) hiện nay tạo điều kiện cho các bên thứ ba cung cấp nhiều loại dịch vụ mới cho khách hàng thông qua giao diện lập trình ứng dụng mở (open API) giúp tăng trải nghiệm của khách hàngTuy nhiên, cũng có nguy cơ xảy ra rủi ro mất thông tin, dữ liệu và tiền, nên các TCTD cần hết sức lưu tâm tăng cường an ninh mạng, an toàn thông tin, dữ liệu khách hàng và của bản thân mình.

            Thứ năm, TCTD phải đảm bảo khả năng thanh khoản, trước hết là tuân thủ đảm bảo các tỷ lệ an toàn theo quy định của NHNN. Bên cạnh đó, điều hành cân đối vốn phù hợp với diễn biến thị trường nhằm đảm bảo an toàn thanh khoản cho hệ thống.  Đồng thời, các TCTD phải tuân thủ đúng theo các quy định của pháp luật và của NHNN về đảm bảo an ninh, an toàn tiền gửi cho khách hàng. Ngoài ra, phía TCTD cần tăng cường công tác tuyên truyền, cung cấp thông tin, tư vấn cho khách hàng, tích cực tham gia giáo dục tài chính, giúp khách hàng hiểu rõ về sản phẩm – dịch vụ, đặc biệt là các sản phẩm mới.

            Thứ sáu, các TCTD cần có chính sách và quy trình giải quyết sự vụ, sự việc một cách chuyên nghiệp, thấu đáo khi khách hàng gặp vấn đề liên quan đến tiền gửi nhằm đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho khách hàng cũng như giữ vững uy tín, thương hiệu của TCTD trên thị trường. Như thế mới đảm bảo đôi bên cùng có lợi và quan hệ hợp tác lâu dài, bền vững.

            Bảo vệ quyền lợi người gửi tiền là trách nhiệm cũng như nghĩa vụ của các TCTD góp phần bảo vệ quyền con người và đảm bảo cho hệ thống tài chính hoạt động lành mạnh, ổn định phát triển kinh tế, xã hội cho đất nước. Với đề tài “Trách nhiệm, nghĩa vụ của tổ chức tín dụng trong hoạt động huy động vốn nhằm đảm bảo quyền lợi của người gửi tiền – liên hệ thực tiễn”, luận văn đã phân tích những vấn đề lí luận, thực trạng pháp luật về hoạt động huy động vốn của TCTD, qua đó hướng hới trách nhiệm và nghĩa vụ của họ đối với người gửi tiền. Đồng thời qua việc phân tích đó, luận văn đưa ra các kiến nghị nhằm hoàn thiện và thực thi hiệu quả nhằm hướng đến lợi ích tuyệt đối của người gửi tiền trên thực tế.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Đại học Luật Hà Nội (2015), Giáo trình Luật Ngân hàng, NXB Công an nhân dân
  2. Luật các TCTD 2010, sửa đổi bổ sung 2017
  3. Luật Ngân hàng Nhà nước 2010
  4. Luật Bảo hiểm tiền gửi 2012
  5. Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010
  6. Nghị định 117/2018/NĐ-CP quy định về việc giữ bí mật, cung cấp thông tin khách hàng của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài
  7. Thông tư 04/2016/TT-NHNN 
  8. Thông tư 01/2012/TT-NHNN
  9. Thông tư 49/2018/TT-NHNN
  10. Thông tư 13/2018/VBHN- NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài
  11. Thông tư 48/2018/TT-NHNN quy định về tiền gửi tiết kiệm đã quy định chi tiết về Thủ tục gửi tiền tiết kiệm cũng như thủ tục chi trả tiền gửi tiết kiệm của TCTD đối với khách hàng
  12. Thông tư 30/2019/TT-NHNN quy định về thực hiện dự trữ bắt buộc của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài
  13. TS. Hà Huy Tấn, Bảo hiểm tiền gửi và những vấn đề cần hoàn thiện để vảo vệ tốt hơn quyền lợi của người gửi tiền, Báo VIBOnline, đăng ngày 26/04/2014
  14. Luật Bảo hiểm tiền gửi 2012 – “Chiếc áo” vừa hơn, Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam – Viet Nam banks asociation, cập nhật ngày 18/10/2013
  15. Bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền tại ngân hàng theo pháp luật Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Đào Thị Sao
  16. Đảm bảo an toàn tiền gửi- bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người gửi tiền, Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam – Viet Nam banks asociation, cập nhật ngày 24/7/2020
  17. Pháp luật về huy động vốn của các TCTD Việt Nam

[1] Khỏan 1 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng.

[2] Điều 9. Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu

1. Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu phản ánh mức đủ vốn của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài trên cơ sở giá trị vốn tự có và mức độ rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải thường xuyên duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều này.

2. Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu của tổ chức tín dụng:

a) Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu của tổ chức tín dụng gồm tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu riêng lẻ và tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu hợp nhất.

b) Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu riêng lẻ: Từng tổ chức tín dụng phải duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu riêng lẻ 9%.

Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu riêng lẻ được xác định bằng công thức sau:

Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu riêng lẻ (%) =Vốn tự có riêng lẻx 100%
Tổng tài sản Có rủi ro riêng lẻ

Trong đó:

– Vốn tự có riêng lẻ được xác định theo quy định tại Phụ lục 1 Thông tư này.

– Tổng tài sản Có rủi ro riêng lẻ là tổng giá trị các tài sản Có nội bảng được xác định theo mức độ rủi ro và giá trị tài sản Có nội bảng tương ứng của cam kết ngoại bảng được xác định theo mức độ rủi ro theo quy định tại Phụ lục 2 Thông tư này.

c) Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu hợp nhất: Tổ chức tín dụng có công ty con, ngoài việc duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu riêng lẻ theo quy định tại điểm b khoản này phải đồng thời duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu hợp nhất 9%.

Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu hợp nhất được xác định bằng công thức sau:

Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu hợp nhất (%) =Vốn tự có hợp nhấtx 100%
Tổng tài sản Có rủi ro hợp nhất

Trong đó:

– Vốn tự có hợp nhất được xác định theo quy định tại Phụ lục 1 Thông tư này.

– Tổng tài sản Có rủi ro hợp nhất được xác định theo quy định tại Phụ lục 2 Thông tư này.

3. Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu của chi nhánh ngân hàng nước ngoài: Chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 9%.

Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu được xác định bằng công thức sau:

Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (%) =Vốn tự cóx 100%
Tổng tài sản Có rủi ro

Trong đó:

– Vốn tự có được xác định theo quy định tại Phụ lục 1 Thông tư này.

– Tổng tài sản Có rủi ro là tổng giá trị các tài sản Có nội bảng được xác định theo mức độ rủi ro và giá trị tài sản Có nội bảng tương ứng của cam kết ngoại bảng được xác định theo mức độ rủi ro theo quy định tại Phụ lục 2 Thông tư này.

Thực trạng tình trạng thu hồi đất còn nhiều khuất tất, ảnh hưởng tới đời sống của người dân

Thực trạng thu hồi đất. Thực trạng hiện nay người dân thường bất đồng và khiếu nại với các cơ quan chức năng về tình trạng thu hồi đất còn nhiều khuất tất, ảnh hưởng tới đời sống của người dân. Anh (chị) hãy chỉ rõ những biểu hiện của những dạng sai phạm trong thu hồi đất và cho biết những nhận định, đánh giá của mình về vấn đề đó.

Luật Đất đai 2013 ra đời đánh dấu nhiều điểm mới và tiến bộ so với Luật đất đai 2003 về nội dung liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất, công tác quản lý Nhà nước về đất đai,.. phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội trong tình hình mới và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, sau khoảng thời gian triển khai thực hiện Luật Đất đai và các văn bản pháp luật có liên quan khác trong thực tiễn đã bộc lộ một số hạn chế, khó khăn bất cập trong công tác thu hồi đất dẫn đến tình trạng tranh chấp, khiếu nại, tố cáo và đất đai có chiều hướng gia tăng, đồng thời gây ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của người dân.

I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VẤN ĐỀ THU HỒI ĐẤT

1. Khái niệm “thu hồi đất”

Thu hồi là động từ chỉ hành động “thu về lại cái trước đó đã đưa ra, đã cấp phát hoặc bị mất vào tay người khác”[1]. Căn cứ theo quy định của pháp luật hiện hành, thuật ngữ “thu hồi đất” được định nghĩa thông qua cụm từ “ Nhà nước thu hồi đất” tại khoản 11 Điều 3 Luật Đất đai 2013, cụ thể như sau: “Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai”.

Như vậy có thể hiểu một cách khái quát thì: Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại đất và quyền sử dụng đất đang có người sử dụng, trong những trường hợp nhất định theo quy định của pháp luật đất đai.

2. Các trường hợp bị thu hồi đất theo quy định pháp luật đất đai hiện hành

Luật Đất đai 2013 đã khắc phục được tính không khái quát, liệt kê trong các quy định về các trường hợp bị thu hồi đất trong Luật Đất đai 2003 bằng việc quy định rõ các trường hợp này theo 4 nhóm lí do cụ thể, đó là:

– Thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh (Điều 61)

– Thu hồi đất để phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia công cộng (Điều 62)

– Thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai (Điều 64)

– Thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất có nguy cơ đe dọa tính mạng con người (Điều 65)

3. Thẩm quyền thu hồi đất

Căn cứ  Điều 66 Luật Đất đai 2013, về cơ bản, thẩm quyền thu hồi đất thuộc về hai hệ thống cơ quan, đó là: UBND cấp tỉnh và UBND cấp huyện thống nhất với thẩm quyền giao đất, cho thuê đất, cụ thể như sau:

– Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thu hồi đất trong các trường hợp sau đây:

+ Thu hồi đất đối với tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Bài luận: Thực trạng thu hồi đất

+ Thu hồi đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn.

– Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thu hồi đất trong các trường hợp sau:

+ Thu hồi đất đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư;

+ Thu hồi đất ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam.

4. Trình tự, thủ tục thu hồi đất

Có thể khái quát các bước trong thu hồi đất như sau:

– Bước 1: Thông báo thu hồi đất.

– Bước 2: Điều tra, đo đạc, kiểm đếm.

– Bước 3: Xây dưng, lấy ý kiến người dân về phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

– Bước 4: UBND cấp có thẩm quyền ban hành Quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và Quyết định thu hồi đất trong cùng 1 ngày.

– Bước 5: Thực hiện bồi thường, hõ trợ, tái định cư.

– Bước 6: UBND cấp huyện ban hành quyết định cưỡng chế thu hồi đất nếu người có đất đã được vận động thuyết phục nhưng không chấp hành việc bàn giao đất cho tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng.

– Bước 7: Tiếp quản đất đã giải phóng mặt bằng.

II. NHỮNG SAI PHẠM TRONG THỰC TRẠNG THU HỒI ĐẤT THƯỜNG GẶP HIỆN NAY

1. Biểu hiện của những dạng sai phạm trong thu hồi đất thường gặp hiện nay

1.1. Sai phạm trong việc áp dụng các căn cứ thu hồi đất, dẫn đến việc thu hồi đất trở nên “vô tội vạ”

Nhiều nước trên thế giới hiện nay chỉ quy định khi thật cần thiết vì mục đích công cộng (bệnh viện, trường học,…) thì nhà nước mới thu hồi đất. Trong khi đó,  khoản 1 Điều 16 Luật Đất đai của nước ta hiện nay quy định 3 trường hợp nhà nước thu hồi đất đai. Đây cũng là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đề việc thu hồi đất có tính chất “vô tội vạ”, không để ý đến bảo vệ tài sản ở trên đất của người dân, dẫn đến lạm dụng trong thu hồi đất, dễ xảy ra tiêu cực. Tại một số địa phương, tình trạng thu hồi đất không đúng mục đích nhằm trục lợi cá nhân vẫn xảy ra. Do một số dự án khó chứng minh được tính vì lợi ích quốc gia, lợi ích doanh nghiệp, vì vậy một số doanh nghiệp lợi dụng điểm này khiến một số hộ dân mất đất ở để “đổi” lấy những dự án treo.

          Mới đây, chính quyền quận Long Biên, TP Hà Nội đã bị phát hiện “núp bóng” dự án công để thu hồi gần 4 ha “đất vàng”. Nhận định về vấn đề này, luật sư Nguyễn Văn Nghi (Đoàn luật sư Hà Nội) cho biết: “Hiểu nôm na thì ban đầu thành phố Hà Nội có dự định xây dựng một trường học chất lượng cao nên giao cho quận Long Biên tổ chức mời thầu và lựa chọn nhà đầu tư thực hiện. Tôi hiểu rằng ban đầu đây là một dự án xây dựng trường công lập nên nhà nước đứng ra thu hồi đất là phù hợp với các quy định của pháp luật. Đáng ra sau khi lựa chọn được nhà đầu tư thì quận Long Biên và nhà đầu tư phải kí hợp tác đầu tư theo những hình thức đầu tư được quy định tại Luật Đầu tư năm 2005. Ấy nhưng quận Long Biên không làm như thế mà thu hồi đất xong rồi giao cho doanh nghiệp xây dựng, kinh doanh kiếm lợi. Nếu thực sự như vậy, tôi nghĩ quận Long Biên đã núp bóng dự án đầu tư công để thu hồi đất không đúng quy định của Luật Đất đai”[2]. Trong trường hợp này, xây dựng trường học tư kinh doanh để kiếm lời không nằm trong mục đích thu hồi đất của nhà nước nhưng việc thu hồi đất và việc bồi thường không thỏa đáng cho người dân vẫn xảy ra. Có thể thấy cơ quan địa phương đã không có trách nhiệm, trục lợi cá nhân dẫn đến mất quyền lợi của người dân, họ mất đất, mất ruộng, không được hưởng lợi ích gì ngoài một khoản tiền vô cùng rẻ mạt.

1.2. Sai phạm trong việc thu hồi đất không đúng thẩm quyền

Do thẩm quyền thu hồi đất giao cho địa phương, pháp luật đất đai lại còn thiếu chặt chẽ, dẫn đến một số cá nhân lợi dụng chức vụ quyền hạn, dẫn đến việc thu hồi  đất không đúng thẩm quyền. Theo quy định pháp luật về đất đai, thẩm quyền thu hồi đất thuộc về Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh và Uỷ ban nhân dân cấp huyện nhưng có rất nhiều trường hợp thu hồi đất không đúng thẩm quyền.

Bài luận: Thực trạng thu hồi đất

Vừa qua, UBND tỉnh Thái Bình đã ra Kết luận thanh tra số 191/KL–UBND liên quan tới tố cáo (TC) về sai phạm trong việc thu hồi quyền sử dụng đất của người dân tại huyện Kiến Xương. Trong đó, nội dung công dân TC ông Bùi Đức Hạnh, nguyên Chủ tịch UBND huyện Kiến Xương “không trả lời đơn khiếu nại (KN) của công dân” là TC đúng. Nội dung kết luận còn chỉ rõ, nguyên Chủ tịch UBND huyện Kiến Xương nay là Phó Giám đốc Sở Công thương từng ký 03 quyết định không đúng thẩm quyền[3]. Qua công tác kiểm tra và thanh tra, UBND tỉnh Thái Bình đã ban hành Kết luận số 191/KL-UBND, theo đó, nguyên Chủ tịch UBND huyện Kiến Xương đã ban hành các quyết định thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và chỉ đạo việc cắm mốc thu hồi đất thổ cư của bố mẹ công dân sai quy định, trục lợi cá nhân. UBND tỉnh Thái Bình đã yêu cầu ông Bùi Đức Hạnh, nguyên Chủ tịch UBND huyện Kiến Xương (nay là Phó Giám đốc Sở Công thương) nghiêm túc kiểm điểm trách nhiệm trong việc để xảy ra những sai phạm.

1.3. Sai phạm trong trình tự, thủ tục thu hồi đất

Điều 69 Luật Đất đai 2013 đã quy định cụ thể trình tự, thủ tục thu hồi đất. Tuy nhiên, thực tế hiện nay, các vi phạm do các chủ thể quản lý thực hiện do làm trái các quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục thu hồi đất diễn ra rất đa dạng như: Định giá đất sai, phân loại đất không sát theo luật định, khai tăng diện tích đất, tăng hộ để lấy tiền đền bù hay bớt xén tiền đền bù,…

Có thể kể đến trường hợp Thu hồi đất tại thôn Minh Khai, thị trấn Như Quỳnh, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên để thực hiện dự án đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật Cụm công nghiệp Minh Khai mở rộng. Cơ quan có thẩm quyền  không tiến hành gửi thông báo đến từng hộ có đất bị thu hồi; không tổ chức lấy ý kiến trực tiếp của người dân về phương án bồi thường, hỗ trợ; không tổ chức kiểm đếm, thống kê hoa màu trên đất; ra quyết định thu hồi đất và quyết định phê duyệt phương án chi tiết bồi thường hỗ trợ không trong cùng một ngày…. Lợi dụng việc những người nông dân kém hiểu biết pháp luật cơ quan có thẩm quyền thu hồi đất đã bỏ qua những bước cơ bản cho thấy sự yếu kém về quản lý, thiếu công khai, minh bạch giữa cơ quan công quyền với người nông dân.

1.4. Sai phạm trong việc thực hiện các chính sách bồi thường, tái định cư cho người dân bị thu hồi đất

Với người nông dân thì nguồn thu nhập chính cũng được tạo ra trên những mảnh đất nông nghiệp nên khi mất đất họ phải chuyển đổi ngành nghề, cuộc sống gặp vô vàn khó khăn. Tuy nhiên, người dân được bồi thường, hỗ trợ với mức rất thấp, không đảm bảo cuộc sống cho bản thân và gia đình. Có thể kể đến việc thu hồi đất nông nghiệp tại phường Ninh Xá, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh để thực hiện dự án xây nhà ở để bán. Khi thu hồi đất, người dân được bồi thường đất với giá vô cùng rẻ mạt nhưng cán bộ lại tiến hành mua đi bán lại với giá cao để hưởng chênh lệch. Sự việc gây bức xúc lớn trong nhân dân dẫn đến khiếu kiện lên các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để đòi quyền lợi của mình nhưng cán bộ bao che cho nhau, yêu cầu của người dân không những không được giải quyết mà còn bị đe dọa, xúc phạm. Hay việc thu hồi đất tại thôn Minh Khai, thị trấn Như Quỳnh, Huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên đã có nhiều hộ không đồng ý với mức bồi thường, hỗ trợ do chính quyền không tiến hành lấy ý kiến của dân về phương án bồi thường. Do đó, khi tiến hành bồi thường đã gặp phải sự phản đối quyết liệt của người dân.

Bài luận: Thực trạng thu hồi đất

Hoặc nghiêm trọng hơn lại có một số sai phạm nghiêm trọng trong việc xác định hộ gia đình được hưởng chính sách tái định cư khi bị thu hồi đất tại một số địa phương. Trong đơn gửi Báo Nhân Dân, nhiều hộ dân có đất nông nghiệp bị thu hồi để thực hiện sáu dự án (gồm: Dự án xây dựng Khu đô thị mới Hạ Ðình; dự án Xây dựng chợ Yên Xá; dự án xây dựng Trường tiểu học Tân Triều; dự án Nhà ở giãn dân tại điểm dân cư nông thôn Triều Khúc; dự án Indeco Complex và dự án hạ ngầm đường điện 110 kV; dự án Khu đô thị Tây Nam Kim Giang I) đều có chung bức xúc: Việc thu hồi đất của UBND thành phố Hà Nội là chủ trương đúng đắn nhằm phát triển kinh tế-xã hội, tuy nhiên, trong quá trình lập phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, các cơ quan chức năng của huyện Thanh Trì đã không thực hiện đúng quy định. Cụ thể: Theo quy định của UBND thành phố Hà Nội, đối với các hộ dân khi bị thu hồi hơn 30% diện tích đất nông nghiệp thì sẽ được hưởng chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm bằng 60 m2 đất ở. Trong danh sách 124 hộ được cấp đất tái định cư theo Quyết định số 1939/QÐ-UBND ngày 23-4-2014 của UBND huyện Thanh Trì khi bị thu hồi đất tại sáu dự án nêu trên thì 10 hộ không có đất bị thu hồi và ba hộ chưa bị thu hồi đến 30% đất nông nghiệp vẫn được bố trí tái định cư.

Bên cạnh đó, giải quyết việc làm cho người nông dân bị thu hồi đất vẫn còn nhiều tồn tại. Sự phối hợp giữa cơ quan nhà nước và địa phương trong đào tạo chuyển đổi việc làm cho người nông dân chưa chặt chẽ; dẫn tới người nông dân còn ngần ngại với việc học nghề mới, khó khăn trong việc tiếp nhận công nghệ hiện đại.

2. Nguyên nhân dẫn đến các sai phạm trong việc thu hồi đất đai

Thứ nhất, quản lý nhà nước về đất đai vẫn chưa chặt chẽ, đồng thời chế tài xử lý vi phạm chưa có đủ sức răn đe dẫn đến việc một số đối tượng còn coi thường pháp luật, cố tình gây sai phạm nhằm trục lợi trong quá trình thu hồi đất đai.

Thứ hai, pháp luật về thu hồi đất đai còn nhiều hạn chế, thiếu sự thống nhất, chưa thỏa đáng với nguyện vọng của nhân dân. Cụ thể, Luật Đất đai 2013 quy định việc thu hồi đất theo Điều 61, 62, 64 và 65 là cần thiết nhằm bảo vệ và sử dụng hiệu quả tài nguyên đất để phát triển kinh tế – xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng. Song, khi cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban bành quyết định thu hồi và tiến hành thu hồi lại gặp nhiều khó khăn do người bị thu hồi đất không chấp hành quyết định thu hồi hoặc tự nguyện thực hiện quyết định nhưng chậm giao đất theo quy định, nhiều trường hợp khi cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tổ chức cưỡng chế thì người bị thu hồi đất gây cản trở người thi hành công vụ, có trường hợp dùng các biện pháp nguy hiểm (dùng chất nổ, vũ khí nguy hiểm khác tấn công người thi hành công vụ) làm ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng người thi hành công vụ,… vì họ cho rằng giá đất bồi thường, chính sách trước và sau thu hồi đất không tương xứng với thị trường và lợi ích thực tế đất bị thu hồi mang lại. Có thể nói, đây là bất cập lớn đối với việc thực hiện các quy định của pháp luật về thu hồi đất thời gian qua.

Thứ ba, nhận thức pháp luật của cán bộ quản lý đất đai còn yếu kém, một số cán bộ chưa được đào tạo nghiệp vụ, áp dụng đúng với văn bản pháp luật hiện hành; việc tiếp thu ý kiến của người dân bị thu hồi đất chưa được thực hiện nghiêm túc, chưa giải thích được những vướng mắc của người dân.

III. KIẾN NGHỊ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN, KHẮC PHỤC THỰC TRẠNG THU HỒI ĐẤT

Thứ nhấthoàn thiện quy định về thu hồi đất và trình tự thủ tục thu hồi đất để xây dựng khu đô thị.

Thời hạn thông báo thu hồi đất như quy định tại Khoản 1 Điều 67 Luật Đất đai năm 2013 là chưa phù hợp mà nên sửa đổi theo hướng phù hợp với hiện trạng từng địa phương và phải phù hợp với thời kỳ thu hoạch. Mục đích thu hồi, trình tự thu hồi đất để xây dựng khu đô thị và thu hồi vì mục đích quốc phòng, an ninh là khác nhau; vậy nên phương thức và trình tự thủ tục cần thiết phải quy định khác nhau. Quy định này nhằm tránh gây thất thoát, lãng phí quỹ đất và thiệt thòi của người nông dân bị thu hồi đất.

Thứ haihoàn thiện quy định về khung giá đất.

Hoàn thiện cơ chế về định giá đất để xác định chính xác được giá thực tế trên thị trường. Cần cắt giảm bớt các trường hợp cơ quan nhà nước trực tiếp quyết định giá đất, nên khuyến khích sự thỏa thuận giữa các bên. Định giá đất là hoạt động mang tính nghề nghiệp, bởi vậy giao thẩm quyền cho cơ quan hành chính là Ủy ban nhân dân như quy định tại Khoản 1 Điều 144 Luật Đất đai năm 2013 là không hợp lý bởi làm tăng tính độc quyền quyết định đất đai ở địa phương, tăng khả năng tham nhũng trong quản lý đất đai. Pháp luật nên quy định thẩm quyền định giá đất khi Nhà nước thu hồi đất thuộc về một cơ quan, tổ chức độc lập chuyên hoạt động ở lĩnh vực định giá đất.

Thứ bahoàn thiện quy định về chính sách bồi thường, hỗ trợ để đảm bảo ổn định cuộc sống cho người nông dân bị thu hồi đất

Việc bồi thường bằng tiền mặt một lần chỉ giải quyết được quyền lợi trước mắt, có thể coi là xóa đói giảm nghèo ngay cho người nông dân. Nhưng đây không phải là giải pháp tối ưu nếu người nông dân không làm chủ được tài chính, tiêu xài phung phí, thì sẽ không đáp ứng cuộc sống, dẫn đến nghèo đói.

Cần đổi mới và đa dạng hóa các hình thức bồi thường trên cơ sở nâng cao sự đồng thuận. Để tránh sự bất bình đẳng, phần chênh lệch giá đất khi chuyển mục đích sử dụng đất cần được san sẻ cho người dân bị thu hồi đất để đảm bảo quyền lợi cho họ.  Cần thiết phải pháp điển hóa hình thức bồi thường thiệt hại xảy ra thực tế; những thiệt hại về vật chất hay phi vật chất nhưng tính được mức độ thiệt hại như thiệt hại môi trường, sức khỏe, tinh thần của người nông dân bị thu hồi đất.

Thứ tưkhắc phục những khó khăn trong việc xác định nguồn gốc đất dẫn đến sự khó khăn trong việc xác định điều kiện để được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho người dân.

Thứ nămnhanh chóng ổn định cuộc sống và giải quyết việc làm cho người dân bị thu hồi đất.

Nhà nước cần tiến hành nhiều chính sách hỗ trợ chuyển đổi ngành nghề, đào tạo nghề mới, chính sách vay vốn tín dụng, chính sách hỗ trợ sản xuất, hỗ trợ đóng bảo hiểm… cho hộ nông dân nghèo. Nên quan tâm nhiều hơn đến hệ thống đào tạo nghề để đào tạo cho người nông dân bị thu hồi đất; từ trường lớp, đội ngũ giáo viên, lĩnh vực đào tạo cho phù hợp với văn hóa từng địa phương. Mô hình làng nghề truyền thống cũng rất tốt và phù hợp với phong tục tập quán nước ta. Những lao động độ tuổi 50 trở lên khó có khả năng chuyển đổi nghề nghiệp thì nên dành phần đất sát với khu quy hoạch xây dựng khu đô thị để họ có thể xây dựng mô hình kinh doanh, dịch vụ nhỏ lẻ như buôn bán, xây nhà trọ cho thuê…

Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, giữ vai trò rất quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội và sự ổn định đời sống của người dân. Trong quá trình phát triển đất nước theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, việc thu hồi đất để phục vụ cho lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế – xã hội là một quá trình tất yếu, tác động rất lớn đến người bị thu hồi đất. Vì vậy, Nhà nước cần chú trọng hơn vào việc giám sát, thực hiện quá trình thu hồi đất đai với người dân nhằm tránh những sai phạm đáng tiếc, gây bất ổn, mất lòng tin với nhân dân.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Luật Đất đai 2003
  2. Luật Đất đai 2013
  3. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật đất đai, Nxb.CAND, Hà Nội, 2018

Thực trạng thu hồi đất.

Phân tích hậu quả pháp lí của giao dịch dân sự vô hiệu

Phân tích hậu quả pháp lí của giao dịch dân sự vô hiệu. Sưu tầm một bản án của Tòa án xác định giao dịch dân sự vô hiệu và nêu quan điểm cá nhân về hậu quả pháp lí của giao dịch dân sự này được giải quyết trong bản án.

Giao dịch dân sự là một trong những căn cứ quan trọng và phổ biến nhất làm phát sinh quan hệ pháp luật dân sự, là phương tiện phasp lí để các chủ thể trong xã hội thiết lập các quan hệ về tào sản và nhân thân. Kinh tế ngày càng phát triển, giao dịch dân sự ngày càng được mở rộng thì việc xảy ra các tranh chấp liên quan đến nó ngày càng tăng. Đặc biệt hiện nay, vấn đề vi phạm điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự khá phổ biến và phức tạp. Việc tìm hiểu và làm rõ các quan điểm của pháp luật về giao dịch dân sự vô hiệu và các nguyên tắc giải quyết hậu quả pháp lí của giao dịch dân sự vô hiệu là rất cần thiết. Để từ đó, thuận tiện hơn cho việc áp dụng pháp luật cũng như tìm ra những hạn chế khi áp dụng và có hướng hoàn thiện các quan điểm của pháp luật.

I, LÝ LUẬN CHUNG VỀ GIAO DỊCH DÂN SỰ VÔ HIỆU VÀ HẬU QUẢ PHÁP LÝ CỦA GIAO DỊCH DÂN SỰ VÔ HIỆU

1. Khái niệm giao dịch dân sự vô hiệu

1.1 Khái niệm giao dịch dân sự

Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lí đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự (Điều 116 BLDS 2015).

Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận ý chí của hai hay nhiều bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.

Hành vi pháp lý đơn phương là giao dịch trong đó thể hiện ý chí của một bên nhằm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình hoặc của bên kia.

1.2 Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự

Điều 117 BLDS 2015 quy định:

“1. Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;

b) Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;

c) Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

2. Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định.”

1.3 Khái niệm, đặc điểm của giao dịch dân sự vô hiệu

– Điều 112: Giao dịch dân sự vô hiệu

Giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện được quy định tại Điều 117 của Bộ luật này thì vô hiệu, trừ trường hợp Bộ luật này có quy đinh khác.

– Đặc điểm:

+ Giao dịch dân sự vô hiệu có sự vi phạm điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự từ khi giao kết, xác lập giao dịch.

+ Mức độ vi phạm là nghiệm trọng hoặc ít nghiêm trọng.

+ Sự vi phạm có thể do cố ý hoặc vô ý của một trong các bên giao dịch.

+ Các bên tham gia vào giao dịch phải gánh chịu hậu quả pháp lí.

* Phân biệt giao dịch dân sự vô hiệu với giao dịch dân sự không có hiệu lực:

– Có thể hiểu, GDDS vô hiệu là giao dịch không tồn tại theo quy định của pháp luật, không có hiệu lực pháp lý. Còn GDDS không có hiệu lực là GDDS không làm phát sinh bất kỳ một hậu quả pháp lí nào

– Giao dịch dân sự vô hiệu là giao dịch không có hiệu lực tại thời điểm giao kết còn GDDS bị mất hiệu lực là giao dịch có hiệu lực tại thời điểm ký kết nhưng giao dịch bị chấm dứt hiệu lực là do rơi vào tình trạng không thế thực hiện được.

– Về hậu quả pháp lí, nếu GDDS vô hiệu các bên phải khôi phục tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, bên nào có lỗi thì phải bồi thường. Đối với giao dịch bọ chấm dứt hiệu lực, các bên không phải khôi phục lại tình trạng ban đầu mà giữ nguyên hiện trạng hiện tại thời điểm chấm dứt giao dịch.

2. Phân hoại giao dịch dân sự vô hiệu

– Căn cứ theo phạm vi nội dung vô hiệu, GDDS vô hiệu được chia thành 2 loại

+ Giao dịch dân sự vô hiệu toàn bộ: xảy ra khi toàn bộ mục đích, nội dung  của GDDS đó là vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội hoặc một trong các bên tham gia giao dịch đó không có quyền xác lập giao dịch dân sự hoặc vi phạm một thỏa thuận và ảnh hưởng đến hiệu lực của các phần còn lại, dẫn đến toàn bộ giao dịch vô hiệu.

+ Giao dịch dân sự vô hiệu từng phần: là giao dịch mà trong đó chỉ có một phần hoặc một số phần của giao dịch đó bị vô hiệu nhưng không ảnh ưởng đến hiệu lực của các phần còn lại.

– Căn cứ theo tính chất, trình tự bị coi là vô hiệu thì có 2 loại:

+ Giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối: không có hiệu lực pháp lý làm phát sinh quyền và nghĩa vụ các bên, thậm chí ngay cả trong trường hợp khi các bên đã tiến hành thực hiện nội dung cam kết.

+ Giao dịch dân sự vô hiệu tương đối: có hiệu lực pháp lý cho đến khi nào bị tuyên bố vô hiệu. Nó chỉ trở nên vô hiệu khi có đơn yêu cầu của người có quyền và lợi ích liên quan đồng thời cũng có quyết định của Tòa án.

3. Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu

Hậu quả của GDDS vô hiệu phải tuân theo quy định tại Điều 131 BLDS 2015:

“1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập.

2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.

Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả.

3. Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó.

4. Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường.

5. Việc giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu liên quan đến quyền nhân thân do Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định.”

Riêng đối với trường hợp hợp đồng vô hiệu do có đối tượng không thể thực hiện được (Điều 408):

“1. Trường hợp ngay từ khi giao kết, hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được thì hợp đồng này bị vô hiệu.

2. Trường hợp khi giao kết hợp đồng mà một bên biết hoặc phải biết về việc hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được nhưng không thông báo cho bên kia biết nên bên kia đã giao kết hợp đồng thì phải bồi thường thiệt hại cho bên kia, trừ trường hợp bên kia biết hoặc phải biết về việc hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được.

3. Quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này cũng được áp dụng đối với trường hợp hợp đồng có một hoặc nhiều phần đối tượng không thể thực hiện được nhưng phần còn lại của hợp đồng vẫn có hiệu lực.”

Hậu quả pháp lý của GDDS vô hiệu: Không làm phát sinh, thay đỏi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên, kể từ thời điểm xác lập dù giao dịch đó đã được thực hiện hay chưa. Do vậy, việc chiếm hữu, sử dụng tài sản của các bên trong GDDS vô hiệu được coi là chiếm hữu, sử dụng tài sản không có căn cứ pháp luật, cho nên phát sinh nghĩa vụ hoàn trả do chiếm hữu, sử dụng tài sản không có căn cứ pháp luật theo quy định tại các điều từ Điều 579 đến Điều 583 BLDS 2015[1].

Khi một giao dịch dân sự được tuyên bố là vô hiệu thì có thể dẫn đến các vấn đề sau: Hoàn trả về tài sản, vấn đề thiệt hại xảy ra, vấn đề thỏa thuận của các bên khi giao dịch vô hiệu, vấn đề bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người thứ ba ngay tình. Trong việc hoàn trả tài sản, tùy theo từng trường hợp vi phạm cụ thể mà Tòa án có thể buộc các bên gánh chịu hậu quả theo một trong ba phương thức khác nhau: 1, Hoàn trả song phương: các bên đều phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận được từ bên kia; 2, Hoàn trả đơn phương: một bên được hoàn trả lại tài sản giao dịch, còn tài sản giai dịch thuộc bên kia (bên vi phạm) thì bị tịch thu sung công quỹ; 3, Tịch thu toàn bộ: Mọi tài sản giao dịch của cả hai bên vi phạm đều bị tịch thu sung công quỹ[2].

Do tính chất khác nhau của GDDS vô hiệu tương đối và GDDS vô hiệu tuyệt đối nên hậu quả pháp lý cũng khác nhau. Cụ thể:

a, Giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối

– Trường hợp giao dịch dân sự chưa được thực hiện: Do chưa được thực hiện nên cũng chưa phát sinh vấn đề hoàn trả tài sản, hoa lợi, lợi tức. Trong trường hợp giao dịch đã được xác lập mà các bên vẫn chưa thực hiện các quyền và nghĩa vụ thỏa thuận cũng như chưa chuyển giao tài sản cho nhau thì hậu quả pháp lý vật chất không được đặt ra. Tuy nhiên, nếu giao dịch vô hiệu do có lỗi và gây thiệt hại cho bên không có lỗi thì bên có lỗi vẫn phải bồi thường.

– Trường hợp giao dịch dân sự đã, đang thực hiện: Về nguyên tắc, GDDS vô hiệu thì các bên phải khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả lại cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả lại được bằng hiện vật thì phải hoàn trả lại bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức bị tịch thu theo quy định của pháp luật.

b, Giao dịch dân sự vô hiệu tương đối

– Trường hợp giao dịch dân sự chưa thực hiện: Trường hợp này chưa làm phát sinh các hậu quả pháp lý cho các bên tham gia giao dịch, vì vậy vấn đề thiệt hại xảy ra, yêu cầu công nhân thỏa thuận các bên và bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình là không phát sinh trong trường hợp này.

– Trường hợp giao dịch dân sự đã, đang thực hiện: bên có lỗi làm cho giao dịch bị vô hiệu phải bồi thường cho bên bị thiệt hại hoặc người thứ ba bị thiệt hại. Nếu các bên đều có lỗi thì căn cứ vào mức độ lỗi để xác định trách nhiệm bồi thường tương ứng. Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường do pháp luật quy định hoặc các bên có thỏa thuận trước về hậu quả, như: phạt, phạt cọc khi một bên có lỗi và phải chịu thiệt hại tương ứng với lỗi của họ gây ra. Đối với giao dịch vô hiệu tương đối là loại giao dịch có khả năng khắc phục, được coi là một laoij giao dịch dân sự có thể có hiệu lực nhưng cũng có thể bị vô hiệu theo sự lựa chọn của một trong các bên tham gia giao dịch. Giao dịch này thông thường không xâm phạm trật tự công cộng và đạo đức xã hội và chỉ có thể bị vô hiệu đối với bên có lỗi mà không bị vô hiệu đối với bên không có lỗi. Khi xác nhận giao dịch dân sự vô hiệu thì các quyền và nghĩa vụ của các bên đã thỏa thuận đều không có giá trị pháp lý.

II, BẢN ÁN CỦA TÒA ÁN XÁC ĐỊNH GIAO DỊCH DÂN SỰ VÔ HIỆU TRÊN THỰC TIỄN VÀ HẬU QUẢ PHÁP LÝ CỦA GIAO DỊCH ĐÓ

Từ những lý luận phân tích như trên cho thấy việc vi phạm trong giao kết hợp đồng dẫn đến giao dịch dân sự bị vô hiệu xảy ra nhiều trường hợp. Để làm rõ những trường hợp này có rất nhiều tình huống có thể làm rõ. Tuy nhiên, do hạn chế về số trang của tiểu luận nên em xin lấy ví dụ về một vụ án điển hình đó là Bản án 21/2017/DS-ST ngày 21/08/2017 về tranh chấp giao dịch về cầm cố quyền sử dụng đất.

1. Tóm tắt bản án

– Nguyên đơn: Anh Lê Văn H, sinh năm 1971. Địa chỉ: ấp 3BA, xã N, Huyện A, Tỉnh K. Có mặt

– Bị đơn: Ông Lê Văn S, sinh năm 1942; Bà Nguyễn Thị Ơ, sinh năm 1945

Cùng địa chỉ: Tổ 6, ấp 5 B, xã N, Huyện A, Tỉnh K. Có mặt

– Người làm chứng: Anh Lê Thanh T, sinh năm 1982. Địa chỉ: Ấp 5 B, xã N, Huyện A, Tỉnh K. Có mặt

– Nội dung vụ án: Ngày 29/02/2002, anh H có nhận cầm cố quyền sử dụng đất của vợ chồng ông Lê Văn S, bà Nguyễn  Thị  Ơ với diện tích là 05  công đất  ruộng tầm 3m (tương đương 6.480m2, tọa lạc tại ấp 5 B, xã N, Huyện A, Tỉnh K với số vàng cố đất là 20 chỉ vàng 24kr (vàng 9999). Khi cố hai bên có làm giấy tay với nhau và thỏa thuận thời hạn cố từ ngày 29/02/2002 đến ngày 29/02/2004, nếu đến hạn vợ chồng ông Sứ, bà Ơ không chuộc đất thì anh tiếp tục sử dụng. Anh H đã giao vàng cho vợ chồng ông Sứ, bà Ơ xong và nhận 05 công đất canh tác. Do phần đất này năm trong chu vi đất của ông Sứ, bà Ơ nên khi nhà nước quy hoạch nuôi tôm anh không trồng lúa được nên đã cho con ông Sứ là anh Tùng thuê đến 2016. Sau khi hết hợp đồng anh Tùng không thuê nữa mà đã giao trả lại phần đất này cho ông Sứ, bà Ơ sử dụng. Hiện nay ông Sứ bà Ơ đã nhận lại đất cầm cố cho anh rồi nhưng chưa trả vàng cố đất cho anh. Vì vậy, anh H yêu cầu hủy hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất giữa anh với vợ chồng ông Sứ, bà Ơ ngày 29/02/2002 và yêu cầu ông Sứ, bà Ơ trả lại cho anh 20 chỉ vàng 24kr (vàng 9999).

Nội dung giải quyết vụ án: tại bản án số 21/2017/DSST ngày 21/08/2017, Tòa án nhân dân huyện A tỉnh K đã xử:

+ Căn cứ pháp lý: Căn cứ vào Điều 35, Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân năm 2015; Điều 179 Luật đất đai năm 2013; Điều 123, 131 Bộ luật Dân sự 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

+ Nội dung:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Lê Văn H.
  2.  Tuyên bố giao dịch cầm cố quyền sử dụng đất giữa ông Lê Văn S, bà Nguyễn Thị Ơ và anh Lê Văn H xác lập ngày 29/02/2002 là vô hiệu.
  3. Buộc ông Lê Văn S, bà Nguyễn Thị Ơ có nghĩa vụ trả cho anh Lê Văn H 20 (Hai mươi) chỉ vàng 24kr (vàng 9999).
  4. Ghi nhận anh Lê Văn H đã giao và vợ chồng ông Lê Văn S, bà Nguyễn Thị Ơ đã nhận xong 05 công đất cầm cố cho anh Lê Văn H.
  5. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Buộc ông Lê Văn S, bà Nguyễn Thị Ơ nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng).

Hoàn trả cho anh Lê Văn H số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0007910 ngày 16/6/2017 của Chi cục thi hành án dân sự Huyện A.

  • Quyền kháng cáo: Án xử công khai, các đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

2. Hậu quả pháp lý của bản án

– Vấn đề pháp lí của bản án “ Tranh chấp giao dịch cầm cố quyền sử dụng đất”.

– Giao dịch dân sự trong bản án được xác định là giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối đã được thực hiện.

– Hậu quả pháp lý của bản án:

+ Ông Lê Văn S, bà Nguyễn Thị Ơ có nghĩa vụ hoàn trả số vàng cố đất lại cho anh Lê Văn H là 20 chỉ vàng 24kr (vàng 9999). Đối với phần đất cầm cố hiện nay anh Lê Văn H đã giao trả lại cho ông Lê Văn S, bà Nguyễn Thị Ơ xong nên Hội đồng xét xử ghi nhận và miễn xét.

+ Xét yêu cầu của ông Lê Văn S, bà Nguyễn Thị Ơ yêu cầu mỗi năm trả cho anh Lê Văn H 04 chỉ vàng đến khi trả đủ 20 chỉ là không có cơ sở chấp nhận.

3. Quan điểm của cá nhân về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự được giải quyết trong bản án

* Hậu quả pháp lý phát sinh:

Với nội dung vụ án nêu trên, bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh K đã áp dụng Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 179 Luật Đất đai; Điều 123 Bộ luật dân sự 2015 ra quyết định tuyên bố giao dịch cầm cố quyền sử dụng đất giữa ông Lê Văn S, bà Nguyễn Thị Ơ và anh Lê Văn H xác lập ngày 29/02/2002 là vô hiệu.

Pháp luật cho phép các chủ thể được tự do xác lập về thực hiện giao dịch dân sự. Tuy nhiên “tự do thực hiện giao dịch dân sự” chỉ được thừa nhận ở một mức độ hợp lý nếu giao dịch đó không trái pháp luật và trái đạo đức. Xét thấy, quyết định này của Tòa án nhân dân huyện A là hoàn toàn phù hợp và đúng theo pháp luật. Bởi, theo quy định tại Điều 179 của Luật Đất đai hiện hành quy định về quyền của người sử dụng đất thì không quy định người sử dụng đất được phép cầm cố quyền sử dụng đất. Như vậy, việc thỏa thuận cầm cố quyền sử dụng đất giữa ông Lê Văn S, bà Nguyễn Thị Ơ với anh Lê Văn H là vi phạm pháp luật nên bị vô hiệu theo quy định tại Điều 123 Bộ luật dân sự 2015: “Điều cấm của pháp luật là những quy định của pháp luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định”.

Khi tìm hiểu nguyên nhân của giao dịch dân sự vô hiệu, áp dụng vào trường hợp cụ thể này thì chúng ta có thể thấy một bộ phận không nhỏ trong xã hội thiếu kiến thức pháp luật, không hiểu biết về quyền và nghĩa vụ của chính mình nên mới dẫn đến tranh chấp. Khi Tòa án giải quyết theo đúng pháp luật thì ít nhiều cũng ảnh hưởng không nhỏ đến phần tài sản giao dịch vì các bên trả lại cho nhau những gì đã nhận mà giao dịch đó diễn ra trước khi Tòa xử cũng là 15 năm. Do đó, hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu sẽ dẫn đến những hệ lụy không thể tránh khỏi, đây là hậu quả khi các bên không tìm hiểu pháp luật, thực hiện giao dịch dân sự dựa trên ý chí và nguyện vọng của mình.

– Theo quyết định đó, hậu quả pháp lý của bản án cũng phù hợp, đúng theo tinh thần pháp luật. Vì, theo quy định tại Điều 131 Bộ luật dân sự 2015, “1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập; 2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận”. Do đó, ông Lê Văn S, bà Nguyễn Thị Ơ có nghĩa vụ hoàn trả số vàng cố đất lại cho anh Lê Văn H là 20 chỉ vàng 24kr (vàng 9999) là hợp lý. Và đối với phần đất là 05 công đất tầm 3m khi anh H giao dịch với vợ chồng ông S, bà Ơ ngày 29/2/2002 thì hiện nay ông S, bà Ơ đã nhận lại nên Tòa không xét đến.

Theo chi tiết vụ việc trên, cá nhân em nhận thấy rằng, hậu quả pháp lý của bản án đã đúng theo quy định của pháp luật, đảm bảo cho việc thiết lập giao dịch được pháp luật bảo vệ, quyền và nghĩa vụ của các bên được cân bằng. Trong vụ án này, do phần đất giao dịch giữa anh H với vợ chồng ông S bà Ơ nằm trong chu vi đất của ông Sứ, bà Ơ nên khi nhà nước quy hoạch nuôi tôm anh không trồng lúa được nên đã cho con ông Sứ là anh Tùng thuê đến 2016. Sau khi hết hợp đồng anh Tùng không thuê nữa mà đã giao trả lại phần đất này cho ông Sứ, bà Ơ sử dụng. Tức là, tài sản là đối tượng của giao dịch vẫn giữ nguyên, có tác động nhưng không ảnh hưởng đến lợi ích của hai bên, và ông S, bà Ơ cũng không có ý kiến gì về việc trả hoa lợi ,lợi tức nên phần đất này sẽ không phải trị giá bằng tiền mà trả bằng hiện vật, ông S, bà Ơ cũng sẽ có nghĩa vụ trả lại anh H 20 chỉ vàng 24kr (vàng 9999).

– Xét yêu cầu của ông Lê Văn S, bà Nguyễn Thị Ơ yêu cầu mỗi năm trả cho anh Lê Văn H 04 chỉ vàng đến khi trả đủ 20 Tòa tuyên án là không có cơ sở chấp nhận. Bởi theo khoản 2 Điều 131 Bộ luật dân sự 2015 quy định: “ Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận ”. Việc ông bà nhận của anh H 20 chỉ vàng 24kr thì phải có nghĩa vụ trả anh H 20 chỉ vàng 24kr. Trong trường hợp anh H đồng ý cho ông bà trả mỗi năm 04 chỉ vàng thì Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự. Tuy nhiên, anh H không đồng ý cho ông bà trả dần mỗi năm 04 chỉ vàng nên Hội đồng xét xử căn cứ vào quy định pháp luật buộc ông bà có nghĩa vụ trả cho anh H 20 chỉ vàng 24kr. Từ các nhận định nêu trên, sau khi thảo luận Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Văn H, buộc ông Lê Văn S, bà Nguyễn Thị Ơ có nghĩa vụ trả cho Lê Văn H 20 chỉ vàng 24kr (vàng 9999).

Đối với quyết định về hậu quả pháp lý này, cá nhân em cho rằng chưa đảm bảo lợi ích của các bên tham gia giao dịch. Vì sở dĩ giao dịch dân sự này bị vô hiệu là do lỗi của cả hai bên, theo nguyên tắc khi giao dịch dân sự bị vô hiệu thì các bên trả lại cho nhau những gì đã nhận. Khi xác lập giao dịch, ông S bà Ơ có nhận của anh H 20 chỉ vàng 24kr (vàng 9999). Theo như em tìm hiểu giá vàng này tại thời điểm ngày 29/2/2002 là 2,950 triệu đồng/1 chỉ và tính đến thời điểm giao dịch dân sự bị tuyên là vô hiệu là ngày 21/8/2017 giá vàng là 3,520 triệu đồng/1 chỉ. Như vậy, ta có thể dễ dàng nhận thấy giá vàng tại hai thời điểm khác nhau rất lớn. Nếu như phía ông S, bà Ơ đã sử dụng số vàng này rồi thì khả năng trả 20 chỉ vàng cùng một lúc là khó thực hiện, chưa kể ông S, bà Ơ đã tuổi cao, không lao động được nhiều, nên cá nhân em nhận thức được rằng Tòa án cần phải cân nhắc thêm, chấp nhận yêu cầu của ông S, bà Ơ mỗi năm trả 4 chỉ vàng cho đến khi trả xong. Điều này vẫn tuân thủ những quy định của pháp luật mà còn hợp lý, đảm bảo lợi ích của cả hai bên khi giao dịch dân sự bị tuyên bố vô hiệu.

* Hậu quả phải bồi thường thiệt hại:

– Trong vụ án này, mức độ thiệt hại của các bên tham gia giao dịch là không được nhắc đến vì trên thực tế phần thiệt hại là không đáng kể hoặc không có. Hơn nữa, yếu tố lỗi trong vụ án này thuộc về cả hai bên tham gia giao dịch. Ông S, bà Ơ có lỗi đã không hiểu biết pháp luật hoặc do lỗ hổng của pháp luật làm cho học không hiểu hoặc hiểu sai, họ đã đem phần đất tương ứng là 05 công đất tầm 3m của mình đi cầm cố; nhưng anh H cũng có lỗi không tìm hiểu trước khi tiến hành giao dịch để cuối cùng không thỏa thuận được dẫn đến tranh chấp. Do vậy, không có ai phải bồi thường thiệt hại.

* Hậu quả pháp lý phát sinh đối với người thứ ba ngay tình:

– Theo nguyên tắc, khi giao dịch dân sự vô hiệu thì ngoài việc đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia giao dịch thì còn phải đảm bảo lợi ích xã hội, lợi ích công cộng và các chủ thể khác. Tuy nhiên, trong vụ án này chỉ có hai bên trực tiếp tham gia giao dịch và người có quyền và nghĩa vụ liên quan là anh Tùng con ông S, không tồn tại người thứ ba ngay tình nên hậu quả này cũng không được xét đến.

III, THỰC TRẠNG – PHƯƠNG HƯỚNG ÁP DỤNG LUẬT ĐỂ TUYÊN BỐ  GIAO DỊCH DÂN SỰ VÔ HIỆU, HẬU QUẢ PHÁP LÝ CỦA VIỆC TUYÊN BỐ GIAO DỊCH DÂN SỰ VÔ HIỆU

1. Thực trạng

Hiện nay ở nước ta hàng năm có số lượng án giao dịch dân sự chiếm tỷ lệ khá lớn so với các án dân sự và hôn nhân gia đình, khoảng 70% – 80%, số lượng án giao dịch dân sự vô hiệu chiếm khoảng 15% – 20%, số lượng án giải quyết ở cấp sơ thẩm bị cấp phúc thẩm cải sửa còn cao hơn 50%. Với những con số ấy ta có thể thấy thực trạng sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật ở nước ta còn nhiều hạn chế. Thông thường, các bên khi tham gia giao dịch không nắm được những quy định của pháp luật mà thực hiện giao dịch chủ yếu dưới dạng tự phát, dẫn đến nhiều giao kết vô hiệu ngay tại thời điểm ký kết mà các bên không biết, vẫn thực hiện khi có tranh chấp mới yêu cầu hủy.

Khi giải quyết các vụ việc đã thực hiện rồi thì các thẩm phán thường lúng túng, phải cân nhắc có nên hủy hay không, nếu hủy giao dịch dân sự vô hiệu thì phù hợp với pháp luật nhưng không phù hợp với thực tiễn và ngược lại, thậm chí còn có trường hợp tuyên bố hủy nhưng vẫn công nhận. Mặt khác, diễn biến của giao dịch dân sự vô hiệu phức tạp do sự biến đổi về giá cả thị trường, có khi tài sản bị chênh lệch giá cả giữa lúc xác lập giao dịch và lúc giải quyết gấp 4,5 lần… Trong khi đó, đường lối giải quyết hậu quả của các giao dịch dân sự vô hiệu lại không nhất quán giữa các thành viên trong hội đồng xét xử, không mang lại sự công bằng cho các đương sự. Chính vì lẽ đó, nhiều khi đương sự lợi dụng sơ hở của pháp luật đã thất hứa, yêu cầu hủy giao dịch nhằm chuộc lợi cho mình. Hiện nay còn tồn tại tình trạng giải quyết một vụ án nhiều lần, nhiều cấp xét xử nhưng vẫn chưa đưa ra được quyết định phù hợp, các đương sự vẫn tiếp tục khiếu nại căng thẳng.

Vấn đề có liên quan đến hậu quả pháp lý của việc tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu:

+ Về hậu quả các bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận: trên thực tế việc hoàn trả này không thật sự đảm bảo lợi ích của các chủ thể đặc biệt là trong các giao dịch có đối tượng là nhà, quyền sử dụng đất. Khi các giao dịch có đối tượng như trên bị vô hiệu, bên mua sẽ trả lại nhà, đất cho bên bán còn bên bán sẽ trả tiền cho bên mua. Một điều dễ nhận ra trong việc hoàn trả này đó chính là sự chênh lệch về số lượng tài sản. Lúc này tài sản hai bên thường không có giá trị ngang nhau như lúc kí kết giao dịch nữa. Việc này dẫn đến sự mất cân bằng về mặt lợi ích.

+ Sau một thời gian sau khi giao dịch dân sự được thiết lập, thường thì các đối tượng của giao dịch đã bị sửa đổi, cải tạo, không còn nguyên vẹn. Trong những trường hợp như thế này mà giao dịch dân sự bị vô hiệu sẽ rất khó xử lý trong việc hoàn trả tài sản. Về vấn đề này pháp luật cũng chưa quy định rõ.

+ Về hậu quả hoàn trả lại tiền nếu không hoàn trả lại bằng hiện vật: hiện nay pháp luật cũng chưa quy định về việc hoàn trả bằng tiền được tính theo giá trị của tài sản tại thời điểm hoàn trả hay tính theo giá trị của tài sản tại thời điểm các bên xác lập giao dịch. Vấn đề này rất quan trọng trong việc đảm bảo lợi ích các bên, đặc biệt là đối với các giao dịch có đối tượng thường xuyên thay đổi về giá cả.

2. Một số góp ý về giải pháp

– Trước tiên, vấn đề quan trọng nhất đó là giáo dục cho mọi người dân biết rõ hơn các quy định của pháp luật nói chung và pháp luật dân sự về vấn đề giao dịch dân sự nói riêng. Bởi lẽ có làm được điều này thì chúng ta sẽ hạn chế được một số lượng đáng kể các vụ việc tranh chấp về giao dịch dân sự vô hiệu.

– Những người cầm cán cân công lý cũng cần phải bồi dưỡng nâng cao trình độ không chỉ trên lý thuyết mà còn phải dực vào thực tế và những người trong nội bộ hội đồng xét xử không chỉ các vụ án về giao dịch dân sự mà các vụ án khác cũng cần có tiếng nói chung. Tránh tình trạng mỗi người một quan điểm, mỗi cấp một quan điểm như vậy sẽ làm cho nhân dân mất lòng tin, có thể còn dẫn đến tình trạng một số đối tượng lợi dụng sự bất đồng quan điểm đó nhằm chuộc lợi cho bản thân

– Ngoài ra, các cấp chính quyền cũng cần xiết chặt hơn nữa công tác quản lý về các mặt của đời sống xã hội của nhân dân để hạn chế phần nào các vi phạm pháp luật nói chung và vi phạm các hợp đồng dân sự nói riêng.

– Từ thực tiễn xét xử tại các Tòa án về xử lý hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu, có thể thấy, hợp đồng dân sự bị tuyên bố vô hiệu thường thuộc hai dạng sau:

Thứ nhất, hợp đồng bị tuyên bố là vô hiệu vì bản thân hợp đồng không đem lại lợi ích cho ít nhất một bên chủ thể như mong muốn của họ. Ví dụ như: hợp đồng vô hiệu do một bên bị lừa dối, bị nhầm lẫn, bị đe dọa.

Thứ hai, hợp đồng bị tuyên bố vô hiệu bởi một lý do, nhưng lý do này không làm ảnh hưởng đến lợi ích mà các bên mong muốn. Ví dụ như: hợp đồng vô hiệu do vi phạm hình thức của hợp đồng hoặc hợp đồng vô hiệu do một bên chủ thể không có đăng ký kinh doanh theo quy định của Luật Thương mại.

Có thể nhận thấy, đối với dạng hợp đồng vô hiệu thứ nhất thì việc xử lý hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu là các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận… sẽ đem lại sự công bằng cho bên có lợi ích nhưng không đạt được. Nhưng đối với dạng hợp đồng vô hiệu thứ hai, thì khi giao kết và thực hiện hợp đồng, các bên đều đã đạt được mong muốn của mình, do đó, việc áp dụng một cách cứng nhắc quy định “khôi phục tình trạng ban đầu”, “hoàn trả cho nhau những gì đã nhận”… rõ ràng là không cần thiết. Hợp đồng này không làm ảnh hưởng đến lợi ích của các bên, lợi ích của người thứ ba hay của cộng đồng. 

Sự chấp nhận này sẽ hạn chế được tình trạng tuyên bố hợp đồng vô hiệu tràn lan do một bên chủ thể lợi dụng quy định của pháp luật để “bội ước” hợp đồng hay sự lúng túng của Tòa án trong việc xét xử hợp đồng vô hiệu do vi phạm về hình thức hoặc không thỏa mãn điều kiện đăng ký kinh doanh. Và các quy định về hậu quả pháp lý đối với các hợp đồng trên cũng phải được sửa đổi, bổ sung.[3]

Với những quan điểm pháp luật đầy đủ, rõ ràng phù hợp với quy luật phát triển của kinh tế thị trường sẽ góp phần tạo môi trường kinh tế – xã hội thuận lợi, lành mạnh, đem lại lợi ích không nhỏ cho các chủ thể và sự phát triển kinh tế đất nước. Đặc biệt hơn nữa, với vị trí và tầm quan trọng của Bộ luật dân sự thì những quy định về GDDS hoặc các luật chuyên ngành điều chỉnh như Luật thương mại, Luật đất đai, Luật nhà ở,.. Nếu không có những quy định cụ thể, rành mạch sẽ làm cho các chủ thể hoang mang, thậm chí là mang tâm lý bắt buộc khi tham gia GDDS, gây ra những hậu quả khó lường. Vì vậy, cần xây dựng và hoàn thiện các quy định pháp luật về GDDS vô hiệu, phù hợp với thực tiễn, tạo môi trường giao dịch thuận lợi để các cơ quan nhà nước nói chung, cơ quan tư pháp nói riêng hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ mà Nhà nước giao.

PHỤ LỤC

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A TỈNH K

BẢN ÁN 21/2017/DS-ST NGÀY 21/08/2017 VỀ TRANH CHẤP GIAO DỊCH VÀ CẦM CỐ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

Ngày 21 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành Huyện  A,  Tỉnh  K  xét  xử  sơ  thẩm  công  khai  vụ  án  thụ  lý  số: 111/2017/TLST-DS ngày 22 tháng 6 năm 2017, về việc “Tranh chấp giao dịch dân sự cầm cố quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2017/QĐXXST-DS ngày 04 tháng 8 năm 2017, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Lê Văn H, sinh năm 1971. Địa chỉ: ấp 3BA, xã N, Huyện A, Tỉnh K. Có mặt

2. Bị đơn: Ông Lê Văn S, sinh năm 1942

Bà Nguyễn Thị Ơ, sinh năm 1945

Cùng địa chỉ: Tổ 6, ấp 5 B, xã N, Huyện A, Tỉnh K. Có mặt

3. Người làm chứng: Anh Lê Thanh T, sinh năm 1982. Địa chỉ: Ấp 5 B, xã N, Huyện A, Tỉnh K. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 10/4/2017 và các lờ khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Lê Văn H trình bày: Nguyên vào ngày 29/02/2002, anh có nhận cầm cố quyền sử dụng đất của vợ chồng ông Lê Văn S, bà Nguyễn  Thị  Ơ với diện tích là 05  công đất  ruộng tầm 3m (tương đương 6.480m2, tọa lạc tại ấp 5 B, xã N, Huyện A, Tỉnh K với số vàng cố đất là 20 chỉ vàng 24kr (vàng 9999). Khi cố hai bên có làm giấy tay với nhau và thỏa thuận thời hạn cố từ ngày 29/02/2002 đến ngày 29/02/2004, nếu đến hạn vợ chồng ông Sứ, bà Ơ không chuộc đất thì anh tiếp tục sử dụng. Anh đã giao vàng cho vợ chồng ông Sứ, bà Ơ xong và nhận 05 công đất canh tác. Do phần đất này năm trong chu vi đất của ông Sứ, bà Ơ nên khi nhà nước quy hoạch nuôi tôm anh không trồng lúa được nên đã cho con ông Sứ là anh Tùng thuê đến 2016. Sau khi hết hợp đồng anh Tùng không thuê nữa mà đã giao trả lại phần đất này cho ông Sứ, bà Ơ sử dụng. Hiện nay ông Sứ bà Ơ đã nhận lại đất cầm cố cho anh rồi nhưng chưa trả vàng cố đất cho anh.

Nay anh H yêu cầu hủy hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất giữa anh với vợ chồng ông Sứ, bà Ơ ngày 29/02/2002 và yêu cầu ông Sứ, bà Ơ trả lại cho anh 20 chỉ vàng 24kr (vàng 9999).

Bị đơn, ông Lê Văn S trình bày: Ông thống nhất là vào năm 2002, vợ chồng ông có cố cho anh Lê Văn H 05 công đất ruộng tầm 3m, tọa lạc tại ấp 5 B, xã N, Huyện A, Tỉnh K với số vàng là 20 chỉ vàng 24kr (vàng 9999), phần đất này nằm trong chu vi diện tích đất 30 của ông, khi cố hai bên thỏa thuận khi nào vợ chồng ông có vàng thì chuộc lại đất, nếu không chuộc thì anh H cứ canh tác. Sau khi Nhà nước quy hoạch nuôi tôm thì anh H cho con trai ông tên là Tùng thuê lại mỗi công 800.000đ/năm,  từ  2013  đến  năm  2016  anh  H  cho  Tùng  thuê  với  số  tiền 10.000.000đ/diện tích 05 công. Sau khi hết hợp đồng thì anh Tùng không thuê nữa và anh H cũng không canh tác nên vợ chồng ông đã nhận lại phần đất này rồi. Vì đất này nằm trong chu vi đất của ông chưa có bờ bao riêng.

Nay ông yêu cầu mỗi năm trả cho anh H 04 chỉ vàng 24kr đến khi trả đủ 20 chỉ vàng 24kr. Vì trả một lần 20 chỉ ông không có khả năng.

Bị đơn, bà Nguyễn Thị Ơ trình bày: Bà thống nhất với lời trình bày và yêu cầu của chồng bà là ông Lê Văn S.

Người làm chứng, anh Lê Thanh T trình bày: Trước đây anh có thuê 05 công đất của anh H, giá thuê mỗi công là 800.000đ/năm, từ  năm 2013 anh thuê đến năm 2016, thời hạn thuê là 03 năm với giá 10.000.000đ/05 công đất. Sau khi hết hợp đồng anh không thuê nữa và phần đất này hiện nay cha mẹ anh là ông Sứ, bà Ơ đang quản lý.

Nay anh có ý kiến là yêu cầu anh H cho cha mẹ anh chuộc lại mỗi năm là 04 chỉ vàng, chuộc lại một lần 20 chỉ là cha mẹ anh không có khả năng.

Tài liệu, chứng cứ do các bên đương sự cung cấp gồm: Tờ cố đất ngày 29/02/2002, hợp đồng cho thuê đất, biên bản hòa giải của ban lãnh đạo ấp 5 B ngày 08/4/2017.

Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay: Các đương sự giữ nguyên ý kiến, yêu cầu khởi kiện như đã trình bày trên.

Phần các đương sự thống nhất nhau:

– Phần diện tích 05 công đất cố vợ chồng ông Sứ, bà Ơ đã nhận lại rồi.

– Ông Sứ, bà Ơ còn nợ anh H số vàng cố đất là 20 chỉ vàng 24kr (vàng 9999).

Phần không thỏa thuận được:

– Anh Lê Văn H yêu cầu ông Sứ, bà Ơ trả cho anh số vàng cố đất là 20 chỉ vàng 24kr, trả đủ một lần.

– Ông Sứ, bà Ơ yêu cầu mỗi năm trả 04 chỉ vàng 24kr cho anh H đến khi dứt nợ.

Tại phiên tòa kiểm sát viên phát biểu:

Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong thời gian chuẩn bị xét xử:

Thẩm phán đã thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng mối quan hệ pháp luật tranh chấp, tổ chức hòa giải, thu thập chứng cứ đúng theo trình tự Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, Thẩm phán chuyển hồ sơ cho việc kiểm sát nghiên cứu chưa đúng quy định tại Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự và sắp xếp hồ sơ chưa đúng quy định tại Điều 204 Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: Hội đồng xét xử tiến hành phiên tòa sơ thẩm đúng theo trình tự Bộ luật tố tụng dân sự. Thư ký ghi biên bản phiên tòa đúng chức năng, nhiệm vụ của mình.

Đối với đương sự tham gia giải quyết vụ án đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Căn cứ vào hồ sơ vụ án, các chứng cứ đương sự cung cấp, lời khai của các đương sự. Thấy rằng yêu cầu của nguyên đơn anh Lê Văn H là có cơ sở chấp nhận. Bởi vì, theo luật đất đai hiện hành không quy định người sử dụng đất được phép cầm cố. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều 123, 131 Bộ luật dân sự 2015 để tuyên bố giao dịch cầm cố quyền sử dụng đất giữa anh H với ông Sứ, bà Ơ là vô hiệu và buộc ông Sứ, bà Ơ trả lại cho ông H 20 chỉ vàng 24kr (vàng 9999).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do các đương sự cung cấp, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn anh Lê Văn H khởi kiện bị đơn vợ chồng ông Lê Văn S, bà Nguyễn Thị Ơ có nơi cư trú trên địa bàn Huyện A nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Huyện A theo quy định tại Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn anh Lê Văn H yêu cầu hủy hợp đồng cầm cố giữa anh với vợ chồng ông Lê Văn S, bà Nguyễn Thị Ơ nên quan hệ pháp luật được xác định trong vụ án là “Tranh chấp giao dịch cầm cố quyền sử dụng đất”.

[3] Về nội dung vụ án: Anh Lê Văn H và vợ chồng ông Lê Văn S, bà Nguyễn Thị Ơ thống nhất là vào ngày 29 tháng 02 năm 2002, ông Sứ, bà Ơ có cố cho anh H 05 công đất tầm 3m với số vàng là 20 chỉ vàng 24kr (vàng 9999). Hiện nay phần đất cố ông Sứ, bà Ơ đã nhận lại rồi nhưng chưa trả lại vàng cố đất cho anh H.

Hội đồng xét xử, xét thấy anh H yêu cầu Tòa án hủy hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất giữa anh với ông Sứ, bà Ơ và yêu cầu ông Sứ, bà Ơ trả lại cho anh 20 chỉ vàng 24kr là có cơ sở chấp nhận. Bởi, theo quy định tại Điều 179 của Luật Đất đai hiện hành quy định về quyền của người sử dụng đất thì không quy định người sử dụng đất được phép cầm cố quyền sử dụng đất. Do đó, việc thỏa thuận cầm cố quyền sử dụng đất giữa ông Lê Văn S, bà Nguyễn Thị Ơ với anh Lê Văn H là vi phạm pháp luật nên bị vô hiệu theo quy định tại Điều 123 Bộ luật dân sự 2015.

Điều 123 Bộ luật dân sự 2015, có quy định: Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội.

“Điều cấm của pháp luật là những quy định của pháp luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định”.

Theo quy định tại Điều 131 Bộ luật dân sự 2015, có quy định về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự bị vô hiệu như sau:

1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập.

2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.

Như vậy, giao dịch cầm cố quyền sử dụng đất giữa ông Lê Văn S, bà Nguyễn Thị Ơ và anh Lê Văn H xác lập ngày 29/02/2002 là vô hiệu. Do đó, ông Lê Văn S, bà Nguyễn Thị Ơ có nghĩa vụ hoàn trả số vàng cố đất lại cho anh Lê Văn H là 20 chỉ vàng 24kr (vàng 9999) là phù hợp. Đối với phần đất cầm cố hiện nay anh Lê Văn H đã giao trả lại cho ông Lê Văn S, bà Nguyễn Thị Ơ xong nên Hội đồng xét xử ghi nhận và miễn xét.

Xét yêu cầu của ông Lê Văn S, bà Nguyễn Thị Ơ yêu cầu mỗi năm trả cho anh Lê Văn H 04 chỉ vàng đến khi trả đủ 20 chỉ là không có cơ sở chấp nhận. Bởi theo khoản 2 Điều 131 Bộ luật dân sự 2015 quy định: “ Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận ”. Việc ông bà nhận của anh H 20 chỉ vàng 24kr thì phải có nghĩa vụ trả anh H 20 chỉ vàng 24kr. Trong trường hợp anh H đồng ý cho ông bà trả mỗi năm 04 chỉ vàng thì Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự. Tuy nhiên, anh H không đồng ý cho ông bà trả dần mỗi năm 04 chỉ vàng nên Hội đồng xét xử căn cứ vào quy định pháp luật buộc ông bà có nghĩa vụ trả cho anh H 20 chỉ vàng 24kr, khi nào Bản án có hiệu lực pháp luật thì các bên căn cứ Bản án để yêu cầu thi hành án theo Luật thi hành án dân sự.

Từ các nhận định nêu trên, sau khi thảo luận Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Văn H, buộc ông Lê Văn S, bà Nguyễn Thị Ơ có nghĩa vụ trả cho Lê Văn H 20 chỉ vàng 24kr (vàng 9999).

[4] Về án phí DSST:

Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Án phí dân sự sơ thẩm 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).

Yêu cầu của anh Lê Văn H được chấp nhận nên không phải chịu án phí. Hoàn trả lại cho anh Lê Văn H số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Buộc ông Lê Văn S, bà Nguyễn Thị Ơ nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng). Xét thấy, kiểm sát viên phát biểu về việc vi phạm của Thẩm phán về thời hạn chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu và sắp xếp hồ sơ chưa đúng trình tự là phù hợp. Thẩm phán ghi nhận và rút kinh nghiệm khắc phục cho các vụ án khác. Xét thấy về nội dung Kiểm sát viên đề nghị là có cơ sở chấp nhận như Hội đồng xét xử phân tích ở phần trên.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 35, Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân năm 2015; Điều 179 Luật đất đai năm 2013; Điều 123, 131 Bộ luật Dân sự 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Lê Văn H.

2. Tuyên bố giao dịch cầm cố quyền sử dụng đất giữa ông Lê Văn S, bà Nguyễn Thị Ơ và anh Lê Văn H xác lập ngày 29/02/2002 là vô hiệu.

3. Buộc ông Lê Văn S, bà Nguyễn Thị Ơ có nghĩa vụ trả cho anh Lê Văn H 20 (Hai mươi) chỉ vàng 24kr (vàng 9999).

4. Ghi nhận anh Lê Văn H đã giao và vợ chồng ông Lê Văn S, bà Nguyễn Thị Ơ đã nhận xong 05 công đất cầm cố cho anh Lê Văn H.

5. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Buộc ông Lê Văn S, bà Nguyễn Thị Ơ nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng).

Hoàn trả cho anh Lê Văn H số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0007910 ngày 16/6/2017 của Chi cục thi hành án dân sự Huyện A.

6. Quyền kháng cáo:

Án xử công khai, các đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành thoequy định Điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân  sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo Điều 6,7,9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được quy định theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự 

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Trường đại học luật Hà Nội Giáo trình “ Luật dân sự Việt Nam – tập I”, Nxb Công an nhân dân, 2018.
  2. Bộ luật dân sự 2015( có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2017), Nxb Lao động
  3. Luật đất đai 2013 ( có hiệu lực thi hành  ngày 1 tháng 7 năm 2014)
  4. Luật Tố tụng dân sự 2015
  5. Trịnh Thị Hòa, Luận văn thạc sĩ “ Giao dịch dân sự vô hiệu và hậu quả pháp lí của giao dịch dân sự vô hiệu”, 2017

[1] Nguyễn Minh Tuấn (chủ biên, 2016), Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2015, Nhà xuất bản Tư pháp, tr203

[2] Trịnh Thị Hòa, Giao dịch dân sự vô hiệu và hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu, 2017, tr22

[3] Nguyễn Thị Thanh (2013) “ Hoàn thiện các quy định về xử lý hậu quả của hợp đồng dân sư

Trách nhiệm cung cấp thông tin của tổ chức, cá nhân kinh doanh với người tiêu dùng theo Luật bảo vệ quyền lợi NTD (2010)

Trách nhiệm cung cấp thông tin của tổ chức, cá nhân kinh doanh với người tiêu dùng theo Luật bảo vệ quyền lợi NTD (2010).

Năm 1985, Liên Hợp Quốc đã ra Bản hướng dẫn bảo vệ người tiêu dùng, gửi tới các Chính phủ thành viên, nội dung đảm bảo thực hiện 8 quyền cơ bản của người tiêu dùng. Quyền được cung cấp thông tin là một trong tám quyền cơ bản đó. Một trong những mục tiêu chủ yếu khi xây dựng Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của các quốc gia trên thế giới và tại Việt Nam là “khắc phục vị trí yếu thế của người tiêu dùng và đặc biệt khắc phục tình trạng “bất cân xứng về thông tin giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh”. Điều đó cho thấy thông tin là một trong những yếu tố mà người tiêu dùng quan tâm nhất khi mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ. Là thành viên của Liên Hợp Quốc, Việt Nam đang tích cực xây dựng và hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan để bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng. Tuy nhiên trong thực tiễn thi hành, quyền được cung cấp thông tin của người tiêu dùng vẫn bị xâm hại nghiêm trọng dưới nhiều hình thức khác nhau.

Nhận thức được bất cập đó, bài viết sau đây lựa chọn đề bài: “Trách nhiệm cung cấp thông tin của tổ chức, cá nhân kinh doanh với người tiêu dùng theo Luật bảo vệ quyền lợi NTD (2010)”.

I. KHÁI QUÁT VỀ TRÁCH NHIỆM CUNG CẤP THÔNG TIN HÀNG HÓA CỦA TỔ CHỨC, CÁ NHÂN KINH DOANH

1.1 Thông tin hàng hóa

          Thông tin hàng hóa (TTHH) được hiểu là “tập hợp các thuộc tính về hàng hóa đó, được thể hiện dưới dạng chữ cái, từ ngữ, màu sắc, kí hiệu, hình ảnh,… dùng để xác định hàng hóa đó và giúp khách hàng phân biệt giữa hàng hóa của các tổ chức, cá nhân khác nhau”[1].

          Thông tin của hàng hóa bao gồm những đặc điểm sau:

          – TTHH là những thông tin liên quan đến những tin tức cụ thể về hàng hóa như: nguồn gốc, xuất xứ hàng hóa, chất lượng, giá cả, thành phần, công dụng, hạn sử dụng, thông tin về cảnh báo, phòng ngừa rủi ro cho người tiêu dùng (NTD),.. Ngoài ra, thông tin về hàng hóa còn bao gồm cả về thông tin của cá nhân, tổ chức kinh doanh, cung cấp hàng hóa, dịch vụ đó như: uy tín, thương hiệu, năng lực hoạt động, địa điểm kinh doanh, địa điểm thực hiện bảo hành, sửa chữa hàng hóa,…Đó là những thông tin cần thiết mà NTD cần tiếp cận khi tham gia quan hệ tiêu dùng và sử dụng hàng hóa.

          – TTHH là những thông tin chỉ được thực hiện bởi các tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa. Bởi lẽ, chỉ có họ mới là người hiểu rõ các đặc tính, tính năng đối với hàng hóa của mình để từ đó đưa ra các thông tin, khuyến nghị cho NTD một cách trung thực, chính xác và đầy đủ nhất. Ngoài các tổ chức, cá nhân kinh doanh thì người tiêu dùng hoặc bất kì ai đều khó có thể tiếp cận được những thông tin này do những hạn chế về độ chuyên nghiệp, trình độ chuyên môn cũng như phương tiện để thực hiện.

          – TTHH là những thông tin được thể hiện dưới nhiều hình thức và cách thức khác nhau. Về hình thức thể hiện rất đa dạng, phong phú, như chữ cái, từ ngữ, màu sắc, kí hiệu, hình ảnh. Về cách thức tiếp cận như qua việc công bố chất lượng của tổ chức, cá nhân kinh doanh; qua việc ghi nhãn hàng hóa; qua hoạt động quảng cáo thương mại.

          – Mục đích của TTHH là nhằm đáp ứng nhu cầu của NTD, giúp người tiêu dùng có sự lựa chọn, sử dụng phù hợp với nhu cầu và điều kiện của mình.

1.2 Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh

          Quan hệ tiêu dùng là một loại quan hệ được thực hiện trên sơ sở hợp đồng mua bán, theo đó, người tiêu dùng mua hoặc sử dụng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ của thương nhân kinh doanh hàng hóa dịch vụ cung cấp mà không nhằm mục đích kinh doanh (bán lại). Do vậy, trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh trong việc cung cấp TTHH cho người tiêu dùng là nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân kinh doanh cung cấp các thông tin hàng hóa cho người tiêu dùng trong quá trình kinh doanh và phải chịu hậu quả bất lợi khi không tuân thủ đúng quy định của pháp luật.

          Trách nhiệm cung cấp thông tin của tổ tổ chức, cá nhân kinh doanh có các đặc điểm sau:

          -Là trách nhiệm được pháp luật quy định. Điều này được thể hiện ở thái độ của Nhà nước trong việc điều chỉnh mối quan hệ giữa tổ chức, cá nhân kinh doanh với người tiêu dùng.

          – Phát sinh trong việc cung cấp TTHH cho người tiêu dùng. Trách nhiệm này được xác định khi tổ chức, cá nhân kinh doanh cung cấp hàng hóa ra thị trường cho người tiêu dùng. Tổ chức, cá nhân kinh doanh có thể thực hiện trách nhiệm dưới nhiều phương thức khác nhau, như: công bố chất lượng hàng hóa, ghi nhãn hàng hóa, quảng cáo thương mại,…

1.3 Pháp luật về trách nhiệm cung cấp thông tin của tổ chức, cá nhân kinh doanh với người tiêu dùng theo Luật bảo vệ quyền lợi NTD (2010)

          Luật bảo vệ người tiêu dùng năm 2010 là đạo luật điều chỉnh trực tiếp các quan hệ về bảo vệ quyền lợi NTD, trong đó quy định rõ quyền của NTD và trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa trong việc cung cấp thông tin cho người tiêu dùng. Cụ thể các quyền của NTD được quy định tại Điều 8 LBVNTD[2].

          Các hợp đồng được giao kết một cách bình đẳng giữa các chủ thể, quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin trong hợp đồng của BLDS năm 2015 đã hoàn thiện hơn so với các Bộ luật trước đó. Tuy nhiên, để điều chỉnh mối quan hệ hợp đồng giữa tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ với người tiêu dùng thì các quy định này vẫn chưa đáp ứng yêu cầu bảo vệ quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng do các thương nhân, với kiến thức chuyên nghiệp, thường ở vị thế ưu việt hơn người tiêu dùng về phương diện nắm giữ thông tin đối với hàng hóa, dịch vụ mà họ cung cấp. Chính vì thế, nghĩa vụ cung cấp thông tin của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng còn được Luật BVQLNTD 2010 quy định:

Điều 12. Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ trong việc cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng

1. Ghi nhãn hàng hóa theo quy định của pháp luật.

2. Niêm yết công khai giá hàng hóa, dịch vụ tại địa điểm kinh doanh, văn phòng dịch vụ.

3. Cảnh báo khả năng hàng hóa, dịch vụ có ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, tính mạng, tài sản của người tiêu dùng và các biện pháp phòng ngừa.

4. Cung cấp thông tin về khả năng cung ứng linh kiện, phụ kiện thay thế của hàng hóa.

5. Cung cấp hướng dẫn sử dụng; điều kiện, thời hạn, địa điểm, thủ tục bảo hành trong trường hợp hàng hóa, dịch vụ có bảo hành.

6. Thông báo chính xác, đầy đủ cho người tiêu dùng về hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung trước khi giao dịch.

          Luật BVQLNTD 2010 quy định chế tài đối với việc vi phạm nghĩa vụ thông tin cho người tiêu dùng. Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ vi phạm nghĩa vụ thông tin theo quy định của có thể bị chế tài dân sự khi người tiêu dùng yêu cầu (vô hiệu hợp đồng hay hủy hợp đồng và bồi thường thiệt hại). Bên cạnh đó, cơ quan nhà nước có quyền áp dụng chế tài hành chính theo quy định từ Điều 47 đến Điều 54 của Nghị định số 98/2020/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Ngoài ra tổ chức, cá nhân vi phạm còn có thể bị tước giấy phép kinh doanh, chứng chỉ hành nghề, đình chỉ hoạt động,…. Như vậy, đối với doanh nghiệp có quy mô lớn, lợi ích mà họ đạt được lớn hơn rất nhiều lần mức phạt tiền do luật định nên chế tài hành chính vẫn chưa có tính răn đe cao.  Hơn nữa, chế tài đối với hành vi vi phạm nghĩa vụ thông tin cho người tiêu dùng còn có thể là chế tài hình sự nếu vi phạm theo Điều 197 Bộ Luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017[3].

II. THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VÀ THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM CUNG CẤP THÔNG TIN CỦA TỔ CHỨC CÁ NHÂN KINH DOANH VỚI NGƯỜI TIÊU DÙNG

2.1. Trách nhiệm Ghi nhãn hàng hóa theo quy định của pháp luật

          Căn cứ vào Nghị định số 43/2017/NĐ-CP ngày 14/04/2017, nhãn hàng hóa phải được thể hiện trên hàng hóa, bao bì thương phẩm của hàng hóa ở vị trí khi quan sát có thể nhận biết được dễ dàng, đầy đủ các nội dung quy định của nhãn mà không phải tháo rời các chi tiết, các phần của hàng hóa. Ý nghĩa của việc ghi nhãn hàng hóa là thể hiện nội dung cơ bản, cần thiết về hàng hóa để người tiêu dùng nhận biết, làm căn cứ lựa chọn, tiêu thụ và sử dụng. Để người tiêu dùng Việt Nam hiểu được nội dung nhãn thì phải sử dụng tiếng Việt (trừ một số ngoại lệ) để ghi nhãn hàng hóa. Nhãn phải chứa đựng các thông tin cơ bản về hàng hóa như số lượng, định lượng, thành phần, thông số kỹ thuật, thông tin cảnh báo, xuất xứ hàng hóa, hạn sử dụng… Ngoài ra, trên nhãn hàng hóa phải ghi tên và địa chỉ tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm về hàng hóa. Nếu tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa thực hiện nghiêm túc quy định về ghi nhãn hàng hóa thì họ đã cung cấp được những thông tin cơ bản hàng hóa cho người tiêu dùng trước khi giao kết hợp đồng. 

            Trên thực tế, các tổ chức, cá nhân kinh doanh thực hiện khá tốt nghĩa vụ này. Bởi ghi nhãn hàng hóa sẽ giúp người tiêu dùng trực tiếp nhìn thấy và phân biệt sản phẩm của doanh nghiệp mình với đối thủ cạnh tranh. Tuy nhiên doanh nghiệp, các cơ quan chức năng, đặc biệt là người tiêu dùng vẫn đang phải đối mặt với vấn đề “nhìn hình, đoán chữ” hoặc “nhìn bao bì, đoán nội dung” mỗi khi xem hàng hóa. Không ít trường hợp người dùng phải mò mẫm học cách sử dụng vì các nhà nhập khẩu khi dịch các thông tin từ tiếng nước ngoài rồi dán chồng lên nhãn chính với kích thước nhỏ khiến người dùng khó đọc. Hơn nữa việc xác định chính xác sản phẩm có đúng quy định hay không cũng khó. Nếu như những thông tin trên nhãn sản phẩm không đầy đủ hay không giống vớicông bố sản phẩm mà doanh nghiệp đã thực hiện. Không chỉ người tiêu dùng chịu thiệt thòi mà ngay cả doanh nghiệp cũng sẽ phải chịu tổn thất về doanh số và xử phạt của cơ quan chức năng.

2.2.Trách nhiệm Niêm yết công khai giá hàng hóa, dịch vụ tại địa điểm kinh doanh, văn phòng dịch vụ

          Theo khoản 6 Điều 4 Luật Giá năm 2012, “Niêm yết giá là việc tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thông báo công khai bằng các hình thức thích hợp, rõ ràng và không gây nhầm lẫn cho khách hàng về mức giá mua, giá bán hàng hóa, dịch vụ bằng Đồng Việt Nam bằng cách in, dán, ghi giá trên bảng, trên giấy hoặc trên bao bì của hàng hóa hoặc bằng hình thức khác tại nơi giao dịch hoặc nơi chào bán hàng hóa, dịch vụ để thuận tiện cho việc quan sát, nhận biết của khách hàng, cơ quan nhà nước có thẩm quyền”.

          Trong thực tiễn, các doanh nghiệp lớn như siêu thị, doanh nghiệp vận chuyển, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông… thường thực hiện đúng nghĩa vụ này. Trái lại, nhiều hộ kinh doanh nhỏ lẻ, cá nhân hoạt động độc lập, không thường xuyên có thể không thực hiện đúng quy định khi chỉ thông tin về giá bằng lời nói và thương lượng giá trực tiếp với người tiêu dùng. Trong thực tiễn, để thu hút khách hàng và để cạnh tranh, các doanh nghiệp thường gửi các thông tin báo giá trước cho khách hàng là người tiêu dùng để họ so sánh, lựa chọn mua hàng hóa với mức giá tốt nhất (ví dụ các tờ tin tức về hàng hóa của siêu thị, bảng báo giá về các mặt hàng điện tử của các công ty kinh doanh thương mại,…) Đối với việc ghi giá bằng đồng Việt Nam, đa số tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa thực hiện nghiêm túc nhưng vẫn có một số trường hợp vi phạm khi ghi giá bằng ngoại tệ (thường xảy ra ở các doanh nghiệp mua bán tại các tỉnh biên giới hoặc tại một số cửa hàng chuyên bán hàng cho khách du lịch nước ngoài) dù việc niêm yết, ghi giá bằng ngoại tệ bị cấm ở Việt Nam, trừ trường hợp được Ngân hàng Nhà nước cho phép.

2.3.Trách nhiệm Cảnh báo khả năng hàng hóa, dịch vụ có ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, tính mạng, tài sản của người tiêu dùng, các biện pháp phòng ngừa

          Nghĩa vụ thông tin này được quy định trong Nghị định số 43/2017/NĐ-CP ngày 14/04/2017 về nhãn hàng hóa và một số văn bản dưới luật khác. Nghĩa vụ thông tin cảnh báo này phải được ghi nhận trên nhãn hàng hóa. Ngoài ra còn được ghi nhận trong các tài liệu hướng dẫn sử dụng đi kèm với sản phẩm hoặc trong chính hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung do tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ soạn thảo. Ví dụ, đối với thực phẩm, quy định doanh nghiệp phải ghi thành phần hoặc chất trong thành phần phức hợp của hàng hóa thuộc loại đặc biệt có sử dụng chất bảo quản mà đã quy định liều lượng sử dụng và xếp trong danh sách gây kích ứng, độc hại đối với người, động vật và môi trường, phải ghi tên chất bảo quản kèm theo các thành phần này. Nghĩa vụ này có tác dụng phòng ngừa tác động xấu của hàng hóa, dịch vụ đối với người tiêu dùng. Đây cũng là nghĩa vụ tiền hợp đồng: quyền tự do lựa chọn giao kết hợp đồng của người tiêu dùng sẽ được thực hiện hiệu quả hơn khi họ nắm được thông tin cảnh báo về loại hàng hóa, dịch vụ mà họ muốn mua hay sử dụng. Tuy nhiên, ngay cả sau khi hợp đồng đã hoàn thành, nếu doanh nghiệp cung cấp hàng hóa, dịch vụ phát hiện khuyết tật của hàng hóa hay những tác động không tốt của dịch vụ đối với người tiêu dùng thì doanh nghiệp vẫn phải thực hiện nghĩa vụ thông tin cảnh báo.

          Hiện nay, bia rượu là những loại hàng hóa có số lượng tiêu thụ rất lớn hàng năn. Nhưng việc cảnh báo về sự nguy hại đến sức khỏe người tiêu dùng thì không Doanh nghiệp nào nhắc tới. Bởi không có doanh nghiệp nào muốn hàng hóa của mình không bán chạy cả. Tuy nhiên, trách nhiệm này không chỉ giúp ích cho NTD mà còn có ý nghĩa với cả các tổ chức, cá nhân kinh doanh trong nghĩa vụ của họ khi có tranh chấp bồi thường thiệt hại.

2.4. Trách nhiệm Cung cấp thông tin về khả năng cung ứng linh kiện, phụ kiện thay thế của hàng hóa và cung cấp hướng dẫn sử dụng; điều kiện, thời hạn, địa điểm, thủ tục bảo hành trong trường hợp hàng hóa, dịch vụ có bảo hành.

          Nghĩa vụ thông tin về điều kiện, thời hạn, địa điểm, thủ tục bảo hành được quy định trong Luật BVQLNTD, không quy định trong Luật Dân sự mặc dù Bộ luật có quy định nghĩa vụ bảo hành. Trong thực tiễn, để cạnh tranh, các doanh nghiệp thường nghiêm túc thực hiện nghĩa vụ thông tin về bảo hành cho người tiêu dùng để đánh vào tâm lý người tiêu dùng tin tưởng vào hàng hóa nào được bảo hành dài hạn hơn khi so sánh giữa các hàng hóa cùng loại. Đối với nghĩa vụ cung cấp thông tin về khả năng cung ứng linh kiện, phụ kiện thay thế của hàng hóa thì các doanh nghiệp có uy tín sẽ thực hiện tương đối tốt nghĩa vụ này. Doanh nghiệp cung cấp sản phẩm có thời gian bảo hành linh kiện, phụ kiện khác với thời gian bảo hành của sản phẩm chính cũng thường xuyên thực hiện nghĩa vụ này. Ví dụ, đối với các loại laptop, thời gian bảo hành thiết bị sạc pin hoặc linh kiện khác với thời gian bảo hành xe nên các doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm này sẽ phải thông tin về khả năng cung ứng linh kiện, phụ kiện thay thế.

2.5. Trách nhiệm Thông báo chính xác, đầy đủ cho người tiêu dùng về hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung trước khi giao dịch.

          Nghĩa vụ công bố, công khai thông tin về nội dung hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung có thể được thực hiện tại trụ sở doanh nghiệp hay trên trang thông tin điện tử của doanh nghiệp hoặc bằng tài liệu gửi cho người tiêu dùng. Ngoài ra, đối với 10 loại hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung bắt buộc phải đăng ký do có đối tượng thuộc danh mục hàng hóa, dịch vụ thiết yếu (như điện sinh hoạt, nước sinh hoạt, vận chuyển bằng đường hàng không…) thì doanh nghiệp còn thực hiện nghĩa vụ đăng ký tại Bộ Công Thương hoặc Sở Công Thương (căn cứ vào Nghị định số 99/2011/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; Quyết định số 02/2012/QĐ-TTG, Quyết định số 35/2015/QĐ-TTg và Quyết định số 38/2018/QĐ-TTg). Để nắm được thông tin về nội dung hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung, người tiêu dùng phải được quyền đọc trước các tài liệu này. Tuy nhiên, trong thực tế không phải doanh nghiệp nào cũng cho phép người tiêu dùng có thời gian nghiên cứu trước về hợp đồng, nhiều trường hợp, doanh nghiệp chỉ đưa hợp đồng để người tiêu dùng ký mà không dành cho họ thời gian đọc trước.

III. BÌNH LUẬN QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM CUNG CẤP THÔNG TIN CỦA TỔ CHỨC CÁ NHÂN KINH DOANH VỚI NGƯỜI TIÊU DÙNG

3.1. Những ưu điểm của pháp luật Việt Nam về trách nhiệm cung cấp thông tin hàng hóa của tổ chức, cá nhân kinh doanh

          Thứ nhất, pháp luật Việt Nam nói chung và Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng nói riêng đã có những quy định tương đối cơ bản về trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh đối với người tiêu dùng trong việc cung cấp thông tin hàng hóa. Nhìn chung, số lượng các văn bản quy phạm pháp luật quy định tương đối lớn và được quy định trong các văn bản pháp luật có hiệu lực và nhiều lĩnh vực khác nhau. Văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý điều chỉnh một cách bao quát, chi tiết nhất hiện nay là Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010. Các văn bản luật khác được ban hành chủ yếu để điều chỉnh việc cung cấp TTHH trong các lĩnh vực cụ thể như quảng cáo, thực thẩm, giá, chất lượng hàng hóa,…

          Thứ hai, pháp luật quy định rõ những thông tin mà tổ chức, cá nhân kinh doanh phải cung cấp cho người tiêu dùng. Đó là những thông tin về hàng hóa, tên địa chỉ của tổ chức, cá nhân kinh doanh; ngày sản xuất, nội dung giao dịch hàng hóa; hóa đơn, chứng từ, tài liệu liên quan đến giao dịch; nguồn gốc, xuất xứ hàng hóa; thông tin cần thiết khác về hàng hóa, dịch vụ mà người tiêu dùng đã mua và sử dụng.

          Thứ ba, pháp luật quy định cụ thể những yêu cầu mà tổ chức, cá nhân kinh doanh khi cung cấp thông tin hàng hóa phải đáp ứng cho người tiêu dùng. Đó là: thông tin phải đầy đủ, chính xác, trung thực. Nghĩa vụ này không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với người tiêu dùng để họ tự quyết định việc lựa chọn, sử dụng hàng hóa cho nhu cầu, mục đích của mình mà còn có ý nghĩa đối với cả tổ chức, cá nhân kinh doanh vì đây sẽ là cơ hội xây dựng thương hiệu cho chính họ, đem lại niềm tin cho người tiêu dùng.

          Thứ tư, pháp luật quy định rõ giới hạn trách nhiệm cung cấp thông tin hàng hóa của tổ chức, cá nhân kinh doanh. Người tiêu dùng có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại khi hàng hóa, dịch vụ không đúng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, chất lượng, số lượng, tính năng, công dụng, giá cả hoặc các nội dung khác mà các tổ chức, cá nhân kinh doanh đã công bố, niêm yết, quảng cáo hoặc cam kết. NTD có quyền khiếu nại, tố cáo, khởi kiện hoặc đề nghị tổ chức xã hội khởi kiện để bảo vệ quyền lợi của mình theo quy định của pháp luật.

3.2. Một số hạn chế của pháp luật Việt Nam về trách nhiệm cung cấp thông tin hàng hóa của tổ chức, cá nhân kinh doanh

          Bên cạnh những ưu điểm, pháp luật về trách nhiệm cung cấp thông tin hàng hóa của tổ chức, cá nhân kinh doanh vẫn còn những hạn chế sau:

          Thứ nhất, có sự chồng chéo về quy định cung cấp TTHH, đặc biệt là trong hoạt động quảng cáo. Để bảo vệ cho người tiêu dùng, pháp luật quy định về các hoạt động quảng cáo thương mại có thể gây ra sự cạnh tranh không lành mạnh và bị cấm quảng cáo như: cấm quảng cáo thuốc lá, cấm quảng cáo làm tiết lộ bí mật nhà nước, phương hại đến độc lập, chủ quyền, an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên nội dung này không chỉ được quy định tại Luật Quảng Cáo 2012[4] mà còn bị trùng lặp  trong Luật bảo vệ người tiêu dùng 2010[5].

          Thứ hai, thiết chế bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam theo mô hình hạt nhân nên quy định và phân công thẩm quyền quản lí các vụ việc trong cung cấp TTHH qua hoạt động quảng cáo không cụ thể. Thẩm quyền quản lí nhà nước được quy định: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (quản lí quảng cáo, thực hiện chức năng quản lí Nhà nước về quảng cáo trong vi phạm cả nước); Bộ Công thương thực hiện chức năng quản lý nhà nước về hoạt động xúc tiến thương mại, trong đó có hoạt động quảng cáo thương mại; Bộ Thông tin và truyền thông quản lý Nhà nước về hoạt động quảng cáo trên báo chí, mạng thông tin máy tính,..Luật cũng quy định các Bộ quản lý ngành trong phạm vi nhiệm vụ của mình như Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.,…

          Tuy có sự phân cấp quản lý giữa các Bộ, ngành về việc cung cấp thông tin hàng hóa nhưng sự phân công chưa cụ thể dẫn đến sự chồng chéo và quản lý lỏng lẻo trên thực tế. Vụ việc công ty ACECOOK là một ví dụ điển hình. Công ty này đã khiếu nại quảng cáo của Công ty cổ phần MASAN đưa thông tin gây nhầm lẫn về chất lượng mì ăn liền “Tiến Vua bò cải chua” và yêu cầu ngừng truyền thông[6]. Công ty ACECOOK cho rằng mẫu quảng cáo này có dấu hiệu của hành vi cạnh tranh không lành mạnh và đã gửi đơn lên Cục Quản lý cạnh tranh nhưng bị trả lại hồ sơ với lý do không đúng thẩm quyền giải quyết và cho rằng vụ việc này thuộc thẩm quyền của Bộ Thông tin và Truyền thông. Bộ Thông tin và Truyền thông tiếp tục cho rằng đây là thộc thẩm quyền của Bộ Công thương mà trực tiếp là Cục Quản lý cạnh tranh. Qua đó cho thấy việc phân định thẩm quyền không cụ thể, không rõ ràng và thiếu quy định về cơ chế phối hợp giải quyết các vụ việc làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của NTD và của các doanh nghiệp làm ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý Nhà nước trong công tác quản lý việc cung cấp thông tin cho NTD.

3.3. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao trách nhiệm cung cấp thông tin hàng hóa củatổ chức,cá nhân kinh doanh cho người tiêu dùng

          Chỉnh sửa tên gọi tại Điều 12 LBVNTD 2010 là Trách nhiệm tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ trong việc cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng nhưng thực chất quy định này đề cập đến nghĩa vụ cung cấp thông tin chứ không phải về trách nhiệm do vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin. Để tránh hiểu nhầm, tên của điều luật nên sửa đổi chính xác là Nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ trong việc cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng

          – Bổ sung quy định tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có nghĩa vụ chứng minh bản thân đã thực hiện đúng và đầy đủ nghĩa vụ thông tin cho người tiêu dùng để khi xảy ra tranh chấp, quyền lợi của NTD vẫn được đảm bảo.

          – Quy định cụ thể về thẩm quyền theo hướng quy định một cơ quan chuyên trách quản lý về hoạt dộng cung cấp thông tin qua hình thức quảng cáo. Bên cạnh đó còn cần có những quy định cụ thể về lĩnh vực, nội dung, thời gian giải quyết vụ việc, trách nhiệm của các bên tham gia để có cơ chế hữu hiệu phối hợp hoạt động giữa các cơ quan có liên quan về hoạt động quảng cáo trong các lĩnh vực.

          – Để tránh sự chồng chéo khi quy định về hành vi cạnh tranh k lành mạnh trong hoạt động quảng cáo thương mại và những hành vi bị cấm quảng cáo thì nên sửa đổi theo hướng chỉ nên quy định trong Luật chuyên ngành về quảng cáo (Luật quảng cáo) về các hành vi bị cấm quảng cáo. Các văn bản khác có liên quan không quy định trùng lặp mà chỉ viện dẫn các điều luật có liên quan đến hoạt động quảng cáo.

          Nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ trong việc cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng là một nghĩa vụ thiết yếu để bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng khi giao kết hợp đồng. Nghĩa vụ này phải được thực hiện cả trước, trong và sau khi giao kết hợp đồng. Pháp luật Việt Nam về trách nhiệm cung cấp thông tin hàng hóa của tổ chức, cá nhân kinh doanh cho người tiêu dùng đã tạo được một hành lang pháp lý cơ bản cho việc tiếp cận thông tin của người tiêu dùng. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành vẫn còn một số nội dung cần phải hoàn thiện để thực sự trở thành một công cụ hữu hiệu nhằm thúc đẩy kinh tế phát triển lành mạnh, minh bạch và ổn định trong thời kì hội nhập hiện nay.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Giáo trình Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Trường đại học luật Hà Nội, nxb Công an nhân dân, 2012;
  2. Bộ luật Dân sự năm 2015;
  3. Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 và các văn bản quy định chi tiết luật này;
  4. Luật Giá năm 2012;
  5. Lê Thị Hải Ngọc (2017), Trách nhiệm của nhà sản xuất, cung ứng trong việc cung cấp thông tin về chất lượng hàng hóa cho người tiêu dùng, Luận án Tiến sĩ Luật học, Học viện Khoa học xã hội;
  6. Lê Thị Hải Ngọc (2020), Thực trạng pháp luật về trách nhiệm cung cấp thông tin hàng hóa của tổ chức, cá nhân kinh doanh và một số giải pháp hoàn thiện, Tạp chí Pháp luật và thực tiễn số 42/2020;
  7. Đoàn Phan Tân, “Về khái niệm của thông tin và các giá trị làm nên thuộc tính của thông tin”, Bài đăng trên Tạp chí Văn hóa – Nghệ thuật, tháng 3/2011
  8. Phan Khánh An (2013), Vai trò của thông tin trong bảo vệ người tiêu dùng, Tạp chí tranh và Người tiêu dùng, số 39/2013

[1] Đoàn Phan Tân, “Về khái niệm của thông tin và các giá trị làm nên thuộc tính của thông tin”, Bài đăng trên Tạp chí Văn hóa – Nghệ thuật, tháng 3/2011

[2] Điều 8. Quyền của người tiêu dùng

1. Được bảo đảm an toàn tính mạng, sức khỏe, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác khi tham gia giao dịch, sử dụng hàng hóa, dịch vụ do tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ cung cấp.

2. Được cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ về tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ; nội dung giao dịch hàng hóa, dịch vụ; nguồn gốc, xuất xứ hàng hóa; được cung cấp hóa đơn, chứng từ, tài liệu liên quan đến giao dịch và thông tin cần thiết khác về hàng hóa, dịch vụ mà người tiêu dùng đã mua, sử dụng.

3. Lựa chọn hàng hóa, dịch vụ, tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ theo nhu cầu, điều kiện thực tế của mình; quyết định tham gia hoặc không tham gia giao dịch và các nội dung thỏa thuận khi tham gia giao dịch với tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ.

4. Góp ý kiến với tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ về giá cả, chất lượng hàng hóa, dịch vụ, phong cách phục vụ, phương thức giao dịch và nội dung khác liên quan đến giao dịch giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ.

5. Tham gia xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

6. Yêu cầu bồi thường thiệt hại khi hàng hóa, dịch vụ không đúng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, chất lượng, số lượng, tính năng, công dụng, giá cả hoặc nội dung khác mà tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đã công bố, niêm yết, quảng cáo hoặc cam kết.

7. Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện hoặc đề nghị tổ chức xã hội khởi kiện để bảo vệ quyền lợi của mình theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

8. Được tư vấn, hỗ trợ, hướng dẫn kiến thức về tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ.

[3] Điều 197. Tội quảng cáo gian dối

1. Người nào quảng cáo gian dối về hàng hóa, dịch vụ, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

[4] Điều 8, luật Quảng Cáo 2012;

[5] Điều 10 luật Bảo vệ người tiêu dùng

Phân tích, đánh giá các quy định về căn cứ tính thuế thu nhập doanh nghiệp và nêu ví dụ minh hoạ

Phân tích, đánh giá đối với các quy định về căn cứ tính thuế thu nhập doanh nghiệp và nêu ví dụ minh hoạ.

Để duy trì hoạt động của Nhà nước thì nghĩa vụ đóng thuế của các cá nhân, tổ chức là vô cùng quan trọng. Thuế không chỉ đơn thuần là một nguồn thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước mà thuế còn gắn liền với các vấn đề về sự tăng trưởng kinh tế, về sự công bằng trong phân phối và sự ổn định xã hội. Trong phạm vi nghiên cứu các vấn đề của tài chính và Ngân sách Nhà nước, chúng ta sẽ xem xét thuế với các vai trò cơ bản của nó là: tạo nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước, kích thích tăng trưởng kinh tế và điều chỉnh thu nhập.

Vai trò tạo nguồn thu của thuế xuất phát từ yêu cầu và quyền lực của nhà nước đối với xã hội. Nhà nước với quyền lực chính trị có thể ban hành các loại thuế với các mức thuế suất tuỳ ý. Tuy nhiên, khi xét về mục đích lâu dài khi định ra các loại thuế, thuế suất, đối tượng chịu thuế chính phủ không chỉ đơn thuần thỏa mãn nhu cầu tăng thu của Ngân sách Nhà nước, mà phải thỏa mãn đồng thời yêu cầu tăng trưởng kinh tế và điều chỉnh thu nhập. Việc đáp ứng cả ba yêu cầu đó đòi hỏi chính phủ phải tính toán, cân nhắc kỹ lưỡng khi ban hành các loại thuế, bởi vì nguồn thu của thuế bắt nguồn từ thu nhập quốc dân, khả năng động viên của thuế phụ thuộc chủ yếu vào phát triển của sản xuất, hiệu quả của sản xuất.

Trong phạm vi nghiên cứu vấn đề “Phân tích, đánh giá và nêu ví dụ minh hoạ đối với các quy định về căn cứ tính thuế thu nhập doanh nghiệp”. Em sẽ chỉ ra tầm quan trọng của Thuế thu nhập doanh nghiệp trong đời sống xã hội và các căn cứ tính thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định của pháp luật Việt Nam.

I. THUẾ THU NHẬP

1.1. Khái niệm

Thuế thu nhập là thuế đánh vào thu nhập của cá nhân và pháp nhân. Trong trường hợp đánh vào thu nhập của cá nhân, nó được gọi là thuế thu nhập cá nhân. Còn trong trường hợp đánh vào thu nhập của pháp nhân, nó được gọi là thuế doanh nghiệp, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế sự nghiệp, thuế lợi nhuận, v.v…

1.2. Đặc điểm

  • Cơ sở tính thuế:  là thu nhập, song có nhiều cách xác định thu nhập chịu thuế. Có nơi, cơ sở tính thuế là những khoản thu nhập được cơ quan thu xác định là thu nhập để tiêu dùng. Có nơi, cơ sở tính thuế là những khoản thu nhập thường xuyên; còn thu nhập nhất thời, thu nhập ngoài kế hoạch của người nộp thì không bị đánh thuế. Lại có nơi, cơ sở tính thuế là mọi khoản thu nhập.

Thu nhập thường được tính cho thời gian một năm tài chính. Thuế suất thuế thu nhập là tỷ lệ thu bằng một số phần trăm nhất định của thu nhập trong một năm tài chính.

  • Thuế thu nhập là thuế trực thu: người nộp thuế và người phải chi tiền đóng thuế là một, nên thuế thu nhập là một thứ thuế trực thu. Đối tượng thu là cá nhân hoặc pháp nhân. Ở nhiều nước, bất cứ cá nhân nào cũng phải đóng thuế thu nhập. Đứng từ góc độ lý thuyết chuẩn tắc của kinh tế học công cộng, cứ chủ thể kinh tế nào tiêu dùng hàng hóa công cộng thì đều phải nộp thuế bất kể thu nhập của người đó nhiều hay ít (đánh thuế theo lợi ích). Song trong thực tế, việc thu thuế thu nhập từ những người có thu nhập thấp hơn một ngưỡng nhất định có thể không đem lại nhiều lợi ích bằng với chi phí kỹ thuật cho việc thu thuế. Do đó theo nguyên tắc về “tính đơn giản” của thuế, nhiều nước áp dụng thuế suất 0% đối với nhóm người này, hay nói cách khác chỉ thu thuế từ những người có thu nhập cao hơn một ngưỡng nhất định.
  • Thuế thu nhập và điều tiết thu nhập:

Thuế thu nhập là trường hợp điển hình của việc chính quyền dùng thuế để điều tiết thu nhập vì mục đích công bằng. Thông qua áp dụng thuế suất lũy tiến, chính quyền buộc người có thu nhập cao hơn phải chịu gánh nặng thuế lớn hơn (đánh thuế theo khả năng). Cơ quan thu sẽ đặt ra các bậc thuế; mỗi bậc tương ứng với một phạm vi thu nhập. Đối với mỗi bậc sẽ có một thuế suất riêng. Chính quyền còn dùng thuế thu nhập để điều tiết thu nhập bằng cách khấu trừ (trừ vào tổng số thuế phải nộp thông thường) khi người đóng thuế là người tàn tật dẫn tới khả năng lao động kiếm thu nhập của anh ta bị hạn chế, khi người đóng thuế có con nhỏ hơn một độ tuổi nhất định. Ở một số nước, nếu vợ hoặc chồng của người đóng thuế không đi làm, người đóng thuế cũng được chính quyền khấu trừ. Khoản thu nhập không phải đóng thuế này gọi là thu nhập miễn thuế.

1.3. Các loại thuế thu nhập

1. Thuế thu nhập cá nhân (TNCN)

Thuế thu nhập cá nhân khoản tiền thuế mà người có thu nhập phải trích nộp một phần tiền lương hoặc từ các nguồn thu khác vào Ngân sách Nhà nước sau khi đã tính các khoản được giảm trừ.

Theo đó, thuế TNCN được xây dựng trên nguyên tắc công bằng và khả năng nộp thuế. Thuế thu nhập cá nhân không đánh vào những cá nhân có thu nhập thấp, vừa đủ nuôi sống bản thân và gia đình ở mức cần thiết.

Do đó việc nộp tiền thuế thu nhập cá nhân cũng góp phần làm giảm hợp lý khoảng cách chênh lệch giữa các tầng lớp dân cư.

Đối tượng phải nộp thuế thu nhập cá nhân qua mạng gồm: Cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú tại Việt Nam có thu nhập chịu thuế:

  1. Đối với cá nhân cư trú, thu nhập chịu thuế là thu nhập phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam, không phân biệt nơi trả thu nhập.
  2. Đối với cá nhân không cư trú, thu nhập chịu thuế là thu nhập phát sinh tại Việt Nam, không phân biệt nơi trả và nhận thu nhập.

2. Thuế thu nhập Doanh nghiệp

II. THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP

2.1. Khái niệm

Thuế thu nhập doanh nghiệp là loại thuế thu trên thu nhập của các cơ sở kinh doanh để động viên một phần thu nhập của họ vào Ngân sách Nhà nước. Ngoài ra, nhà nước cũng có thể sử dụng loại thuế này để điều tiết vĩ mô nền kinh tế thông qua việc động viên công bằng giữa các thành phần kinh tế, khuyến khích ưu đãi đầu tư nhằm thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển.

Tên gọi là thuế thu nhập doanh nghiệp nhưng loại thuế này cũng áp dụng đối với thu nhập của các cá nhân, các cơ sở kinh doanh không thành lập theo luật doanh nghiệp và phần thu nhập chịu thuế là phần thu nhập còn lại sau khi đã khấu trừ các chi phí liên quan đến quá trình sản xuất, kinh doanh.

Ở các nước, tên gọi của luật thuế này có thể khác nhau như luật thuế thu nhập công ty, luật thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế lợi tức… Nhưng bản chất là tương đối giống nhau. Có quốc gia quy định loại thuế này trong một luật riêng, quốc gia khác lại quy định chung một bộ luật với thuế thu nhập cá nhân vì họ cho rằng hai loại thuế đánh trên thu nhập này có quan hệ mật thiết với nhau nên quy định trong cùng một văn bản thì sẽ dễ tiếp cận hơn.

Về phạm vi điều chỉnh

Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ có phát sinh thu nhập phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp. Đối tượng nộp thuế thuộc phạm vi điều chỉnh của thuế thu nhập doanh nghiệp và có hai điều kiện: thực hiện hoạt động sản xuất, kinh doanh hợp pháp và phải có phát sinh thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh đó.

Về đối tượng điều chỉnh của Thuế thu nhập doanh nghiệp theo đó gồm:

  • Tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ có thu nhập chịu thuế bao gồm doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo quy định của Luật doanh nghiệp, Luật doanh nghiệp Nhà nước, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Luật đầu tư, Luật các tổ chức tín dụng, Luật kinh doanh bảo hiểm, Luật chứng khoán, Luật dầu khí, Luật thương mại và các văn bản pháp luật khác dưới các hình thức: Công ty cổ phần; Công ty trách nhiệm hữu hạn; Công ty hợp danh; Doanh nghiệp tư nhân; Doanh nghiệp Nhà nước; Văn phòng Luật sư, Văn phòng công chứng tư…
  • Các đơn vị sự nghiệp công lập, ngoài công lập có sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ có thu nhập trong tất cả các lĩnh vực;
  • Các tổ chức được thành lập và hoạt động theo Luật hợp tác xã;
  • Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật nước ngoài có cơ sở thường trú tại Việt Nam.
  • Tổ chức khác có hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ và có thu nhập chịu thuế.

2.2. Đặc điểm

1. Thuế thu nhập doanh nghiệp là loại thuế trực thu

Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) là một loại thuế trực thu, song thuế TNDN thường không sử dụng thuế suất luỹ tiến mà sử dụng thuế suất phổ thông (standard rate) và một số mức thuế suất khác mức thuế suất phổ thông. học kế toán trưởng ở đâu

Mức thuế suất khác nhau có thể được áp dụng đối với các nhóm đối tượng hoặc một số loại thu nhập khác nhau vì mục tiêu chính sách.

2. Thuế thu nhập doanh nghiệp đánh vào thu nhập của mỗi tổ chức, pháp nhân kinh doanh

Thuế TNDN đánh vào thu nhập của mỗi tổ chức, pháp nhân kinh doan và thường được coi như là một loại thuế đánh vào vốn (tư bản), bởi vốn của một tổ chức được hình thành từ sự đóng góp của các tổ chức, cá nhân sở hữu nó. hạch toán chi phí vận chuyển

Về mặt kinh tế, thuế TNDN được xem như một loại thuế “thu trước” hoặc “thu gộp” của thuế thu nhập cá nhân. Thông qua việc thu thuế TNDN, các chính phủ có thể giảm bớt được chi phí quản lý thu và hạn chế được nhiều rủi ro so với thu thuế thu nhập cá nhân.

3. Thuế thu nhập doanh nghiệp phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của người nộp thuế

Thuế TNDN phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của người nộp thuế do bản chất thuế TNDN đánh vào lợi nhuận của hoạt động kinh doanh và các khoản thu nhập khác của hoạt động sản xuất, kinh doanh.

4. Các chính sách khuyến khích, ưu đãi về thuế được lồng ghép trong quy định pháp luật về thuế TNDN học kế toán ở đâu

– Các chính sách khuyến khích, ưu đãi thuế vì các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội hoặc tham gia giải quyết các vấn đề xã hội thường được lồng ghép, thiết kế trong quy định pháp luật về thuế TNDN.

Đặc biệt, các ưu đãi thuế TNDN để thu hút đầu tư vào các vùng khó khăn, khuyến khích phát triển các lĩnh vực theo định hướng, cạnh tranh thu hút đầu tư nước ngoài thường được thể hiện trong chính sách thuế TNDN của nhiều nước. học logistics ở đâu

Những đặc điểm của thuế thu nhập doanh nghiệp trên đặt ra yêu cầu phải xem xét mối quan hệ giữa thuế TNDN và thuế TNCN, giữa chính sách thuế với chính sách phát triển kinh tế cũng như các cam kết quốc tế về tự do hoá thương mại và bảo hộ đầu tư.

2.3. Vai trò

* Về kinh tế

Thuế TNDN đã góp phần làm thay đổi căn bản nội hàm chính sách thuế, tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, điều tiết vĩ mô nên kinh tế, đẩy mạnh xuất khẩu, cải thiện môi trường kinh doanh và từng bước nâng cao năng lực cạnh tranh của cộng đồng các doanh nghiệp trong nước.

Thuế TNDN ban hành đã khắc phục được cơ bản những điểm yếu của thuế lợi tức. Phạm vi điều chỉnh luật thuế TNDN đã được mở rộng áp dụng cho cả các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và một số đối tượng khác như công ty nước ngoài hoạt động kinh doanh thông qua cơ sở thường trú tại Việt Nam, hộ gia đình nông dân sản xuất hàng hóa lớn, các cá nhân hành nghề độc lập,… Các khoản chi phí hợp lý được quy định một cách rõ ràng và phù hợp với những điều kiện của nền kinh tế thị trường theo những thông lệ quốc tế. Một số khoản thu nhập có thể phát sinh trong nền kinh tế thị trường được bổ sung vào đối tượng chịu thuế, xóa bỏ sự phân biệt thuế suất và điều chỉnh sát với các mặt bằng thuế suất chung của thuế thu nhập công ty trên thế giới,…

* Về thu Ngân sách Nhà nước

Thuế TNDN đã điều tiết được hầu hết các khoản thu nhâp từ hoạt động sản xuất, kinh doanh; Số thu về thuế TNDN tăng trưởng hàng năm từ đó tạo nguồn thu lớn, tập trung và ngày càng ổn định cho Ngân sách Nhà nước, góp phần bù đắp số giảm thu về thuế xuất nhập khẩu do phải thực hiện cắt giảm thuế nhập khẩu theo cam kết quốc tế.

* Góp phần hoàn thiện hệ thống chính sách thuế Việt Nam

Luật thuế TNDN đã góp phần làm cho hệ thống thuế ở Việt Nam từng bước tương đồng và phù hợp với thông lệ quốc tế, đồng thời góp phần làm cho hệ thống thuế tiến thêm một bước tới mục tiêu công bằng và bình đẳng trong nghĩa vụ thuế giữa các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp.

Thuế TNDN đã xóa bỏ hẳn sự đối xử phân biệt giữa các thành phần kinh tế, ngành nghề sản xuất kinh doanh, rút ngắn khoách cách phân biệt giữa các doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Bên cạnh đó, thuế TNDN thể hiện rõ mục tiêu phân phối lại nhưng cũng đồng thời hàm chứa mục tiêu trợ giúp, nâng  đỡ những cơ sở sản xuất kinh doanh có khó khăn do những điều kiện kinh tế, xã hội tự nhiên mang lại, trên cơ sở đó thực hiện mục đích công bằng xã hội kết hợp với công bằng kinh tế. Từ đó góp phần tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các thành phần kinh tế, các khu vực hoạt động cũng như tạo điều kiện cho sản xuất và kinh doanh phát triển.

* Góp phần xử lý tốt mối quan hệ mang tính hệ thống giữa các sắc thuế

Luật thuế TNDN được thiết kế trên cơ sở mối quan hệ phụ thuộc, bổ sung, bọc lót nhau, thể hiên sự nhất quán về mục tiêu điều tiết và động viên của cả hệ thống thuế.

So với thuế lợi tức, thuế TNDN thể hiện rõ mục tiêu đòn bẩy kinh tế nhằm khuyến khích các khu vực kinh tế, ngành nghề, lĩnh vực phát triển theo mục tiêu định hướng của nhà nước. Đặc biệt, thuế TNDN chứa đựng nhiều nội dung miễn, giảm thuế theo mục tiêu và hoàn cảnh kinh tế. Đặc tính đó thể hiện mối tương quan hệ thống giữa thuế giá trị gia tăng – thuế thu nhập doanh nghiệp nói riêng và thuế gián thu – thuế trực thu nói chung.

* Góp phần thúc đẩy quản lý, tăng cường công tác hạch toán kế toán của doanh nghiệp.

Việc tính đúng thuế TNDN trên nguyên tắc phải có hóa đơn, chứng từ, từ đó thúc đẩy các doanh nghiệp, người kinh doanh phải chú trọng tổ chức thực hiện tốt hơn công tác mở sổ sách kế toán, ghi chép, quản lý và sử dụng hỏa đơn, chứng từ.

Do làm tốt công tác kế toán, hóa đơn, chứng từ, các đối tượng nộp thuế theo kê khai đã lập và nộp tờ khai thuế tương đối đúng hạn và đầy đủ.

* Củng cố công tác quản lý thu thuế, nâng cao ý thức tự giác thực hiên nghĩa vụ nộp thuế của đối tượng thuế.

2.4. Căn cứ phát sinh mối quan hệ pháp luật thues thu nhập Doanh nghiệp

2.4.1. Quy phạm pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp

Để quan hệ pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp phát sinh thì trước hết phải có các quy phạm pháp luật điều chỉnh. Hiện nay, các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp được quy định trước hết ở Luật thuế thu nhập doanh nghiệp ban hành ngày 03/6/2008; Luật sừa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp ngày 19/6/2013; Luật số 71/2014/QHI3 ngày 26/11/2014 sưa đổi, bổ sung một số đỉều của các luật về thuế và các văn bản quy đĩnh chi tiết hướng dẫn thi hành. Ngoài ra, còn các quy phạm pháp luật thuế quốc tế được quy định trong các hiệp định tránh đánh thuế hai lần mà Việt Nam đã tham gia kí kết.

2.4.2. Sự kiện pháp lí làm phát sinh quan hệ pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp

Theo quy định của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp thì một tổ chức sẽ là đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp khi có hai sự kiện pháp lí sau:

Thứ nhất, có sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ hay còn gọi là có hành vi kinh doanh.

Theo cách hiểu thông thường thì hành vi kinh doanh là hành vi của chủ thể kinh doanh. Dưới góc độ quản lí hành chính thì một tổ chức được quyền thực hiện các hành vi kinh doanh của mình khi họ có đủ tư cách pháp lí của một chủ thể kinh doanh hợp pháp tức là khi họ đã làm thủ tục xin cấp giấy phép đầu tư hoặc giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh và đã được cơ quan nhà nước có thẩm cấp giấy phép đầu tư hoặc giấy chứng nhận đãng kí kinh doanh cho họ.

Tuy nhiên, dưới góc độ quản lí thuế thì dấu hiệu để xác định tổ chức có hành vi kinh doanh hiểu theo nghĩa rộng hơn, thông thoáng và mềm dẻo hơn nhằm hạn chế khả năng gây thất thu thuế, tạo thuận lợi cho cơ quan thuế, đối tượng nộp thuế thực thi nhanh chóng các nghĩa vụ của mình. Theo tinh thần của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp thì một tổ chức được coi thoả mãn dấu hiệu “có hành vi kinh doanh” khi họ thuộc một trong hai trường hợp sau:

Trường hợp thứ nhất, tổ chức đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyển cấp giấy phép đầu tư hoặc giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh, kể từ khi đó họ được xem là có hành vi kinh doanh mà không cần quan tâm đến việc họ đã thực hiện hành vi kinh doanh trên thực tế hay chưa.

Trường hợp thứ hai, tổ chức đã thực tế tiến hành hoạt động kinh doanh trong những lĩnh vực, ngành nghề mà Nhà nước không cấm nhưng họ chưa đăng kí kinh doanh thì cũng được xem là có đủ dấu hiệu “có hành vi kinh doanh” và thời điểm xác định họ có hành vi kinh doanh kể từ thời điểm họ bắt đầu thực hiện hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, hành vi kinh doanh này có thể coi là chưa hợp thức về phương diện quản lí hành chính nhưng có thể coi hợp thức trên phương diện quản lí thuế khi họ đã làm thủ tục đăng kí thuế trước hoặc cùng với thời điểm tiến hành hoạt động kinh doanh của mình.

Khi một tổ chức được xác định có hành vi kinh doanh thì khi đó phát sinh nghĩa vụ đăng kí thuế của họ với cơ quan thuế. Tuy nhiên, chưa làm phát sinh nghĩa vụ kê khai, nộp thuế, quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp.

Thứ hai, có thu nhập phát sinh.

Dấu hiệu có thu nhập phát sinh là căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ kê khai, nộp thuế, quyết toán thuế của đối tượng nộp thuế. Tuy nhiên, thu nhập phát sinh ở đây phải là thu nhập chịu thuế theo quy định của pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp, cụ thể:

“Thu nhập chịu thuế bao gồm thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ và thu nhập khác”.

Về nguyên tắc bất kì khoản thu nhập nào của tổ chức kinh doanh thì đều phải chịu thuế thu nhập doanh nghiệp

III. CĂN CỨ TÍNH THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP

Theo quy định tại Luật thuế thu nhập doanh nghiệp thì căn cứ tính thuế TNDN là Thu nhập tính thuế và thuế suất. Cụ thể:

Thuế TNDN=Thu nhập tính thuếxThuế suất

3.1. Thu nhập tính thuế:

– Thu nhập tính thuế trong kỳ tính thuế được xác định như sau:

Thu nhập tính thuế=Thu nhập chịu thuếThu nhập được miễn thuếCác khoản lỗ được kết chuyển

– Thu nhập chịu thuế được xác định theo công thức:

Thu nhập chịu thuế=(Doanh thu – Chi phí được trừ)+Thu nhập chịu thuế khác

Trong đó:

  • Doanh thu là toàn bộ tiền bán hàng, tiền gia công, tiền cung ứng dịch vụ. Bao gồm cả khoản phụ thu, phụ trội mà cơ sở kinh doanh được hưởng. Không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền.

Nếu DN kê khai thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ: Là doanh thu không có thuế GTGT;

Nếu DN kê khai thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp: Là doanh thu bao gồm cả thuế GTGT.

  • Chi phí được trừ là những khoản chi phí không nằm trong các khoản chi phí không được trừ theo quy định của pháp luật. Và đồng thời các khoản chi phí được trừ phải đáp ứng các điều kiện sau:

Khoản chi thực tế phát sinh liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.

Khoản chi có đủ hóa đơn, chứng từ hợp pháp theo quy định của pháp luật.

Khoản chi nếu có hóa đơn mua hàng hóa, dịch vụ từng có giá trị từ 20 triệu đồng trở lên (giá đã bao gồm thuế GTGT) khi thanh toán phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt.

– Thu nhập miễn thuế: Các khoản thu nhập được miễn thuế TNDN gồm 12 khoản thu nhập được miễn thuế TNDN quy định pháp luật.

– Các khoản lỗ được kết chuyển:

Các khoản lỗ phát sinh trong kỳ tính thuế là số chênh lệch âm về thu nhập tính thuế. Chưa bao gồm các khoản lỗ được kết chuyển từ các năm trước.

Doanh nghiệp sau khi quyết toán thuế cả năm mà bị lỗ thì phải chuyển toàn bộ và liên tục số lỗ vào thu nhập chịu thuế của những năm theo. Thời gian chuyển lỗ tính liên tục không quá 5 năm, kể từ năm tiếp sau năm phát sinh lỗ.

Doanh nghiệp có số lỗ giữa các quý trong cùng một năm tài chính thì được bù trừ số lỗ của quý trước vào các quý tiếp theo của năm tài chính đó. Khi quyết toán thuế toán thuế TNDN, doanh nghiệp xác định số lỗ của cả năm.

Quá thời hạn 5 năm kể từ năm tiếp sau năm phát sinh lỗ, nếu số lỗ chưa chuyển hết thì sẽ không được chuyển vào thu nhập của các năm tiếp theo.

3.2. Thuế suất thuế TNDN:

Mức thuế suất thu nhập doanh nghiệp năm 2021 là 20% được quy định tại Điều 11 Thông tư 78/2014/TT-BTC, cụ thể như sau:

Trước ngày 01/01/2016:

  • Doanh nghiệp hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có tổng doanh thu năm không quá 20 tỷ đồng áp dụng thuế suất 20%.
  • Doanh nghiệp có tổng doanh thu năm trên 20 tỷ đồng áp dụng thuế suất 22%.
  • Doanh nghiệp mới thành lập trong năm không đủ 12 tháng:
    • Trong năm tạm tính quý theo mức thuế suất 22% (trừ trường hợp thuộc diện được hưởng ưu đãi về thuế);
    • Kết thúc năm tài chính nếu doanh thu bình quân của các tháng trong năm không vượt quá 1,67 tỷ đồng thì doanh nghiệp quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp của năm tài chính theo thuế suất 20%;
    • Doanh thu bình quân của các tháng trong năm đầu tiên không vượt quá 1,67 tỷ đồng thì năm tiếp theo doanh nghiệp được áp dụng thuế suất thuế TNDN 20%.

Từ ngày 01/01/2016 đến nay tất cả các doanh nghiệp đang áp dụng mức thuế suất 20% và 22% chuyển sang áp dụng mức thuế suất 20%.

  • Các trường hợp đặc biệt:
    • Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp đối với hoạt động tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí tại Việt Nam từ 32% đến 50%. Căn cứ vào vị trí khai thác, điều kiện khai thác và trữ lượng mỏ doanh nghiệp có dự án đầu tư tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí gửi hồ sơ dự án đầu tư đến Bộ Tài chính để trình Thủ tướng Chính phủ quyết định mức thuế suất cụ thể cho từng dự án, từng cơ sở kinh doanh.

Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp đối với hoạt động tìm kiếm, thăm dò, khai thác các mỏ tài nguyên quý hiếm (bao gồm: bạch kim, vàng, bạc, thiếc, wonfram, antimoan, đá quý, đất hiếm trừ dầu khí) áp dụng thuế suất 50%; Trường hợp các mỏ tài nguyên quý hiếm có từ 70% diện tích được giao trở lên ở địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn thuộc danh mục địa bàn ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp ban hành kèm theo Nghị định số 218/2013/NĐ-CP của Chính phủ áp dụng thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp 40%.

3.3. Một vài ví dụ về căn cứ tính thuế thu nhập doanh nghiệp

VÍ DỤ:

Doanh nghiệp A kinh doanh điện thoại nhập khẩu thương hiệu X. Vào năm 20xx, doanh thu của công ty ước đạt 10 tỷ đồng. Doanh nghiệp này nhập khẩu 1000 chiếc điện thoại từ nước ngoài về với giá 7.000.000đ/chiếc có đầy đủ hoá đơn, chứng từ thuế GTGT. Tiền thuế tính trên mỗi chiếc điện thoại là 10% giá bán. Về thị trường trong nước, doanh nghiệp A phân phối lại điện thoại thương hiệu X với giá 10.000.000đ và người mua phải trả 11.000.000đ để mua chiếc điện thoại trên (10% thuế GTGT).

Vậy, số thuế TNDN mà doanh nghiệp này phải nộp là (10 tỷ – 7 tỷ) x 20%= 600 triệu đồng.

Qua nghiên cứu lý luận về thuế TNDN, chính sách thuế TNDN và quản lý thuế TNDN và cơ sở thực tiễn thuế TNDN ở Việt Nam, có thể rút ra một số kết luận cơ bản sau:

Thứ nhất, thực trạng về chính sách thuế TNDN tại Việt Nam cho đến nay đã làm rõ tác động tích cực của sắc thuế này đối với nền kinh tế.

Thứ hai, một số giải pháp nhằm hoàn thiện và thực hiện tốt chính sách thuế Thu nhập doanh nghiệp.

Thứ ba, yêu cầu về quản lý thuế TNDN, cụ thể về quản lý rủi ro trong hoạt động thanh tra kiểm tra thuế đối với DN, đề xuất các tiêu chí đánh giá rủi ro như về mức độ tuân thủ của người nộp thuế và tiêu chí về nợ thuế của người nộp thuế trong hoạt động thanh tra kiểm tra thuế để thực hiện tốt quản lý  thuế TNDN. Bên cạnh đó, một số giải pháp đáng chú ý nữa là: tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động quản lý thuế, cụ thể: phát triển phần mềm hỗ trợ phân tích rủi ro; đầu tư xây dựng và phát triển hạ tầng công nghệ thông tin và giao dịch điện tử; Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cho công tác quản lý thuế; Tăng cường công tác phối hợp giữa các bộ phận trong cơ quan thuế; tăng cường hợp tác quốc tế về thuế; ngoài những giải pháp đột phá, còn rất cần sự cam kết, kiên định đồng hành của Chính Phủ./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Giáo trình Luật thuế Việt Nam, NXB Công An nhân dân, tái bản lần thứ 12 năm 2019

2. Luật thuế Thu nhập Doanh nghiệp 2008;

3. Văn bản hợp nhất Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp ban hành ngày 15 tháng 7 năm 2020;

Ký Hợp đồng thử việc thì nếu gây thiệt hại có phải bồi thường không

Ký Hợp đồng thử việc hoặc không Ký hợp đồng lao động thì nếu gây thiệt hại có phải bồi thường không.

Ngày 1/3/2019, A và công ty X có địa chỉ tại quận Nam Từ Liêm, Hà Nội ký hợp đồng thử việc với các điều khoản: thời gian 90 ngày, lương thử việc bằng lương cơ sở, công việc là nhân viên kiểm tra sản phẩm. Hết hạn thử việc các bên không ký HĐLĐ nhưng A vẫn tiếp tục làm việc tại công ty X. Ngày 15/8/2021, do sơ xuất trong quá trình vận hành máy nên A đã làm nổ thiết bị khiến công nhân H đứng gần đó bị thương phải vào bệnh viện điều trị 1 tháng, sau khi ra viện giám định bị suy giảm 55% khả năng lao động. Công ty đã phải bỏ ra 50 triệu để sửa chữa máy móc bị hỏng. Sau sự việc đó, giám đốc doanh nghiệp dự kiến xử lý kỷ luật sa thải A và yêu cầu A bồi thường thiệt hại.

Hỏi:

1. Nhận xét hợp đồng thử việc của A và công ty X?

Căn cứ theo điều 25 của BLLĐ 2019 về thời gian thử việc:

Thời gian thử việc do hai bên thỏa thuận căn cứ vào tính chất và mức độ phức tạp của công việc nhưng chỉ được thử việc một lần đối với một công việc và bảo đảm điều kiện sau đây:

1. Không quá 180 ngày đối với công việc của người quản lý doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp;

2. Không quá 60 ngày đối với công việc có chức danh nghề nghiệp cần trình độ chuyên môn, kỹ thuật từ cao đẳng trở lên;

3. Không quá 30 ngày đối với công việc có chức danh nghề nghiệp cần trình độ chuyên môn, kỹ thuật trung cấp, công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ;

4. Không quá 06 ngày làm việc đối với công việc khác.

– Việc Công ty X ký hợp đồng thử việc với công ty A thời hạn 90 ngày là không đúng theo quy định của pháp luật và sẽ phải chịu các chế tài theo quy định. Vị trí mà nhân viên A làm không phải là một trong các công việc đặc biệt quy định ở khoản 1.

– Chính vì vậy, chỉ có thể ký hợp đồng thử việc tối đa là 60 ngày. Nhưng công ty X lại ký hợp đồng thử việc 90 ngày vì vậy điều khoản này trong hợp đồng sẽ bị vi phạm và phải căn cứ vào quy định ở điều 25 bộ luật này để xác định thời hạn thử việc.

– Thực tế nếu công ty muốn thử việc nhân viên A trong 90 ngày thì có thể ký hai hợp đồng thử việc, trong đó quy định rõ ràng không vượt quá số ngày pháp luật quy định. Đó cũng là một trong những khe hở của bộ luật lao động 2019 khi không quy định rõ ràng về số lần thử việc của người lao động.

2. Công ty có căn cứ để sa thải A hay không? Tư vấn cho công ty các thủ tục để việc xử lý kỷ luật đối với A hợp pháp?

– Công ty X có căn cứ để sa thải A trong trường hợp:

+ Thứ nhất, xét trên góc độ thực tế việc A và công ty X không ký kết hợp đồng lao động cũng là một sự bất lợi cho cả hai bên về nhiều khía cạnh. Và việc không ký kết hợp đồng với người lao động bằng văn bản có thể khiến người sử dụng lao động vi phạm phát luật và chịu các chế tài theo quy định của pháp luật. Trong đó liên quan đến tình huống này về phía người lao động ở đây, sự bất lợi đó chính là việc các quyền của người lao động không được đảm bảo đồng nghĩa với việc nghĩa vụ của NLĐ với NSDLĐ không được đảm bảo. Căn cứ theo điều 14 BLLĐ 2019 thì hình thức của HĐLĐ phải được thể hiện bằng văn bản trừ trường hợp giao kết dưới 1 tháng lao động. Chính vì vậy khi xảy ra tranh chấp, việc NLĐ đòi lại quyền lợi của mình là rất khó khăn. Việc A không yêu cầu ký hợp đồng lao động sau khi

+ Thứ hai, giả thiết đặt NLĐ ở đây đang trong một quan hệ lao động hợp pháp được cả hai bên ngầm thỏa thuận nhưng chưa kịp kí kết hợp đồng lao động vì một số lý do thì sự việc xảy ra do lỗi của người nhân viên A có thể bị sa thải căn cứ theo khoản 2 điều 125 BLLĐ 2019:

2. Người lao động có hành vi tiết lộ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của người sử dụng lao động, có hành vi gây thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe dọa gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng về tài sản, lợi ích của người sử dụng lao động hoặc quấy rối tình dục tại nơi làm việc được quy định trong nội quy lao động;

→ Như vậy với tình huống đưa ra, việc ngươì lao động sơ xuất trong quá trình vận hành máy đã làm nổ thiết bị khiến công nhân H đứng gần đó bị thương phải vào bệnh viện điều trị 1 tháng đã gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho công ty. Công nhân H thì đã có bên phía bảo hiểm chi trả phần tổn thất do tai nạn trong lúc làm việc nhưng những tài sản của công ty thì đã bị tổn thất nghiêm trọng cụ thể là mất 50 trđ để sửa chữa máy móc bị hỏng. Phía công ty X có thể đưa ra căn cứ hành vì sơ xuất của nhân viên A gây thiệt hại nghiêm trọng tới tài sản của công ty nên công ty có quyền sa thải nhân viên A. Trong nội quy công ty nếu có nếu rõ mức độ thiệt hại nghiêm trong ở khoảng 50 trđ sẽ sa thải NLĐ thì càng có căn cứ chắc chắn hơn để tiến hành xử lý kỉ luật nhân viên A bằng hình thức sa thải.

* Thủ tục xử lý kỉ luật đối với nhân viên A của công ty X như sau:

Tiến hành họp xử lý lao động tại công ty X. NSDLĐ thông báo cho những thành phần có liên quan: Nhân viên A, tổ chức đại diện người lao động tại công ty với A là thành viên về nội dung, thời gian, địa điểm tiến hành cuộc họp xử lý kỷ luật lao động, họ tên người bị xử lý kỷ luật lao động, hành vi vi phạm bị xử lý kỷ luật lao động trước 5 ngày họp.

– Phía lãnh đạo công ty phải nhận được xác nhận từ phía các thành phần sẽ tham gia vào buổi họp. Trường hợp 1 trong các thành phần vắng mặt thì chuyển buổi họp sang hôm khác để đảm bảo được tính khách quan của buổi họp, trường hợp hai bên không thỏa thuận được thì người sử dụng lao động quyết định thời gian, địa điểm họp vẫn tiến hành họp xử lý kỷ luật lao động; Tránh việc xảy ra tranh chấp sau đó cho công ty X

– Nội dung cuộc họp xử lý kỷ luật lao động phải được lập thành biên và có chữ ký của người tham dự cuộc họp (trường hợp có người không ký vào biên bản thì người ghi biên bản nêu rõ họ tên, lý do không ký (nếu có) vào nội dung biên bản).

– Trong thời hiệu xử lý kỷ luật lao động là trong 6 tháng tính từ thời điểm có hành vi vi phạm kỉ luật xảy ra, phía NSDLĐ bên công ty X ban hành quyết định xử lý sa thải A và gửi đến nhân viên A, tổ chức đại diện cho người lao động tại cơ sở.

3. Giả sử công ty X không giải quyết quyền lợi cho anh H vì cho rằng anh A là người gây ra tai nạn cho anh H nên anh A có trách nhiệm phải bồi thường. Ý kiến của anh (chị) về vấn đề này? Giải quyết quyền lợi cho anh HH H theo quy định của pháp luật?

Theo như giả thiết nêu trên, em không đồng tình với quan điểm này. Bởi vì:

– Anh H là nhân viên của công ty X- là người lao động của công ty X, ký hợp đồng lao động với người đại diện hợp pháp của công ty X. Mối quan hệ này được Bộ luật lao động 2019 điều chỉnh. Chính vì vậy, công ty X phải có trách nhiệm với mọi vấn đề liên quan đến anh H khi anh H đang trong quá trình làm việc tại công ty hoặc được giao công việc. Trong trường hợp này, công ty X phải có nghĩa vụ giải quyết quyền lợi cho NLĐ H vì anh H bị tai nạn trong quá trình làm việc tại công ty X và công ty X phải chịu bồi thường thiệt hại cho anh H.

  Phần bồi thường mà công ty X phải bồi thường cho anh H theo quy định của pháp luật được tính như sau:

+ Phía bảo hiểm xã hội, y tế phải chi trả cho các chi phí cơ bản tai nạn nghề nghiệp của anh H theo quy định của Thông tư 26/2017/TT-BTBVXH về chế độ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.

+ Công ty X phải bồi thường thiệt hại căn cứ theo điều 6 của BLLĐ 2019 về nghĩa vụ của NSDLĐ với NLĐ: “d) Thực hiện quy định của pháp luật về lao động, việc làm, giáo dục nghề nghiệp, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và an toàn, vệ sinh lao động; xây dựng và thực hiện các giải pháp phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc;…”và Điều 134. Bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc

“1. Người sử dụng lao động có trách nhiệm thực hiện đầy đủ các giải pháp nhằm bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc”. Công ty X có trách nhiệm bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động cho người lao động tại nơi làm việc. Trong trường hợp này, mặc dù đó là sự cố không mong muốn của công ty X nhưng việc để NLĐ xảy ra tai nạn trong quá trình làm việc chịu sự giám sát và quản lý của NSDLĐ. Và công ty X với anh H là mối quan hệ lao động hợp pháp. Chính vì vậy, công ty X phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho anh H và anh H cũng có quyền yêu cầu công ty X bồi thường thiệt hại cho mình theo thỏa thuận trong hợp đồng và theo quy định của pháp luật. Về các chi phí bồi thường như thế nào được quy định trong điều 38 Luật an toàn vệ sinh lao động 2015 về Trách nhiệm của người sử dụng lao động đối với người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.

Note: Khi công ty X đã bồi thường cho anh H theo đúng thỏa thuận và quy định pháp luật thì phía bên công ty X có thể yêu cầu nhân viên A chịu 1 phần trách nhiệm bồi thường về vấn đề sơ xuất trong quá trình vận hành máy nên A đã làm nổ thiết bị khiến công nhân H đứng gần đó bị thương phải vào bệnh viện điều trị 1 tháng, sau khi ra viện giám định bị suy giảm 55% khả năng lao động.

Bình luận điểm mới của Bộ luật lao động năm 2019 về kỷ luật lao động

Bình luận điểm mới của Bộ luật lao động năm 2019 về kỷ luật lao động.

Tuân theo quy định pháp luật là sự bắt buộc phải tuân theo các cách xử sự chung, các quy phạm mang tính bắt buộc và được đảm bảo tuân theo bằng bộ máy cưỡng chế. Kỷ luật cũng là những quy định xử sự chung nhưng nó có phạm vi điều chỉnh hẹp hơn pháp luật, nó có thể là kỷ luật của một cộng đồng hoặc của tổ chức xã hội yêu cầu mọi người phải tuân theo nhằm tạo ra sự thống nhất hành động để đạt chất lượng, hiệu quả cao. Chính vì vậy kỉ luật giữ một vai trò rất quan trọng trong việc duy trì trật tự và ổn định. Kỷ luật trong lao động cũng vậy. Căn cứ theo điều 117 BLLĐ 2019: “ Kỷ luật lao động là những quy định về việc tuân theo thời gian, công nghệ và điều hành sản xuất, kinh doanh do người sử dụng lao động ban hành trong nội quy lao động và do pháp luật quy định”.

Kỷ luật lao động đã được quy định ở trong Bộ luật lao động từ khi nó ra đời vào năm 1994. Cho đến này, khi BLLĐ năm 2019 được ban hành với những điểm mới hoàn thiện hơn so với các bộ luật trước. Trong đó, vấn đề liên quan đến kỉ luật lao động có những điểm mới như sau:

I. KHÁI NIỆM KỶ LUẬT LAO ĐỘNG

BLLĐ 2019: Kỷ luật lao động là những quy định về việc tuân theo thời gian, công nghệ và điều hành sản xuất, kinh doanh do NSDLĐ ban hành trong nội quy lao động và do pháp luật quy định.

BLLĐ 2012: Kỷ luật lao động là những quy định về việc tuân theo thời gian, công nghệ và điều hành sản xuất, kinh doanh trong nội quy lao động.

→ Như vậy, quy định mới đã mở rộng nguồn của kỷ luật lao động không còn phạm vi như trước chỉ phụ thuộc vào nội quy lao động nữa. Việc mở rộng khái niệm kỷ luật lao động, sẽ giúp giải quyết nhiều vướng mắc liên quan đến kỷ luật lao động. Khi NSDLĐ và NLĐ không có quy định rõ ràng nội dung liên quan đến kỷ luật lao động thì khi đó vai trò của các quy định theo pháp luật sẽ được áp dụng. Và cơ quan Nhà nước giải quyết các vấn đề liên quan đến kỷ luật lao động sẽ không gặp phải các vướng mắc theo bộ luật cũ nữa.

II. NỘI QUY LAO ĐỘNG THEO QUY ĐỊNH BỘ LUẬT LAO ĐỘNG 2019

Theo quy định tại Điều 118 BLLĐ 2019 thì NSDLĐ phải ban hành nội quy lao động, nếu sử dụng từ 10 NLĐ trở lên thì nội quy lao động phải bằng văn bản.

(BLLĐ 2012 chỉ quy định “NSDLĐ sử dụng từ 10 NLĐ trở lên phải có nội quy lao động bằng văn bản.”)

2.1. Những nội dung chủ yếu trong nội quy lao động

Nội dung nội quy lao động không được trái với pháp luật về lao động và quy định của pháp luật có liên quan; nội quy lao động bao gồm những nội dung chủ yếu sau đây:

– Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi;

– Trật tự tại nơi làm việc;

– An toàn, vệ sinh lao động;

Phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc; trình tự, thủ tục xử lý hành vi quấy rối tình dục tại nơi làm việc (quy định mới);

→ Vấn đề quấy rối tình dục tại nơi làm việc không phải là một vấn đề xa lạ với người lao động, đặc biệt là lao động nữ. Trong thời đại hội nhập kinh tế, bình đẳng giới và bảo vệ quyền lợi cho nữ giới luôn được cộng đồng quan tâm và ủng hộ. Trong quá trình quyết các vấn đề liên quan tới vấn đề quấy rối tại nơi làm việc, cơ quan có thẩm quyền cũng gặp phải các vướng mắc. Vì vậy, việc bổ sung điểm mới này của BLLĐ 2019 là vô cùng cần thiết và hợp lí.

– Việc bảo vệ tài sản và bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, sở hữu trí tuệ của NSDLĐ;

– Trường hợp được tạm thời chuyển NLĐ làm việc khác so với hợp đồng lao động (quy định mới);

→ Theo xu hướng tất yếu của nền kinh tế, người lao động không những có chuyên môn cao và còn phải có năng lực thích nghi trong nhiều điều kiện khác nhau. Vì vậy, trong những thời điểm đặc biệt khi doanh nghiệp đang cần điều chuyển nhân sự gấp vì một số lý do chính đáng, người lao động có nghĩa vụ tạm thời điều chuyển theo yêu cầu của người sử dụng lao động kể cả là công việc không được thỏa thuận trong hợp đồng. Và NSDLĐ phải đưa ra lý do hợp lý được ghi nhận trong nội quy lao động. Cụ thể lý do chính đáng như thế nào được quy định tại điều 29 BLLĐ 2019.

– Các hành vi vi phạm kỷ luật lao động của NLĐ và các hình thức xử lý kỷ luật lao động;

– Trách nhiệm vật chất;

Người có thẩm quyền xử lý kỷ luật lao động (quy định mới).

→ Bộ luật cũ không quy định về chủ thể có thẩm quyền xử lý lao động mà chỉ có văn bản hướng dẫn theo Nghị định số 05/2015/NĐ-CP. Nội dung quy định trong văn bản hướng dẫn tương đối hẹp, gây nhiều khúc mắc cho các doanh nghiệp sử dụng lao động. Quy định mới trong bộ luật 2019 đã có cách tiếp cận toàn diện hơn so với các văn bản hướng dẫn cũ, cụ thể: “Người có quyền xử lý kỷ luật lao động là người sử dụng lao động trong lĩnh vực quản lý lao động”.

2.2. Luật hóa nội dung “sử dụng dưới 10 lao động không phải đăng ký nội quy lao động”

– Theo đó, Khoản 1 Điều 119 BLLĐ 2019 quy định NSDLĐ sử dụng từ 10 NLĐ trở lên phải đăng ký nội quy lao động tại cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi NSDLĐ đăng ký kinh doanh.

Như vậy, từ ngày 01/01/2021, NSDLĐ sử dụng dưới 10 NLĐ không phải đăng ký nội quy lao động.

(Nội dung này theo luật cũ được được quy định tại Khoản 4 Điều 10 Thông tư 47/2015/TT-BLĐTBXH và không được quy định trong BLLĐ 2012)

Với quy định này, việc ban hành nội quy lao động trong doanh nghiệp vừa là quyền, lại vừa là nghĩa vụ bắt buộc. Bởi lẽ:

Nội quy lao động là các xử sự chung mà doanh nghiệp dùng để duy trì trật tự, là căn cứ hợp pháp để Doanh nghiệp xử lý kỷ luật lao động, nên việc ban hành nội quy lao động nhằm hạn chế được những hành vi mà người lao có thể vi phạm, góp phần nâng cao năng suất lao động của họ. Từ đó, việc ban hành nội quy lao động thể hiện “quyền” của người sử dụng lao động. Khi biết rõ nhiệm vụ của mình và cả những chế tài dự liệu, người lao động sẽ hạn chế được những vi phạm, góp phần nâng cao năng suất lao động. Về “nghĩa vụ”, nhằm tăng cường tinh thần trách nhiệm của người sử dụng lao động từ 10 người lao động trở lên trong việc tuân theo các quy định của pháp luật, quy định ở điều này bắt buộc những doanh nghiệp sử dụng từ 10 người lao động trở lên phải ban hành nội quy lao động bằng văn bản.

2.3. Khi xử lý kỷ luật với NLĐ chưa đủ 15 tuổi thì phải có sự tham gia của người đại diện theo pháp luật

– Căn cứ Khoản 1 Điều 122 BLLĐ 2012 thì tiến hành xử lý kỷ luật lao động, NLĐ phải có mặt và có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc tổ chức đại diện NLĐ bào chữa; Trường hợp là người chưa đủ 15 tuổi thì phải có sự tham gia của người đại diện theo pháp luật.

(BLLĐ 2012 quy định trường hợp là người dưới 18 tuổi thì phải có sự tham gia của cha, mẹ hoặc người đại diện theo pháp luật)

→ Theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Dân sự năm 2015, cha, mẹ đương nhiên là người đại diện theo pháp luật của con chưa thành niên. Vì vậy BLLĐ năm 2019 đã bỏ quy định về sự có mặt của cha, mẹ người lao động chưa thành niên khi bị xử lý kỷ luật lao động. BLLĐ này cũng đã điều chỉnh độ tuổi dành cho nguyên tắc này.

2.4. Về thời hiệu xử lý kỷ luật lao động

Thời hiệu xử lý kỷ luật lao động là 06 tháng kể từ ngày xảy ra hành vi vi phạm; trường hợp hành vi vi phạm liên quan trực tiếp đến tài chính, tài sản, tiết lộ bí mật công nghệ, bí mật kinh doanh của NSDLĐ thì thời hiệu xử lý kỷ luật lao động là 12 tháng;

Khi hết thời gian không được xử lý kỷ luật lao động theo quy định tại Khoản 4 Điều 122 BLLĐ 2019 (khoảng thời gian không được xử lý kỷ luật lao động), nếu hết thời hiệu hoặc còn thời hiệu nhưng không đủ 60 ngày thì được kéo dài thời hiệu để xử lý kỷ luật lao động nhưng không quá 60 ngày kể từ ngày hết thời gian nêu trên.

NSDLĐ phải ban hành quyết định xử lý kỷ luật lao động trong thời hạn theo quy định trên.

  Như vậy, khi hết thời gian không được xử lý kỷ luật mà trường hợp còn thời hiệu nhưng không đủ 60 ngày sẽ được kéo dài thời hiệu (BLLĐ 2012 quy định phải xử lý ngay,không được kéo dài).

2.5. Thêm trường hợp NSDLĐ được sa thải NLĐ

BLLĐ 2019 bổ sung thêm 01 trường hợp NSDLĐ được áp dụng hình thức kỷ luật sa thải đối với NLĐ bên cạnh các trường hợp khác theo quy định hiện hành.

Cụ thể là trường hợp “NLĐ có hành vi quấy rối tình dục tại nơi làm việc được quy định trong nội quy lao động“.

Trong đó, quấy rối tình dục tại nơi làm việc là hành vi có tính chất tình dục của bất kỳ người nào đối với người khác tại nơi làm việc mà không được người đó mong muốn hoặc chấp nhận. Nơi làm việc là bất kỳ nơi nào mà NLĐ thực tế làm việc theo thỏa thuận hoặc phân công của NSDLĐ.

   Các trường hợp áp dụng kỷ luật sa thải tại Bộ luật Lao động năm 2019 không thay đổi so với Bộ luật Lao động năm 2012, trừ việc Bộ luật Lao động năm 2019 bổ sung thêm trường hợp khi người lao động “quấy rối tình dục tại nơi làm việc được quy định trong nội quy lao động”. Khoản 9 Điều 3 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định “Quấy rối tình dục tại nơi làm việc là hành vi có tính chất tình dục của bất kỳ người nào đối với người khác tại nơi làm việc mà không được người đó mong muốn hoặc chấp nhận. Nơi làm việc là bất kỳ nơi nào mà người lao động thực tế làm việc theo thỏa thuận hoặc phân công của người sử dụng lao động.”

   Như vậy, doanh nghiệp cần dựa trên khái niệm về hành vi “quấy rối tình dục tại nơi làm việc”, các quy định có liên quan đến hành vi này trong nội quy lao động và đó là cơ sở để xử lý kỷ luật đối với người lao động có hành vi vi phạm.

III. HÌNH THỨC KỶ LUẬT LAO ĐỘNG

* Về các hành vi bị nghiêm cấm khi xử lý kỷ luật lao động

   BLLĐ 2019: các hành vi bị nghiêm cấm khi xử lý kỷ luật lao động gồm:

Xâm phạm sức khỏe, danh dự, tính mạng, uy tín, nhân phẩm của NLĐ.

– Phạt tiền, cắt lương thay việc xử lý kỷ luật lao động.

– Xử lý kỷ luật lao động đối với NLĐ có hành vi vi phạm không được quy định trong nội quy lao động hoặc không thỏa thuận trong hợp đồng lao động đã giao kết hoặc pháp luật về lao động không có quy định.

   Như vậy, để việc thực hiện xử lý kỷ luật đối với người lao động từ ngày 01/01/2021 một cách hợp pháp và tránh các khiếu nại, tranh chấp có thể xảy ra sau này, thì hành vi vi phạm phải được quy định tại nội quy lao động hoặc hợp đồng lao động hoặc văn bản quy phạm pháp luật.

**BLLĐ 2012: các hành vi bị nghiêm cấm khi xử lý kỷ luật lao động gồm:

– Xâm phạm thân thể, nhân phẩm của NLĐ.

– Dùng hình thức phạt tiền, cắt lương thay việc xử lý kỷ luật lao động.

– Xử lý kỷ luật lao động đối với NLĐ có hành vi vi phạm không được quy định trong nội quy lao động.

Note:  Về trách nhiệm vật chất khi NLĐ làm thất thoát tài sản của NSDLĐ được BLLĐ 2019 quy định như sau:

– NLĐ làm hư hỏng dụng cụ, thiết bị hoặc có hành vi khác gây thiệt hại tài sản của NSDLĐ thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật hoặc nội quy lao động của NSDLĐ (BLLĐ 2012 chỉ quy định bồi thường theo quy định của pháp luật);

– NLĐ làm mất dụng cụ, thiết bị, tài sản của NSDLĐ hoặc tài sản khác do NSDLĐ giao hoặc tiêu hao vật tư quá định mức cho phép thì phải bồi thường thiệt hại một phần hoặc toàn bộ theo thời giá thị trường hoặc nội quy lao động (BLLĐ 2012 chỉ quy định bồi thường theo giá thị trường); Trường hợp có hợp đồng trách nhiệm thì phải bồi thường theo hợp đồng trách nhiệm; trường hợp do thiên tai, hỏa hoạn, địch họa, dịch bệnh nguy hiểm, thảm họa, sự kiện xảy ra khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép thì không phải bồi thường.

  Kỉ luật lao động chính là cơ sở để tổ chức lao động khoa học và có hiệu quả trong phạm vi đơn vị sử dụng lao động và hên phạm vi của toàn xã hội. Thông qua kỉ luật lao động, người sử dụng lao động sẽ duy trì được trật tự, nề nếp trong doanh nghiệp, ổn định được sản xuất kinh doanh.

  Kỉ luật lao động là một trong những căn cứ để người lao động phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ lao động của mình, là thước đo tác phong, bản lĩnh của người lao động trong xã hội công nghiệp hiện đại. Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, việc tuân thủ tốt kỉ luật lao động còn là một trong các yếu tố thu hút đầu tư trong nước cũng như nước ngoài, giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động. Kỉ luật lao động còn tạo ra môi trường và điều kiện cho quan hệ lao động phát triển hài hoà, ổn định, trên cơ sở đó ổn định trật tự chung của xã hội. Sự tuân thủ nghiêm túc kỉ luật lao động của người lao động cũng sẽ tạo cho người lao động ý thức chấp hành tốt các quy định của nhà nước cũng như trật tự xã hội nói chung. Do đó, có thể thấy rằng, kỉ luật lao động trong các đơn vị được duy trì cũng sẽ là một trong các yếu tố để xã hội được ổn định và phồn vinh.

Đặc điểm các thuộc tính nhân cách của bản thân và nêu phương hướng rèn luyện

Mô tả đặc điểm các thuộc tính nhân cách của bản thân và nêu phương hướng rèn luyện.

          Con người luôn luôn là vấn đề trọng tâm của mỗi thời đại, mỗi xã hội, và mỗi thể chế chính trị. Đặc biệt, trong xã hội Việt Nam hiện nay mỗi khi đánh giá về một con người thường chủ yếu nói về nhân cách. Nhân cách là yếu tố quan trọng quyết định chất lượng mối quan hệ giữa con người với con người từ những chuyện bình thường, mối quan hệ gia đình, đến mối quan hệ xã hội. Nhân cách thể hiện qua cách ứng xử của con người với nhau, cũng như với những sự việc trong cuộc sống, đồng thời nhân cách thể hiện trình độ văn hóa, nhân tính và nguyên tắc sống của con người. Nhà tâm lý học nổi tiếng người Nga Lev Vygotsky đã từng khẳng định: Vấn đề nhân cách và phát triển nhân cách là vấn đề tập trung cao nhất của toàn bộ tâm lý học. Nhân cách là toàn bộ các giá trị mà con người đạt được trong sự trưởng thành xã hội của nó. Những giá trị đó gắn liền với những chức năng và vị thế của con người trong các quan hệ xã hội mà nó biểu hiện ra bằng hoạt động, với tất cả sự phong phú và toàn vẹn của đời sống cá nhân trong môi trường xã hội. Vì vậy, vấn đề nhân cách và giáo dục nhân cách phải được nhìn nhận là điểm cốt lõi nhất, là chỗ sâu sắc và tinh tế nhất của triết lý giáo dục. Do đó, trong phạm vi bài tiểu luận này, em xin được trình bày về vấn đề nhân cách và thuộc tính nhân cách của bản thân em với đề tài “Mô tả đặc điểm các thuộc tính nhân cách của bản thân và nêu phương hướng rèn luyện”.

I. Các thuộc tính tâm lý của nhân cách và đặc điểm các thuộc tính tâm lý nhân cách của bản thân:

          Nhân cách chỉ bao hàm phần xã hội, tâm lý của cá nhân mà thôi. Đó là con người với tư cách là chủ thể của hoạt động, chủ thể của quan hệ người – người. Theo A. G. Covaliov: “Nhân cách là một cá nhân có ý thức, chiếm vị trí nhất định trong xã hội và đang thực hiện một vai trò xã hội nhất định”; Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: Nhân cách gồm 2 mặt đức và tài. Hay theo Phạm Minh Hạc, Trần Trọng Thủy, nhân cách là toàn bộ những đặc điểm, phẩm chất tâm lý của cá nhân quy định giá trị xã hội và hành vi xã hội của họ.

          Nhân cách của một con người có những đặc điểm như: tính thống nhất, tính ổn định, tính tích cực và tính giao lưu. Người có nhân cách luôn làm chủ được suy nghĩ và hành động để không ảnh hưởng đến người xung quanh, sẵn sàng hy sinh lợi ích cá nhân, biết lắng nghe và luôn lắng nghe để hoàn thiện bản thân mình…Nhân cách con người còn được biểu hiện qua rất nhiều hình thái: Ứng xử, lời ăn tiếng nói… “Lời nói không mất tiền mua…”. Bên cạnh đó, nhân cách còn được đánh giá qua tư tưởng, thái độ, hành động. Có nhân cách thì tư tưởng cởi mở, trong sáng, thái độ hòa hiếu, hành động dứt khoát, quyết liệt … và ngược lại.

          Các thuộc tính tâm lý của nhân cách là xu hướng, tính cách, năng lực và khí chất. Cũng giống như một vecto lực có phương, chiều, cường độ và tính chất của nó thì xu hướng nói lên phương hướng phát triển nhân cách, năng lực nói lên cường độ của nhân cách, khí chất và tính cách lại thể hiện tính chất, phong cách của nhân cách bản thân.

1. Xu hướng và phương hướng rèn luyện.

          Xu hướng là ý định hướng tới những mục tiêu có nhiều ý nghĩa đối với đời sống cá nhân, là hướng hoạt động chủ yếu nhằm vươn tới mục tiêu đó trong thời gian tương đối dài. Xu hướng có những mặt biểu hiện như nhu cầu, hứng thú, thế giới quan và lý tưởng.

1.1. Nhu cầu:

          Nhu cầu là sự đòi hỏi tất yếu mà cá nhân nhận thấy cần được thỏa mãn để tồn tại và phát triển trong những điều kiện xã hội, lịch sử nhất định. Đối với bản thân em hiện nay, nhu cầu của em đó là thi kết thúc học phần các môn học trong học kỳ này với số điểm cao. Để thỏa mãn được nhu cầu của bản thân, em đã và đang cố gắng học tập, đọc nhiều tài liệu và làm bài tập để chuẩn bị tốt cho kỳ thi sắp tới. Bên cạnh đó, nội dung của nhu cầu do điều kiện và phương thức thỏa mãn nó quy định. Điều kiện sống của cá nhân quy định nội dung, đối tượng của nhu cầu.          Điều kiện sống vật chất và tinh thần của em đầy đủ, nên em sẽ hướng tới những nhu cầu phong phú, phản ánh những điều kiện sống của em. Ngoài ra, nhu cầu có tính chu kỳ và cường độ tăng dần: Chu kỳ của nhu cầu bắt đầu từ trạng thái thiếu hụt làm nảy sinh nhu cầu, nhu cầu gặp đúng đối tượng nảy sinh động cơ thúc đẩy chủ thể tác động vào đối tượng để thỏa mãn nhu cầu. Sau khi thỏa mãn được nhu cầu thì chu kỳ của một loại nhu cầu kết thúc nhưng lại nảy sinh những nhu cầu khác với cường độ cao hơn chu kỳ trước đó.

          Căn cứ vào hình thức tồn tại đối tượng của nhu cầu, người ta chia nhu cầu thành nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần. Nhu cầu vật chấtlà những đòi hỏi kháchquan phải được thoả mãn về các phương tiện sinh hoạt vật chất của con người, như nhu cầu ăn, mặc, ở, phương tiện đi lại, công cụ lao động. Từ khi còn bé, nhu cầu vật chất của em được thỏa mãn thông qua tác động với người khác và chủ yếu là những người có ý nghĩa với em. Như được bố mẹ cho ăn, tắm rửa, bế bồng, ôm ấp. Khi đó, nhu cầu vật chất được thoả mãn như thế nào, ảnh hưởng mạnh mẽ đến tương lai sau này. Đối với bản thân em, nhu cầu được đáp ứng nhất quán với sự tôn trọng, từ đó em đã phát triển ý thức tôn trọng bản thân, tôn trọng người khác và môi trường sống xung quanh em. Thứ hai, nhu cầu tinh thần như: nhu cầu nhận thức, vui chơi giải trí,… Đây là nhu cầu có liên quan tới sự tồn tại xã hội của con người, nhu cầu chỉ ở con người mới có. Cũng như đối với nhu cầu vật chất đã nêu trên, khi ngay từ bé em đã đươc thỏa mãn những nhu cầu tình thần, được bố mẹ yêu thương, được vui chơi giải trí và giao tiếp với mọi người xung quanh từ đó em đã phát triển cảm giác mình thật sự có giá trị, có phẩm giá, tự tôn đi đến yêu thương người khác. Đó là cơ sở đầu tiên để hình thành xu hướng cá nhân em và là một trong những động lực cửa sự phát triển nhân cách. Hai loại nhu cầu trên có mối quan hệ với nhau. Nhu cầu vật chất là cơ sở để hình thành nhu cầu tinh thần. Thỏa mãn nhu cầu vật chất tạo điều kiện để nhu cầu tinh thần nảy nở và phát triển. Thỏa mãn nhu cầu vật chất trong chừng mực nhất định cũng là thỏa mãn nhu cầu tinh thần. Nhu cầu tinh thần khi đã hình thành sẽ có tác dụng chỉ đạo nhu cầu vật chất.

1.2. Hứng thú:

          Hứng thú là thái độ riêng có tính chất đặc thù của cá nhân đối với đối tượng nào đó vừa có ý nghĩa trong đời sống vừa có khả năng mang lại cho cá nhân sự khoái cảm. Trở lại với liên hệ về bản thân em ở trên, việc em muốn đạt được kết quả cao trong kỳ thi cuối học phần sắp tới, em có nhu cầu muốn thỏa mãn điều đó, khi cá nhân em có sự hứng thú và hiểu rõ ý nghĩa của nó đối với đời sống cá nhân. Sự hứng thú thể hiện trước hết ở sự tập trung chú ý cao độ, sự say mê học tập và trau dồi kiến thức. Bên cạnh đó, sự hứng thú là động cơ thúc đẩy em tham gia tích cực vào công việc học tập ấy, khi đó sẽ hoạt động một cách thoải mái, tích cực, tự giác, sáng tạo và có hiệu quả cao. Hứng thú làm tăng sức làm việc cho cá nhân, làm cho cá nhân dẻo dai hơn, ít mệt mỏi hơn.

1.3. Thế giới quan cá nhân:

          Thế giới quan cá nhân là hệ thống những quan điểm, quan niệm của cá nhân, thể hiện trong việc xem xét, đánh giá và giải quyết các vấn đề trong tự nhiên, xã hội và bản thân. Thế giới quan cá nhân có những phẩm chất cơ bản như tính khoa học, tính hệ thống và nhất quán, tính khái quát và tính cụ thể, tính hiệu lực. Thế giới quan đóng vai trò nhân tố sống động của ý thức cá nhân, giữ vai trò chỉ dẫn cách thức tư duy và hành động của cá nhân. Đối với bản thân em, thế giới quan đóng vai trò chủ đạo, quyết định việc lựa chọn xu hướng cá nhân. Khi em đang học lớp 12, xu hướng của em là muốn được học đại học chuyên ngành Luật. Và thế giới quan cá nhân như một chiếc la bàn định hướng cuộc sống, và là “cương lĩnh bên trong”, giúp em xác định mục tiêu kế hoạch phấn đấu đó là phải thi đỗ vào một trong các trường đại học có chuyên ngành Luật. Thế giới quan là động lực mạnh mẽ thúc đẩy em học tập, trau dồi kiến thức, luyện thật nhiều đề thi để có kết quả thi Đại học như mục tiêu của bản thân. Bên cạnh đó, em kết hợp với niềm tin, để tạo cho em nghị lực, ý chí để hành động phù hợp với quan điểm đã chấp nhận.

1.4. Lý tưởng:

          Lý tưởng là mục tiêu mà cá nhân cho là cao đẹp, mẫu mực hoàn chỉnh nhất của cuộc sống, có tác dụng lôi cuốn mạnh mẽ toàn bộ cuộc sống và hoạt động của cá nhân trong một thời gian tương đối dài để đạt tới mục tiêu đó. Lý tưởng vừa có tính hiện thực vừa có tính lãnh mạn; bên cạnh đó, lý tưởng còn có tính xã hội và giai cấp. Với câu chuyện thi vào đại học năm lớp 12 của em, em nhận thấy rằng. Tuổi trẻ là khoảng thời gian đẹp đẽ và ý nghĩa để bản thân em cũng như tất cả mọi người có cơ hội được học tập, được lập nghiệp. Vì thế vào đại học là ước mơ cao đẹp và chính đáng của đa số các bạn. Theo như em được biết, từ trước tới nay đã có nhiều thiên tài trên thế giới trưởng thành từ môi trường Đại học như nhà sinh vật học Darwin, nhà hóa học Marie Curie, Mendeleev, nhà bác học Anh-xtanh… Vì vậy, trước khi bước vào ngưỡng cửa cuộc đời, khi ấy em muốn chọn cho mình con đường Đại học và quyết tâm theo đuổi ước mơ ấy đến cùng, dù cánh cửa các trường Đại học có hẹp, dù mất nhiều thời gian, công sức và tiền bạc. Mười hai năm đèn sách, vượt qua bao vất vả gian nan, trên vai mang nặng công cha, nghĩa mẹ, ơn thầy, trước ngưỡng cửa cuộc đời ai cũng mong ước mình sẽ có một tương lai rạng rỡ. Tương lai ấy là gì? Đó là cuộc sống ổn định, có việc làm phù hợp với sở thích, khả năng và ngành nghề mà mình đã được đào tạo, có thu nhập cao, có điều kiện phát huy năng lực sáng tạo và cống hiến cho xã hội. Đối với em, tương lai ấy tạo ra cho bản thân cơ hội thăng tiến trong sự nghiệp, có thể phấn đấu trở thành một người Luật sư – người bảo vệ công lý cho tất cả mọi người, hay một Pháp chế doanh nghiệp…Khi ấy em mang trong mình lý tưởng mong muốn được vào Đại học, mong muốn sẽ được tiếp cận và tiếp thu những tri thức cơ bản về ngành nghề mà ta theo học từ các thầy cô, các giáo sư có trình độ học vấn và chuyên môn giỏi.

* Phương hướng rèn luyện:

          Để phát triển nhân cách và có xu hướng hướng tới những mục tiêu cao đẹp của bản thân, em cần xây dựng cho mình những hứng thú tích cực, đặc biệt là hứng thú với hoạt động học tập, nghiên cứu, rèn luyện trong nhà trường. Đồng thời phát triển nhiều hứng thú trên các lĩnh vực khác làm cho đời sống tâm lý thêm phần phong phú. Bên cạnh đó, cần tạo cho mình một lý tưởng cao đẹp như một ngôi sao dẫn đường chỉ hướng cho cuộc sống và thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động của cá nhân, điều khiển bản thân đến con đường thành công. Ngoài ra, em sẽ xây dựng lên một niềm tin đúng đắn về chân lý khách quan giúp tạo cho em một động lực, ý chí để hành động phù hợp với quan điểm đã chấp nhận.

2. Tính cách, đặc điểm của tính cách và phương hướng rèn luyện tính cách của bản thân:

          Tính cách cá nhân bao gồm nhiều nét tính cách. Nét tính cách là một thuộc tính tâm lý nói lên thái độ đặc trưng của cá nhân đối với từng mặt, từng khía cạnh, từng lĩnh vực của hiện thực, được biểu hiện bằng các hành vi xử sự tương ứng quen thuộc của cá nhân. Mỗi nét tính cách là một thuộc tính tâm lý cá nhân. Tổng hợp nhiều nét tính cách tạo thành tính cách cá nhân. Giữa các cá nhân có sự khác nhau về tính cách chủ yếu là do sự khác biệt về các tính chất như tính ổn định và bền vững, tính phức tạp và thống nhất, tính xã hôi – lịch sử quy định.

          Nói về tính cách của bản thân, em nhận thấy mình là người có tính cách mạnh mẽ. Đôi lúc em muốn tự lực để chứng minh sức mạnh của bản thân và kháng cực các điểm yếu, cố gắng để chi phối mọi thứ xung quanh. Em thích giải quyết vấn đề, kiểm soát được mọi tình huống xảy ra và đưa ra các giải pháp một cách kịp thời.  Tính cách của em được hình thành và phát triển trong quá trình sống và hoạt động của cá nhân, chịu sự tác động của điều kiện xã hội – lịch sử và hoàn cảnh sống riêng của bản thân.

* Phương hướng rèn luyện:

          Vì vậy, là một sinh viên Đại học để rèn luyện những nét tính cách tích cực cho bản thân em cần rèn luyện những hành vi thói quen phù hợp với chuẩn mực xã hội. Bên cạnh đó, em cần rèn luyện tính kiên trì, có thái độ trân trọng đối với công việc, không dễ dàng chấp nhận thất bại để giải quyết vấn đề, không dễ ngã lòng trước khó khăn. Tiếp đó, cần học tính độc lập và chấp nhận rủi ro, khi đối diện với thực tế, dù vui hay buồn vẫn tỏ ra bình tĩnh, dám chấp nhận trách nhiệm về các vấn đề để hoàn thành công việc, không hảo huyền, không nôn nóng, biết tính toán các nguy cơ. Để hình thành nét tính cách, tính cách tốt đáp ứng các yêu cầu của xã hội không phải dễ dàng, trong thời gian ngắn, vì vậy em sẽ cố gắng tự rèn luyện bản thân để phát triển bản thân trở nên tốt đẹp hơn.

3. Năng lực và phương hướng rèn luyện năng lực.

          Năng lực là tổ hợp các thuộc tính tâm lý cá nhân, đáp ứng những yêu cầu đặc trưng của một loại hoạt động nhất định nhằm bảo đảm cho hoạt động đó đạt kết quả cao. Theo mức độ chuyên biệt của năng lực chia thành: năng lực chung và năng lực riêng. Năng lực chungcòn được gọi là năng lực trí tuệ: là năng lực nắm và vận dụng tri thức cơ bản của khoa học tự nhiên, khoa học xã hội làm cơ sở cho mọi hoạt động trong xã hội. Năng lực riêngcòn gọi là năng lực chuyên môn: là năng lực đặc trưng riêng trong những lĩnh vực hoạt động nhất định.

          Đối với bản thân em, sau khi đi thực tập ở văn phòng luật trên lĩnh vực luật, em nhận thấy mình có năng lực giao tiếp, thuyết trình, lập luận và đưa ra quan điểm của mình trước những Luật sư có kinh nghiệm và trước mọi người trong văn phòng. Vì khi đi thực tập, em đã được đi cùng các anh chị luật sư lên tòa án và gặp các đương sự trong nhiều vụ việc dân sự nên trong quá trình đó, năng lực riêng của em đã được hình thành và phát triển.  Khi hình thành nên năng lực giao tiếp, thuyết trình giúp em tự tin hơn trong quá trình giao tiếp, xử lý các công việc được giao một cách thuận lợi hơn.

* Phương hướng rèn luyện:

          Để nâng cao năng lực của bản thân theo em trước hết cần rèn luyện sự tập trung vì Tập trung là một trong những yếu tố giúp con người nâng cao năng lực cho bản thân. Theo Bill Gates và Warren Buffett cho biết “tập trung là bí quyết giúp bạn thành công trong bất cứ một lĩnh vực nào khi làm việc”. Những người có năng lực cao nhất là những người vô cùng tập trung. Họ luôn tập trung thời gian và tâm trí vào những công việc quan trọng nhất đồng thời loại bỏ những công việc không cần thiết, không quan trọng.

          Bên cạnh đó, cần phát triển khả năng tiên liệu “Nếu … thì”. Trong cuốn sách “Pre-Suasion: A Revolutionary Way to Influence and Persuade”, tác giả có đề cập tới một phương pháp giúp nâng cao năng lực làm việc của bản thân đó là phương pháp “Nếu… thì…”. Phương pháp này giúp bạn chinh phục mục tiêu, nâng cao năng lực nhanh gấp 3 lần so với những người chỉ làm việc theo bản năng.

          Ngoài ra, em sẽ tập thói quen lên kế hoạch cho ngày hôm sau, vì phương pháp này sẽ giúp con người phát triển nhanh hơn trên lộ trình phát triển năng lực của bản thân. Có một doanh nhân nổi tiếng từng nhận định “Khi bạn dành 1 phút để lập kế hoạch sẽ tiết kiệm 10 phút thực thi”. Điều này có nghĩa là khi chúng ta lên kế hoạch, liệt kê tất cả các công việc cần làm vào ngày hôm sau, đưa vào khung thời gian cụ thể sẽ giúp chúng ta gia tăng hiệu quả làm việc.

          Một người có năng lực là người làm chủ được chính bản thân mình. Vì vậy, chúng ta cần làm chủ tư duy, làm chủ suy nghĩ để cho trí óc chúng ta ngày càng trưởng thành, tích cực hơn. Suy nghĩ thoáng hơn, nhìn nhận lại vấn đề và sử dụng ngôn từ đúng đắn. Đó là làm chủ tư duy. Sự chủ động đối với thành công giống như que diêm đang cháy đối với ngọn nến. Robert Downey Jr. đã bước ra thế giới, từ bỏ con đường nghiện ngập và giờ đã trở thành một ngôi sao lớn trên dàn điện ảnh Hollywood. Đó là một người biết làm chủ bản thân, tự cứu mình ra khỏi phần đen tối trong xã hội này.

4. Khí chất, những ưu – nhược điểm của bản thân và rèn luyện khí chất của bản thân.

          Khí chất là thuộc tính tâm lý biểu hiện về cường độ, tốc độ và nhịp độ của các hoạt động tâm lý. Theo “Thuyết thần kinh” do nhà sinh lý học Nga I.P.Paplôp đề ra, cơ sở sinh lý của khí chất là do kiểu hoạt động thần kinh cấp cao  quy định.

          Theo như em nhận thấy, bản thân em thuộc người có khí chất nóng nảy. Khi tham gia hoạt động nhóm em luôn nhiệt tình, hăng hái, năng động và sẽ cố gằng hoàn thành tốt phần công việc của mình. Khi đã tiếp nhận một nhiệm vụ nào đó, bản thân em sẽ có thái độ nghiêm túc, say mê công việc, và đôi lúc còn có thể dùng nhiệt tình của mình để lôi cuốn người khác. Mỗi cá nhân là một thực thể riêng biệt, độc đáo, và mỗi người có một khí chất riêng.Với khí chất nóng nảy của bản thân, em nhận thấy mình có nhiều ưu điểm như khi đứng trước những lựa chọn, thường sẽ quyết định nhanh chóng, quyết đoán, dám nghĩ dám làm. Đối với những người bạn mới, những người chưa từng quen biết, khi tiếp xúc với họ em thường là người sẽ làm quen trước, cởi mở hơn và giao tiếp một cách thẳng thắn, bộc trực.

          Có một sự thật mà ai cũng phải thừa nhận rằng, con người ai cũng có khuyết điểm, chẳng có ai là tốt đẹp về mọi mặt, được cái này thì mất cái kia, đó là quy luật của cuộc sống không ai có thể phủ nhận. Và một người có khí chất nóng nảy cũng như vậy, ngoài những ưu điểm như trên, vì nhận thức nhanh, phản ứng mau lẹ nên bản thân em thường nhận thức không sâu, đặc biệt là khó kiềm chế bản thân, dễ bị kích động dẫn đến những hành động bột phát. Điều này khiến em dễ làm mất lòng người khác, khi rơi vào hoàn cảnh khó khăn sẽ thường không tự chủ được bản thân. Nhưng khi mọi chuyện đã qua đi, em thường không để bụng, và không bao giờ thù dai. Sau những sự việc đã xảy ra trong cuộc sống, em nhận thấy bản thân mình thiếu kiên trì, bền bỉ, khi gặp những khó khăn trở ngại thường dễ nản trí và cảm thấy bi quan, thất vọng. Về vấn đề tình cảm tuy là người yêu ghét rõ ràng nhưng lại sống thiên về tình cảm nhiều hơn lý trí, và đôi khi dễ bị tình cảm lất át lý trí bản thân.

* Phương hướng rèn luyện:

          Trong cuộc sống, con người luôn sống trong những câu hỏi về giá trị của chính mình, khí chất của bản thân mình. Hàng loạt những câu hỏi luôn được đặt ra như: Mình đang đứng ở vị trí nào? Mình là người như thế nào trong mắt mọi người? Hay phải làm sao để nhận được sự tôn trọng của những người xung quanh? Chúng ta cứ sống và tìm kiếm câu trả lời cho những câu hỏi đó. Hiểu và tìm kiếm khí chất bản thân là nhu cầu chính đáng của con người bởi vì “Biết mình biết ta trăm trận trăm thắng”. Vì vậy, để khắc phục những nhược điểm của khí chất nóng nảy, mỗi khi cảm thấy mình sắp nổi nóng, em sẽ hít thở thật sâu, tự trấn an hoặc dừng ngay những suy nghĩ tồi tệ. Bên cạnh đó, em sẽ chia sẻ với những người thân thiết, giãi bày những vẫn đề của bản thân và nỗ lực thay đổi cách ứng xử của chính mình. Ngoài ra, ngay từ bây giờ bản thân em phải học cách lắng nghe, nhìn nhận sự việc từ nhiều góc độ, đặt mình trong hoàn cảnh của người khác để có những đánh giá khách quan hơn.

II. Phương hướng rèn luyện chung để phát triển nhân cách:

          Để phát triển nhân cách cho bản thân, cần phát triển các thuộc tính tâm lý của nhân cách là xu hướng, tính cách, năng lực và khí chất. Vì vậy, bản thân em cũng tất cả mọi người, phải biết nỗ lực, rèn luyện nhân cách, nâng cao tâm hồn mình theo chiều hướng tốt. Điều đó giúp mỗi người không ngừng tiến bộ và cuộc sống trở nên có ý nghĩa hơn. Cho dù vị trí trong xã hội có khác nhau, nhưng mỗi người phải giữ gìn nhân cách của mình và luôn phấn đấu vươn lên trong cuộc sống. Nhân cách của một người được thể hiện thông qua hành động và việc làm của người đó. Người có nhân cách tốt không bao giờ có tính đố kị, ghen tị với người khác mà họ luôn nỗ lực để không thua kém người khác. Họ chịu khó tìm tòi, học hỏi nhiều hơn và duy trì nghiêm túc thói quen này. Họ sống thật khiêm tốn, không hề tự mãn và luôn nhìn lại bản thân mỗi ngày để kiểm tra xem xét lại mọi hành động và suy nghĩ của mình, nỗ lực sửa chữa những sai sót. Sống nhân hậu, vị tha, họ luôn chú tâm vào từng lời nói và mỗi việc làm, không bị chi phối, không bất mãn, lo âu vì những chuyện không cần thiết. Trong bất kì hoàn cảnh nào của cuộc sống, họ đều biết gìn giữ nhân cách, phẩm giá của bản thân, sẵn sàng hy sinh lợi ích của mình và luôn lắng nghe ý kiến của người khác để hoàn thiện bản thân. Nhân cách chính là tài sản mà chúng ta cần phải biết coi trọng, gìn giữ. Sống chân thật với bản thân, với tất cả mọi người là điều mà chúng ta cần phải khắc ghi để rèn luyện nhân cách, nâng cao phẩm giá của mình. Điều đó không chỉ giúp ích cho chính bản thân mà còn góp phần làm đẹp cho cuộc sống này.

          Trên đây là bài làm của em về đề tài “Mô tả đặc điểm các thuộc tính nhân cách của bản thân và nêu phương hướng rèn luyện”. Việc hình thành nhân cách ở mỗi con người là một quá trình liên tục, lâu dài và chịu sự quy định của nhiều yếu tố. Nhân cách của mỗi con người không nằm ở việc bạn được sinh ra ở đâu, do ai sinh ra, mà là ở sự nỗ lực hình thành và phát triển nhân cách của bản thân . Nếu ta không ngừng nỗ lực, kiên trì dù không quá thông minh, nhưng chắc chắn cũng sẽ đạt được ước nguyện. Nhân cách của chúng ta do chính chúng ta tạo nên, không có muộn, không có sớm, chỉ có bắt đầu và không bao giờ kết thúc.

          “Cuộc sống là một khung vải rộng và bạn nên vẽ vào đó tất cả những màu sắc trong khái niệm của mình” (Danny Kaye). Thật vậy, cuộc sống là khung vải rộng mà ở đó bản thân có thể thỏa sức sáng tạo nên chính nhân cách của bản thân, hạnh phúc của mình. Bản thân mỗi con người là một bản gốc, không có bản sao lưu nào khác, vì vậy hãy vẽ lên cuộc sống giá trị khác nhau của bạn, tạo cho mình một nhân cách tích cựcvà mang nét riêng của bản thân “Tôi tự hào vì khác biệt” (Khuyết danh).

Phân tích các kỹ năng mà luật sư cần sử dụng trong tranh tụng phiên tòa

Phân tích các kỹ năng mà luật sư cần sử dụng trong tranh tụng phiên tòa.

Một luật sư tranh tụng giỏi là luật sư hội tụ đầy đủ chuyên môn vững vàng và các kỹ năng vượt trội. Người luật sư cần rèn luyện để sở hữu những kỹ năng cơ bản cho mình như kỹ năng giao tiếp hiệu quả, kỹ năng tranh luận sắc bén,  kỹ năng nghiên cứu và phân tích sâu sắc, kỹ năng đàm phán thuyết phục… Đặc biệt, vai trò của luật sư trong tranh tụng được thể hiện ở các công việc mà luật sư phải làm trong các giai đoạn của quá trình tố tụng: khởi kiện, xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, kháng cáo…và cũng trong bất cứ giai đoạn nào của quá trình giải quyết vụ án, luật sư đều có vai trò tư vấn pháp luật. Vì vậy đòi hỏi người luật sư phải có rất nhiều kĩ năng, và để tìm hiểu kĩ hơn về đề tài này em xin chọn đề bài số 2: “Phân tích các kỹ năng mà luật sư cần sử dụng trong tranh tụng phiên tòa.”

I. Chuẩn bị tham gia và kỹ năng tranh tụng tại phiên tòa:

1. Tiếp nhận yêu cầu và trao đổi với khách hàng, sử dụng kĩ năng giao tiếp, đàm phán, thuyết phục của một luật sư:

1.1  Trao đổi nội dung vụ tranh chấp:

Thông qua việc trình bày của khách hàng, luật sư lắng nghe và đặt các câu hỏi gợi ý để khách hàng trình bày đúng bản chất của sự việc một cách vô tư, khách quan, nhằm xác định rõ bản chất sự việc và biết được khách hàng đang quan tâm đến vấn đề gì, yêu cầu khách hàng cung cấp tài liệu có liên quan đến vụ tranh chấp. Cần xác định rõ một số vấn đề như sau:

+) Loại tranh chấp? Các bên trong quan hệ tranh chấp gồm những ai, tư cách như thế nào? Nội dung của tranh chấp?

          +) Yêu cầu cụ thể của khách hàng là gì? Tài liệu, chứng cứ mà khách hàng cung cấp là gì, đánh giá giá trị của chứng cứ đó…

Khách hàng có thể yêu cầu luật sư tư vấn hoặc yêu cầu luật sư đóng vai trò là người bảo vệ quyền lợi hay người đại diện cho họ trong quá trình giải quyết vụ án.

1.2. Quyết định có nên kiện hay không:

Việc khởi kiện hay không khởi kiện thuộc quyền tự định đoạt của các đương sự. Trong nhiều trường hợp đương sự cũng không tự quyết định được có nên khởi kiện hay không. Điều đó ảnh hưởng nhiều đến việc quyết định lợi ích của chính bản thân họ. Tóm lại, các đương sự quan tâm là họ được lợi bao nhiêu hay không được lợi gì trong trường hợp họ khởi kiện ra trước Tòa án. Luật sư phải giúp đương sự thực sự hiểu rõ nếu họ khởi kiện thì khả năng họ được lợi sẽ là bao nhiêu phần trăm cũng như nếu họ không khởi kiện thì quyền và lợi ích hợp pháp của họ sẽ được bảo vệ như thế nào. Luật sư là người không những chỉ nắm bắt pháp luật mà còn hiểu được trạng thái tâm lý khách hàng của mình. Không nên chỉ khởi kiện vì một mục đích là thỏa mãn tính kiêu ngạo và tính hiếu thắng của khách hàng. 

2. Hướng dẫn đương sự viết đơn khởi kiện:

Thông thường đương sự khi viết cho mình một đơn khởi kiện, họ thường bỏ qua các yếu tố về hình thức mà chủ yếu chỉ muốn yêu cầu Tòa án xem xét và giải quyết yêu cầu của mình. Một đơn kiện như thế có thể không bao hàm hết những nội dung mà nguyên đơn muốn trình bày. Đơn kiện đó cũng không có ý nghĩa tạo ra một sự chú ý từ phía Tòa án. Vì vậy, Luật sư phải giúp đương sự viết đơn hoặc tự mình viết đơn cho đương sự để ít nhất một đơn kiện hoàn chỉnh nhất. Sau khi đương sự đã viết xong đơn khởi kiện hoặc Luật sư đã viết xong đơn khởi kiện cho đương sự, Luật sư và đương sự cần ngồi với nhau để xem lại lần cuối cùng trước khi gửi đơn cho Tòa án có thẩm quyền.

3. Hướng nhất đương sự thu thập và cung cấp chứng cứ:

Để chuẩn bị cho việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình được tốt, đương sự cần chuẩn bị cho mình những chứng cứ cần thiết. Những chứng cứ đó đương sự phải tự mình thu thập. Các chứng cứ mà đương sự có thể tự thu thập được thông thường bao gồm: Các hồ sơ cá nhân mà đương sự thường giữ một bản, ví dụ: các bản hợp đồng, các bản di chúc, giấy chứng nhận kết hôn, giấy khai sinh …

Có một số giấy tờ, tài liệu hoặc chứng cứ đương sự phải tự mình thu thập thông qua các cơ quan chính quyền ở địa phương, ví dụ: giấy xin xác nhận hộ khẩu thường trú, giấy xin xác nhận hoặc chứng nhận về một sự kiện pháp lý nào đó. Trong một vụ án thông thường có rất nhiều loại chứng cứ khác nhau. Luật sư cần hướng dẫn các đương sự nắm bắt được sơ bộ chứng cứ nào là quan trọng đối với việc xem xét và giải quyết vụ án, trên cơ sở đó giúp đương sự tập hợp các chứng cứ lại theo hướng dẫn của mình. 

4. Hướng dẫn đương sự cung cấp chứng cứ cho tòa án:

Sau khi đã thu thập được các chứng cứ cần thiết Luật sư cần hướng dẫn các đương sự cung cấp các chứng cứ cho Tòa án. Về nguyên tắc, các chứng cứ sẽ được lần lượt cung cấp cho Tòa án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các đương sự. Tuy vậy, cung cấp chứng cứ nào vào thời điểm nào là một quyết định có tính chất chiến lược. Vì vậy cần cân nhắc kỹ cung cấp chứng cứ nào vào thời điểm nào, Luật sư sẽ đóng một vai trò rất quan trọng trong trường hợp này.

5. Luật sư nghiên cứu hồ sơ, sử dụng kĩ năng nghiên cứu và phân tích sâu sắc:

Nghiên cứu hồ sơ trong bối cảnh này để tìm hiểu, xem xét kỹ lưỡng những vấn đề cốt lõi trong hồ sơ, nhằm phục vụ cho việc giải quyết vụ án tranh chấp. Khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, Luật sư phải nắm được các thông tin quan trọng, kiểm tra thông tin, rút ra điểm lợi thế và điểm bất lợi của các bên tranh chấp. Trong quá trình nghiên cứu hồ sơ, Luật sư phải ghi chép những nội dung quan trọng hay sao chép tài liệu và các bút lực cần thiết, hệ thống lại trên cơ sở đánh giá chứng cứ và bổ sung thêm nếu thấy cần thiết. Sau khi nghiên cứu hồ sơ, Luật sư phải kiểm tra, đánh giá những thông tin có được nhằm xác định độ chính xác của thông tin.

Vấn đề này đã đặt ra thách thức ở mức độ ngày càng cao hơn khi bối cảnh nước Việt Nam đang trong quá trình hội nhập quốc tế. Bởi vậy, sự thay đổi hàng loạt các quy định về pháp luật để phù hợp với sân chơi chung của thế giới sẽ càng đòi hỏi người làm luật sư, nhất là luật sư tranh tụng hoạt động phải nhiều hơn để nâng cao kiến thức chuyên ngành và bắt kịp những thay đổi của pháp luật.

6. Chuẩn bị cá nhân của luật sư trong giai đoạn chuẩn bị xét xử:

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Luật sư phải làm việc rất bận rộn. Một mặt, vừa phải chuẩn bị cho khách hàng của mình, một mặt Luật sư phải tự chuẩn bị cho mình. Những phần việc Luật sư cần chuẩn bị cho mình có thể được thể hiện dưới dạng sau:

– Thu thập chứng cứ;

– Nghiên cứu hồ sơ vụ án;

– Nghiên cứu và đánh giá chứng cứ;

– Chuẩn bị đề cương bản luận cứ;

– Làm việc với Tòa án khi cần thiết.

II. Kỹ năng mà luật sư phải sử dụng trong tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm: 

Giai đoạn tranh tụng tại phiên tòa có một ý nghĩa gần như quyết định đối với Luật sư tranh tụng. Trong giai đoạn này Luật sư thể hiện hết tài thao lược của mình, bộc lộ hết các quan điểm và ý tưởng của mình.

1. Luật sư trong giai đoạn xét hỏi:

Giai đoạn xét hỏi tại phiên tòa là giai đoạn điều tra công khai có sự tham gia của tất cả những người tham gia tố tụng. Luật sư cần phải có mặt tại phiên tòa trong suốt thời gian xét xử, trừ trường hợp đặc biệt. Luật sư cần phải chú ý theo dõi quá trình hội đồng xét xử tiến hành thủ tục xét hỏi tại phiên tòa. Về mặt thủ tục, Luật sư có quyền được đặt các câu hỏi để bảo vệ quyền lợi cho khách hàng của mình bằng cách thông qua các câu trả lời để khẳng định công khai những vấn đề cần phải làm sáng tỏ trong vụ án.

2. Ghi chép diễn biến của phiên tòa:

Khi theo dõi thủ tục xét hỏi tại phiên tòa, Luật sư cần phải ghi chép đầy đủ lời trình bày của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người đại diện của đương sự, kiểm sát viên, người làm chứng, người giám định, quá trình xem xét vật chứng. Bản ghi chép này là tiền đề để Luật sư đặt các câu hỏi cho thân chủ của mình hoặc cho những người tham gia tố tụng khác để họ tự mình khẳng định công khai trước Tòa những vấn đề cần được làm rõ.

3. Đặt các câu hỏi:

Luật sư có quyền đặt các câu hỏi để yêu cầu thân chủ của mình hoặc những người tham gia tố tụng khác trả lời cho Tòa án nhằm làm rõ những tình tiết quan trọng. Trong những trường hợp khi các câu hỏi của Luật sư được các đương sự trả lời mà Luật sư thấy cần thiết phải nhấn mạnh thì đề nghị HĐXX lưu ý và đề nghị thư ký phiên tòa ghi nhận điều đó vào biên bản phiên tòa. Đối với các câu hỏi dành cho thân chủ của mình, Luật sư không nên đặt ra những vấn đề hóc búa mà trước đó Luật sư chưa có điều kiện trao đổi với thân chủ. Chỉ nên đặt những câu hỏi mà từ trước đó Luật sư đã trao đổi với thân chủ của mình, hai bên đã thống nhất về câu hỏi và câu trả lời.

4. Tranh luận tại phiên tòa:

Trong phần tranh luận nếu có sự tham gia của Luật sư, Luật sư của nguyên đơn sẽ được trình bày quan điểm của mình trước HĐXX. Trong phần tranh luận, khi trình bày quan điểm của mình Luật sư cần nhận định về các tình tiết quan trọng của vụ án, trình bày quá trình đánh giá chứng cứ và khẳng định giá trị chứng minh của các chứng cứ mà Luật sư đã đánh giá. Luôn luôn dùng các văn bản pháp luật làm căn cứ cho những nhận định và kết luận của mình. Trong quá trình tranh luận, thông thường người tham gia tranh luận chỉ có quyền đáp lại ý kiến của người khác một lần đối với mỗi ý kiến mà mình không đồng ý. Khi đáp lại ý kiến mà mình không đồng ý Luật sư nên trình bày ngắn gọn và đi thẳng vào vấn đề đồng thời nếu cần thiết dùng ngay lập luận của họ để phán bác lại.

Trong bất kỳ trường hợp nào thì mục đích của việc tranh luận cũng là để làm sáng tỏ những tình tiết cần chứng minh của vụ án trên cơ sở đó bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng. Không được lồng các ý tưởng mang tính chủ quan hoặc cá nhân để trình bày trong phần tranh luận. Nếu thấy đã tranh luận về các vấn đề nhưng vẫn chưa rõ hoặc chưa khẳng định được những tình tiết chính trong vụ án thì Luật sư có thể đề nghị HĐXX quay trở lại phần thẩm vấn.

5. Sau khi tiến hành phiên tòa sơ thẩm:

Theo quy định của pháp luật, sau khi Toà án tuyên án thì đương sự hoặc người bảo vệ quyền lợi của đương sự có quyền được xem biên bản phiên toà và đề xuất điều chỉnh hoặc bổ sung biên bản phiên toà cho phù hợp (nếu được Toà án cho phép thì tốt, còn nếu không phải lập thành văn bản gửi Toà án), do đó luật sư cùng với khách hàng của mình đề xuất với Toà án được xem biên bản phiên toà và cùng nhau trao đổi, phát hiện những vấn đề cần điều chỉnh, bổ sung. Sau khi tuyên án xong thì không được sửa chữa, bổ sung bản án, trừ trường hợp có lỗi về chính tả, tính toán sai số liệu.

III. Kỹ năng của luật sư trong giai đoạn phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm vụ án dân sự:

1. Kỹ năng của Luật sư khi tham gia phúc thẩm.

1.1. Chuẩn bị cho việc tham gia phiên tòa.

Trong thời gian chuẩn bị xét xử của Tòa án, Luật sư phải có những công việc chuẩn bị cho việc bảo vệ quyền lợi cho đương sự. Cụ thể Luật sư có thể đề nghị cho nghiên cứu hồ sơ, qua đó, Luật sư có thể đề nghị với Tòa án áp dụng những biện pháp cần thiết. Về thủ tục hòa giải ở phúc thẩm là không bắt buộc. Tòa án phúc thẩm chỉ tiến hành hòa giải khi có khả năng hòa giải thành. Trong trường hợp nếu hòa giải thành trước khi mở phiên tòa, thì tòa vẫn mở phiên tòa….

1.2. Tham gia phiên tòa.

Sau khi những công việc chuẩn bị hoàn tất, Tòa án cấp phúc thẩm sẽ mở phiên tòa phúc thẩm. Về cơ bản, thủ tục phiên tòa phúc thẩm được tiến hành với các bước giống như phiên tòa sơ thẩm. Do vậy, để việc bảo vệ quyền lợi cho đương sự được tốt, Luật sư cũng phải tham gia phiên tòa với những kỹ năng giống như kỹ năng tham gia phiên tòa sơ thẩm. Ngoài việc chuẩn bị những vấn đề về nội dung của vụ án, Luật sư còn phải theo dõi cả những vấn đề thủ tục của phiên tòa và có ý kiến kịp thời để việc thực hiện những thủ tục đó không làm thiệt hại quyền lợi cho đương sự.

2. Kỹ năng của Luật sư trong giai đoạn giám đốc thẩm, tái thẩm.

Giám đốc thẩm, tái thẩm là thủ tục xét xử đặc biệt, được tiến hành khi bản án, quyết định đã có hiệu lực của pháp luật.

Vì vậy, nếu ở cấp phúc thẩm, Luật sư có quyền tham gia trực tiếp vào quá trình phúc thẩm, thì ở cấp giám đốc thẩm, tái thẩm, Luật sư chỉ có thể giúp đương sự duy nhất trong việc đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm. Trên cơ sở đề nghị này người có thẩm quyền kháng nghị sẽ xem xét và nếu thấy có đủ những căn cứ được quy định trong pháp luật, mới thực hiện quyền kháng nghị.

* Kết luận: Để thực sự trở thành luật sư tranh tụng giỏi là không hề dễ dàng. Vì vậy các luật sư nói chung và luật sư tranh tụng nói riêng luôn phải tự trau dồi, tích lũy kiến thức pháp luật và kỹ năng nghề nghiệp một cách thường xuyên.

Bình luận các quy định của pháp luật về giải thể doanh nghiệp và thực tiễn

Bình luận các quy định của pháp luật về giải thể doanh nghiệp và thực tiễn.

Xã hội ngày càng phát triển, số lượng các doanh nghiệp ra đời trong thời gian gần đây tăng lên một cách đáng kể, các doanh nghiệp cũng từ đó được thành lập với tốc độ “chóng mặt”. Đó là một tín hiệu đáng mừng cho nền kinh tế đang phát triển của nước ta. Những hoạt động chung của doanh nghiệp đều được đặt dưới sự quản lý của Nhà nước thông qua pháp luật. Tuy nhiên, trong một giai đoạn nào đó hoặc vì một số lý do khách quan hay chủ quan, doanh nghiệp không thể tiếp tục hoạt động được nữa và tiến hành giải thể, chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp mình. Luật Doanh nghiệp 2014 đã có những quy định cụ thể về trình tự và thủ tục về giải thể doanh nghiệp. Để tìm hiểu kỹ hơn về vấn đề này, em xin chọn đề tài: “Bình luận các quy định của pháp luật về giải thể doanh nghiệp và thực tiễn tìm hiểu được”.

1. Bình luận các quy định của pháp luật về giải thể doanh nghiệp:

1.1. Khái niệm giải thể doanh nghiệp:

            – Doanh nghiệp: là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng kí thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh.

            – Giải thể doanh nghiệp: là một trong những thủ tục pháp lí dẫn đến chấm dứt tồn tại của doanh nghiệp. Hậu quả của giải thể là doanh nghiệp sẽ bị xóa tên trong sổ đăng kí kinh doanh. Khi giải thể, các nghĩa vụ tài sản của doanh nghiệp sẽ được giải quyết và mọi tài sản còn lại của doanh nghiệp được phân chia cho các thành viên hoặc chủ sở hữu doanh nghiệp.

               +) Giải thể doanh nghiệp là một thủ tục mang tính chất hành chính.

               +) Các quy định pháp luật về giải thể doanh nghiệp bao gồm những nội dung cơ bản là: các trường hợp giải thể, thủ tục giải thể và những hoạt động doanh nghiệp bị cấm thực hiện sau khi có quyết định giải thể. Thông thường, việc quyết định giải thể doanh nghiệp thuộc quyền của chủ sở hữu doanh nghiệp. Tuy nhiên, khi doanh nghiệp không còn thỏa mãn các điều kiện tồn tại theo quy định của pháp luật hoặc kinh doanh vi phạm pháp luật, thì doanh nghiệp bắt buộc phải giải thể. Các quy định về giải thể doanh nghiệp không chỉ tạo ra cơ sở pháp lí để chấm dứt tồn tại của doanh nghiệp, mà quan trọng hơn là còn bảo vệ quyền lợi của những chủ thể có liên quan, đặc biệt là quyền lợi của chủ nợ và người lao động khi doanh nghiệp chấm dứt tồn tại. Về pháp lí, vấn đề quan trọng nhất trong giải thể doanh nghiệp là giải quyết những khoản nợ và những hợp đồng mà doanh nghiệp đã giao kết trước khi chấm dứt sự tồn tại. các khoản nợ và hợp đồng này có thể được thực hiện bằng các giải pháp: Doanh nghiệp tiến hành thanh toán hết các khoản nợ và thực hiện đầy đủ các hợp đồng; Chuyển giao nghĩa vụ thanh toán nợ và nghĩa vụ hợp đồng cho chủ thể khác theo thỏa thuận giữa các bên có liên quan.

    +) Việc tiến hành giải thể doanh nghiệp sẽ được tiến hành bởi các chủ thể sau:
Theo điểm b khoản 2 Điều 201 Luật doanh nghiệp 2014 quy định: “b, Theo quyết định của chủ doanh nghiệp đối với doanh tư nhân, của tất cả thành viên hợp danh đối với công ty hợp danh, Hội đồng thành viên, chủ sở hữu công ty đối với công ty trách nhiệm hữu hạn, của Đại hội cổ đông đối với công ty cổ phần;”Như vậy đối với doanh nghiệp tư nhân là chủ doanh nghiệp, tất cả thành viên hợp danh đối với công ty hợp danh. Hội đồng thành viên, chủ sở hữu công ty đối với công ty trách nhiệm hữu hạn, còn với công ty cổ phần là Đại hội đồng cổ đông.

    +) Về mặt pháp lý, doanh nghiệp có thể lựa chọn một trong hai phương thức sau để chấm dứt hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp: một là, thực hiện thủ tục giải thể – thủ tục hành chính được tiến hành tại cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh; hai là, thực hiện thủ tục phá sản mang tính tố tụng tư pháp, yêu cầu tòa án tuyên bố chấm dứt hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Thực tế, hầu hết các doanh nghiệp tại Việt Nam đều chọn phương thức chấm dứt hoạt động kinh doanh theo thủ tục giải thể để rút lui khỏi thương trường, còn thủ tục phá sản ít được cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam đón nhận. Bằng chứng là theo thống kê của Tòa án nhân dân tối cao, trong giai đoạn 10 năm thực thi Luật Phá sản năm 2004 (từ năm 2004 đến năm 2014) các tòa án trên cả nước chỉ tuyên bố phá sản có 84 doanh nghiệp. Thậm chí từ ngày 01/01/2015 đến nay, số lượng doanh nghiệp bị phá sản tại Việt Nam cũng không đáng kể so với phương thức giải thể doanh nghiệp – vốn được nhà đầu tư lựa chọn phổ biến hơn. Số lượng doanh nghiệp phá sản ít xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau như do thủ tục phá sản doanh nghiệp tại Việt Nam phức tạp so với mặt bằng chung của thế giới. Theo thống kê của Ngân hàng Thế giới (WB), để phá sản một doanh nghiệp tại Việt Nam, nhà đầu tư phải mất gần 5 năm, tiêu tốn 14,5% chi phí tài chính trên giá trị tài sản của doanh nghiệp[1]. Trong hoàn cảnh đó, thủ tục giải thể doanh nghiệp tất yếu được các nhà đầu tư lựa chọn như giải pháp phù hợp nhất để đóng cửa doanh nghiệp.

1.2. Các trường hợp giải thể doanh nghiệp:

   Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định về các trường hợp giải thể tại khoản 1 Điều 201. Nếu như Luật Doanh nghiệp 2005 quy định trường hợp giả thể của doanh nhiệp bao gồm hai hình thức đó là giải thể tự nguyện và giải thể bắt buộc. Nhưng đến Luật Doanh nghiệp 2014 thì Doanh nghiệp bị giải thể trong các trường hợp sau (Theo khoản 1 Điều 201 Luật doanh nghiệp 2014 quy định):

“a, Kết thúc thời hạn hoạt động đã ghi trong Điều lệ công ty mà không có quyết định gia hạn;”:

   Trường hợp Điều lệ công ty có quy định về thời hạn hoạt động, khi hết thời hạn hoạt động được ghi trong Điều lệ công ty, nếu các thành viên không muốn xin gia hạn hoạt động, thì công ty phải tiến hành giải thể. Việc quy định thời hạn hoạt động của doanh nghiệp có thể do thỏa thuận của các thành viên, cổ đông sáng lập, hoặc do sự cấp phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

b, Theo quyết định của chủ doanh nghiệp đối với doanh nghiệp tư nhân, của tất cả thành viên hợp danh đối với công ty hợp danh, Hội đồng thành viên, chủ sở hữu công ty đối với công ty trách nhiệm hữu hạn, của Đại hội cổ đông đối với công ty cổ phần;”:

   Quyết định giải thể này thể hiện sự tự nguyện của chủ sở hữu đối với doanh nghiệp của mình. Việc chủ doanh nghiệp không muốn tiếp tục kinh doanh có thể bắt nguồn từ những lý do khác nhau, chẳng hạn như lợi nhuận thấp, thua lỗ kéo dài, có mâu thuẫn nội bộ, không còn phù hợp với mục đích kinh doanh đề ra ban đầu và nhiều yếu tố khác. Trong trường hợp này, chủ doanh nghiệp có thể đi đến quyết định giải thể doanh nghiệp để thu hồi vốn hoặc chuyển sang kinh doanh những loại hình doanh nghiệp khác với những chủ thể khác. Đây là quyết định hoàn toàn mang tính tự nguyện và chủ động của chủ doanh nghiệp.

-“ c, Công ty không còn đủ số lượng thành viên tối thiểu theo quy định của Luật này trong thời hạn 6 tháng liên tục mà không làm thủ tục chuyển đổi loại hình doanh nghiệp;”:

   Có đủ số lượng thành viên tối thiểu là một trong những điều kiện để công ty tồn tại và hoạt động. Pháp luật quy định số lượng thành viên tối thiểu cho mỗi loại hình công ty khác nhau. Số lượng thành viên tối thiểu theo quy định đối với công ty cổ phần là ba, con số này là hai đối với công ty trách nhiệm hữu hạn có hai thành viên trở lên. Đối với công ty hợp danh, pháp luật quy định phải có ít nhất hai cá nhân là thành viên hợp danh. Khi không có đủ số lượng thành viên tối thiểu để tiếp tục tồn tại, công ty phải kết nạp thêm thành viên cho đủ số lượng thành viên tối thiểu. Nếu trong thời hạn 6 tháng liên tục mà công ty không tiến hành kết nạp thêm thành viên khi số lượng thành viên không đủ hoặc không chuyển đổi sang loại hình doanh nghiệp phù hợp thì công ty phải tiến hành thủ tục giải thể doanh nghiệp.

– “ d, Bị thu hồi giấy chứng nhận đăng kí doanh nghiệp.”:

   Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, doanh nghiệp phải triệu tập họp để quyết định giải thể doanh nghiệp. Để thành lập doanh nghiệp, người thành lập phải chuẩn bị hồ sơ đăng ký doanh nghiệp và nộp cho cơ quan đăng ký kinh doanh đồng thời phải chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực và hợp pháp của hồ sơ đăng ký doanh nghiệp. Trên cơ sở hồ sơ hợp lệ, cơ quan đăng ký kinh doanh sẽ thực hiện cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho doanh nghiệp, ghi nhận sự ra đời, công nhận về mặt pháp lý sự xuất hiện của doanh nghiệp trên thị trường. Có thể nói, Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp chính là tấm giấy “thông hành” để doanh nghiệp có thể tiến hành các hoạt động của mình trên thị trường cũng như xác lập các quan hệ pháp lý với cơ quan nhà nước. Do vậy, bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cũng có nghĩa là Nhà nước rút lại sự công nhận tư cách chủ thể kinh doanh đối với doanh nghiệp. Trong trường hợp này, doanh nghiệp không còn được công nhận về địa vị pháp lý và không còn được tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh.

1.3. Điều kiện giải thể doanh nghiệp:

– Theo khoản 2 Điều 201 Luật Doanh nghiệp 2014 quy định: “Doanh nghiệp chỉ được giải thể khi bảo đảm thanh toán hết các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác và doanh nghiệp không trong quá trình giải quyết các tranh chấp tại Toà án hoặc cơ quan trọng tài. Người quản lí có liên quan và doanh nghiệp quy định tại điểm d khoản 1 Điều này cùng liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ của doanh nghiệp”

– Các quy định về giải thể doanh nghiệp không chỉ tạo cơ sở pháp lý để chấm dứt tồn tại của doanh nghiệp, mà quan trọng hơn là còn bảo vệ quyền lợi của những chủ thể có liên quan, đặc biệt là quyền lợi của chủ nợ và người lao động khi doanh nghiệp chấm dứt tồn tại. Do vậy, việc xác định rõ điều kiện để tiến hành giải thể doanh nghiệp là hết sức cần thiết.

– Vấn đề mấu chốt trong giải thể doanh nghiệp là giải quyết những khoản nợ và những hợp đồng mà doanh nghiệp đã giao kết trước khi chấm dứt tồn tại. Các khoản nợ và hợp đồng này có thể được thực hiện bằng các giải pháp như: doanh nghiệp tiến hành thanh toán hết các khoản nợ và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ hợp đồng; chuyển giao nghĩa vụ thanh toán nợ và nghĩa vụ hợp đồng cho chủ thể khác theo thỏa thuận giữa các bên có liên quan. Theo quy định tại Khoản 2 Điều 201 Luật Doanh nghiệp năm 2014, doanh nghiệp chỉ được giải thể khi bảo đảm thanh toán hết các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác và doanh nghiệp không trong quá trình giải quyết tranh chấp tại Tòa án hoặc cơ quan trọng tài.

1.4. Trình tự, thủ tục giải thể doanh nghiệp:

   +) Trình tự, thủ tục giải thể doanh nghiệp được quy định tại khoản 1 Điều 202 Luật Doanh nghiệp năm 2014.

   +) Giải thể doanh nghiệp dẫn tới sự chấm dứt tồn tại và hoạt động của công ty và thanh toán tài sản, thanh toán khoản nợ. Vì vậy, việc giải thể công ty phải tuân theo những thủ tục nhất định:

            – Thông qua quyết định giải thể công ty: Theo quy định của luật doanh nghiệp khi rơi vào một trong các trường hợp bị giải thể, để tiến hành việc giải thể thì công ty phải thông qua quyết định giải thể công ty. Sau khi quyết định dã được thông qua, công ty phải gửi quyết định này tới cơ quan đăng kí kinh doanh, các chủ nợ, người lạo động và người có quyền, lợi ích liên quan.

             – Thanh lí tài sản và thanh toán các khoản nợ của công ty: Các khoản nợ của doanh nghiệp được thanh toán theo thứ tự sau đây ( Theo khoản 5 Điều 202 Luật doanh nghiệp 2014)

  • Các khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật và các quyền lợi khác của người lao động theo thỏa ước lao động tập thể và hợp đồng lao động đã ký kết.
  • Nợ thuế và các khoản nợ khác: Sau khi đã thanh toán hết các khoản nợ và chi phí giải thể doanh nghiệp, phần còn lại thuộc về chủ thể doanh nghiệp tư nhân, các thành viên, cổ đông hoặc chủ sở hữu công ty.

            – Xóa tên doanh nghiệp: Sau thời hạn 180 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải thể theo Khoản 3 Điều 201 Luật doanh nghiệp 2014 mà không nhận được ý kiến về việc giải thể từ doanh nghiệp hoặc phản đối của bên có liên quan bằng văn bản hoặc trong 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ giải thể, Cơ quan đăng kí kinh doanh cập nhật tình trạng pháp lý của doanh nghiệp trên cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng kí doanh nghiệp.

   +) Theo điều 202 Luật doanh nghiệp 2014, giải thể doanh nghiệp dẫn tới sự chấm dứt tồn tại và hoạt động của công ty và thanh toán tài sản, khoản nợ. Vì vậy, việc giải thể công ty phải tuân theo trình tự, thủ tục nhất định. Việc giải thể doanh nghiệp làm phát sinh hai mối quan hệ: Thứ nhất là quan hệ giữa các thành viên trong nội bộ doanh nghiệp; Thứ hai là quan hệ giữa doanh nghiệp với các chủ thể khác, bao gồm bạn hàng, đối tác, người lao động trong doanh nghiệp và nhà nước. Đây là những quan hệ liên quan đến tài sản và liên quan đến hoạt động quản lí nhà nước trong lĩnh vực đăng kí kinh doanh. Hoạt động giải thể chỉ được coi là hoàn thành nếu doanh nghiệp đã xử lí xong mối quan hệ với tất cả các chủ thể nói trên.

             – Để có thể tiến hành giải thể doanh nghiệp trước hết đòi hỏi phải có một quyết định giải thể doanh nghiệp. Nếu là doanh nghiệp một chủ thì chủ sở hữu doanh nghiệp tự mình ra quyết định. Trong trường hợp doanh nghiệp nhiều chủ thì phải tiến hành họp toàn thể thành viên doanh nghiệp để thông qua quyết định giải thể. Quyết định này thể hiện sự nhất trí của các thành viên về các vấn đề liên quan đến lí do giải thể; thời hạn, thủ tục thanh lí hợp đồng và thanh toán các khoản nợ; phương án xử lí các nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng lao động và việc thành lập tổ thanh lí tài sản

             – Sau khi quyết định giải thể được thông qua, doanh nghiệp phải thông báo cho những người có quyền và lợi ích liên quan đến hoạt động giải thể doanh nghiệp biết về quyết định giải thể. Việc thông báo được thực hiện đồng thời bằng ba cách, cụ thể là: Gửi trực tiếp quyết định giải thể đã được doanh nghiệp thông qua tới những người liên quan. Cùng với quyết định này là thông báo về phương án giải quyết nợ như thời hạn, địa điểm và phương thức thanh toán nợ, cách thức và thời hạn giải quyết khiếu nại của chủ nợ; Niêm yết quyết định đó tại trụ sở chính của doanh nghiệp; Đăng báo địa phương hoặc báo ngày của trung ương trong 3 số liên tiếp.

             – Theo Điểm c Khoản 1 Điều 202 Luật Doanh nghiệp 2014 quy định: “Thời hạn thanh lí hợp đồng không được vướt quá 06 tháng, kể từ ngày thông qua quyết định giải thể”. Thiết nghĩ, thời gian này chỉ phù hợp với những doanh nghiệp có quy mô nhỏ, không có mối quan hệ giao dịch phức tạp, tài sản có tính thanh khoản cao chứ không phù hợp với phần lớn Doanh nghiệp khác và các trường hợp khác. Với những doanh nghiệp có quy mô khá lớn hoặc có tài sản (như bất động sản), cần thời gian dài để thanh lí và trả nợ thì thời gian này chắc chắn không đủ để giải quyết hết các hợp đồng và thanh toán nợ nần.

             – Tiếp theo, tiến hành thanh lí tài sản và thanh toán các khoản nợ theo đúng phương án giải quyết nợ như đã được thông báo. Việc thanh toán các khoản nợ là rất phức tạp vì cần phải bảo đảm quyền và lợi ích của người liên quan. Pháp luật quy định trình tự thực hiện cho việc này. Trước hết phải thanh toán các khoản nợ cho các chủ nợ, người lao động, nợ thuế, và các nghĩa vụ khác, sau đó tiến hành phân chia tài sản còn lại của công ty cho các thành viên. (Khoản 6 Điều 202 Luật Doanh nghiệp 2014)

             – Sau khi thanh toán hết nợ, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp gửi hồ sơ giải thể doanh nghiệp đến cơ quan đăng ký kinh doanh để cơ quan này xóa tên doanh nghiệp khỏi sổ đăng kí kinh doanh. Sau khi thực hiện xong các thủ tục nói trên, việc giải thể được coi là hoàn tất và doanh nghiệp chấm dứt sự tồn tại trên thực thế. Theo quy định khi một doanh nghiệp muốn được giải thể thì phải thông báo bằng văn bản đến hai cơ quan nhà nước là cơ quan thuế và Sở KH&ĐT. Các thông báo này phải kèm theo các khoản nợ mà doanh nghiệp chưa giải quyết được. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp chỉ thông báo về các khoản nợ đối với cơ quan nhà nước và giấu những khoản nợ còn lại với các chủ nợ các nhận, lương của người lao động mà các cơ quan nhà nước không thể biết được… Sau khi doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, doanh nghiệp “âm thầm biến mất” thì các chủ thể có liên quan không có cách nào hữu hiện để bảo vệ quyền lợi của mình.

             – Trên thực tế hiện nay việc giải thể doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn. Muốn giải thể, doanh nghiệp ngoài việc giải quyết các nghĩa vụ tài chính thì cần phải làm quyết toán thuế với cơ quan thuế, sau đó tiến hành trả dấu cho cơ quan công an và cuối cùng mới được nộp hồ sơ giải thể ở cơ quan quản lí Nhà nước về đăng kí kinh doanh hoặc đầu tư. Đặc biệt là khâu xác nhận của cơ quan thuế về việc đã hoàn thành các nghĩa vụ về thuế. Trên thực tế, việc doanh nghiệp mời cơ quan thuế tới kiểm tra xác nhận việc hoàn thành các nghĩa vụ về thuế là không dễ dàng. Chính vì vậy thời gian giải thể doanh nghiệp thường mất nhiều thời gian thậm chí có những trường hợp thời gian giải thể kéo dài cả năm. Thực tế này đã gây ra nhiều tổn thất cho doanh nghiệp nói chung. Vì để không mất thời gian, chi phí để làm thủ tục giải thể trong thực tế đã có không ít doanh nghiệp lạm dụng quy định để được giải thể tự động như quy định tại Khoản 6, Điều 158 Luật Doanh nghiệp 2005 quy định: “Sau thời hạn 6 tháng… mà cơ quan đăng kí kinh doanh không nhận được hồ sơ giải thể doanh nghiệp thì doanh nghiệp đó coi như đã được giải thể và cơ quan đăng kí kinh doanh xóa tên doanh nghiệp trong sổ đăng kí kinh doanh”. Đồng thời pháp luật doanh nghiệp hiện nay chưa có quy định rõ ràng về trách nhiệm của cơ quan thuế trong việc kiểm tra, xác nhận doanh nghiệp đã hoàn thành các nghĩa vụ về thuế để giúp doanh nghiệp được “chấm dứt sự tồn tại”, trách nhiệm ra sao? Thời gian trong bao lâu? Do đó, cần phải có quy định về thời hạn giải thể của doanh nghiệp hoặc trước mắt quy định thời hạn thụ lí giải quyết của cơ quan thuế trong việc xác nhận doanh nghiệp đã hoàn thành các nghĩa vụ về thuế. Qua đó giúp doanh nghiệp nhanh chóng giải thể.

   +)  Qua quá trình áp dụng và sửa đổi bổ sung Luật doanh nghiệp năm 2005, Luật Doanh nghiệp năm 2014 đã quy định chi tiết hơn về trình tự, tủ tục giải thể tại điều 202. Tại khoản 3 điều này quy định ngoài việc gửi quyết định giải thể ra thì biên bản họp được gửi đến Cơ quan đăng kí kinh doanh, cơ quan thuế, người lao động trong doanh nghiệp, đăng quyết định giải thể trên cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp và phải được niêm yết công khai tại trụ sở chính, chi nhánh, văn phóng đại diện của doanh nghiệp. Còn Luật doanh nghiệp năm 2005 chỉ quy định phải gửi quyết định giải thể và chủ thể nhận quyết định quy định không chi tiết, cụ thể chỉ bao gồm cơ quan đăng ký kinh doanh, tất cả các chủ nợ, người có quyền và nghĩa vụ liên quan, người lao động trong doanh nghiệp và phải được niêm yết công khai tại trụ sở chính và chi nhánh doanh nghiệp.

1.5. Các hoạt động bị cấm kể từ khi có quyết định giải thể:

( Theo Điều 205 Luật Doanh nghiệp 2014)

Việc đảm bảo quyền và lợi ích của các chủ thể liên quan đến việc giải thể doanh nghiệp được thực hiện bằng hai quy định chính: cấm doanh nghiệp thực hiện một số hành vi nhất định và trách nhiệm của người quản lí doanh nghiệp bị giải thể.

Tiếp nối Luật Doanh nghiệp năm 2005, thì Luật Doanh nghiệp 2014 cũng quy định rất rõ các hoạt động bị cấm của doanh nghiệp khi có quyết định giải thể, bởi ta thấy khi doanh nghiệp bị giải thể đồng nghĩa với việc doanh nghiệp chấm dứt sự tồn tại, hoạt động kinh doanh của mình. Việc quy định này là nhằm đảm bảo nghĩa vụ tài tài chính của doanh nghiệp phải được dùng triệt để các tài sản để thanh toán với chủ nợ đồng thời cũng đảm bảo quyền và lợi ích cho các chủ thể có liên quan.

2. Thực tiễn thi hành pháp luật về việc giải thể doanh nghiệp:

2.1. Thực trạng về việc giải thể doanh nghiệp hiện nay:

   +) Trong bối cảnh chung của nền kinh tế thế giới, nền kinh tế nước ta gặp rất nhiều khó khăn điều này tác động lớn đến hoạt động của các doanh nghiệp. Theo thống kê cho thấy từ năm 2014 đến nay số doanh nghiệp giải thể, ngừng hoạt động tăng cao.

            – Theo Tổng cục Thống kê, trong năm 2014 cả nước có 67.823 doanh nghiệp gặp khó khăn buộc phải giải thể và 58.322 doanh nghiệp khó khăn phải ngừng hoạt động, tăng 14,5% so với năm trước.

              – Trong năm 2015, hơn 9.400 doanh nghiệp giải thể và 71.391 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, tăng 22,4% so với cùng kỳ năm trước.

              – Năm 2016 thống kê trong 4 tháng đầu năm cho thấy số doanh nghiệp gặp khó khăn buộc phải tạm ngừng hoạt động là 25.135 doanh nghiệp, tăng 31,8% so với cùng kì năm trước. Trong đó bao gồm 9.450 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động có thời hạn và 15.685 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ đóng mã số doanh nghiệp hoặc không đăng ký.

              – Trong năm 2019, số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể trong năm 2019 là 16.840 doanh nghiệp, tăng 3,2% so với năm 2018. Có 05 ngành có số lượng doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể giảm là: Khai khoáng có 116 doanh nghiệp, giảm 60,1%; Công nghiệp chế biến chế tạo có 1.830 doanh nghiệp, giảm 17,1%; Xây dựng có 1.625 doanh nghiệp, giảm 12,1%; Nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản có 364 doanh nghiệp, giảm 7,4% Và Vận tải kho bãi có 709 doanh nghiệp, giảm 5,2%. Các ngành có tỷ lệ gia tăng doanh nghiệp giải thể nhiều nhất là: Kinh doanh bất động sản có 686 doanh nghiệp, tăng 39,4%; Y tế và hoạt động trợ giúp xã hội có 103 doanh nghiệp, tăng 47,1% và Tài chính, ngân hàng và bảo hiểm có 208 doanh nghiệp, tăng 30,8%. Khu vực Đông Nam Bộ có số lượng doanh nghiệp giải thể lớn nhất với 6.385 doanh nghiệp (chiếm 37,9% cả nước), tăng 22,2%. Đồng bằng Sông Hồng có 3.529 doanh nghiệp giải thể (chiếm 21%), tăng 12,9%. Đồng bằng Sông Cửu Long có sự gia tăng đột biến về số lượng doanh nghiệp giải thể với 3.014 doanh nghiệp (chiếm 17,9%), tăng 54,8%.  [2]

                – Số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể trong 4 tháng đầu năm 2020 là 5.103 doanh nghiệp, giảm 3,8% so với cùng kỳ năm 2019. 8/17 ngành kinh doanh chính có số lượng doanh nghiệp giải thể tăng. Các lĩnh vực có tỷ lệ doanh nghiệp giải thể tăng cao so với cùng kỳ năm 2019 là Kinh doanh bất động sản; Y tế và hoạt động trợ giúp xã hội và Giáo dục và đào tạo với tỷ lệ tăng lần lượt là 48,4%; 43,3% và 30,3%. Phân theo vùng lãnh thổ, 03 vùng có số lượng doanh nghiệp giải thể trong 4 tháng đầu năm 2020 tăng so cùng kỳ năm 2019 là: Đồng bằng sông Hồng (1.268 doanh nghiệp, tăng 11,1%); Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung (730 doanh nghiệp, tăng 15,9%) và Đông Nam Bộ (2.245 doanh nghiệp, tăng 28,9%). Khu vực Tây Nguyên có số lượng doanh nghiệp giải thể thấp nhất với 140 doanh nghiệp (chiếm 2,7% cả nước, giảm 27,1%). Đồng bằng Sông Cửu Long có 518 doanh nghiệp (chiếm 10,2% cả nước, giảm  23,6%) và Trung du và miền núi phía Bắc có 202 doanh nghiệp (chiếm 4,0%, giảm 36,1%).[3]

   +) Về mặt số liệu thực trạng trên cho thấy giải thể doanh nghiệp đang nổi lên vấn đề “tồn kho” một lượng rất lớn doanh nghiệp đã không còn hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng vẫn không nộp đơn giải thể. Tỷ trọng doanh nghiệp tuân thủ nghĩa vụ giải thể doanh nghiệp rất thấp. Do vậy, có một lượng lớn doanh nghiệp không còn hoạt động nhưng không thực hiện quy trình giải thể, phá sản. Đây là một tỷ lệ thấp dẫn tới việc Nhà nước thất thu,  người lao động bị xâm hại quyền lợi và làm sai lệch các thông tin thống kê về doanh nghiệp, ảnh hưởng tới sự minh bạch môi trường kinh doanh. Đặc biệt, việc doanh nghiệp đã ngừng hoạt động nhưng vẫn gây hậu quả kéo dài đang thể hiện rõ với những trường hợp chủ doanh nghiệp là người nước ngoài, có thuê đất nhà nước, còn nợ thuế, nợ khách hàng, nợ lương người lao động… nhưng chủ doanh nghiệp đã bỏ trốn về nước nên không có người chịu trách nhiệm để thực hiện các thủ tục giải thể, phá sản theo quy định của pháp luật.

2.2. Ưu điểm về giải thể doanh nghiệp:

   +) Đối với doanh nghiệp:

            – Giải thể xuất phát từ ý chí chủ quan của chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân; tất cả các thành viên hợp danh (công ty hợp danh); Hội đồng thành viên, chủ sở hữu công ty (công ty trách nhiệm hữu hạn), Đại hội đồng cổ đông ( Công ty cổ phần) khi doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, không tìm được hướng đi mới hoặc nó đã thực hiện xong nhiệm vụ đặt ra khi thành lập. Giải thể doanh nghiệp có yếu tố tự quyết của chủ doanh nghiệp.

            – Doanh nghiệp giải thể chỉ đơn thuần là giải quyết dứt điểm tình trạng công nợ, thanh lí tài sản chia cho các cổ đông, trả giấy phép.

            – Giám đốc doanh nghiệp giải thể có thể đứng ra thành lập, điều hành công ty mới.

            – Doanh nghiệp giải thể sau khi thực hiện xong các nghĩa vụ tài sản vẫ có thể chuyển sang một ngành nghề kinh doanh khác nếu có thể

   +) Đối với nền kinh tế:

            – Nó có tác dụng tích cực sắp xếp lại sản xuất theo hướng có hiệu quả hơn.

            – Đòi hỏi các doanh nghiệp phải luôn luôn tìm tòi, sáng tạo, thích ứng với môi trường kinh doanh thường xuyên biến động hiện nay.

            – Thúc đẩy việc phân công lao động một cách hợp lí và có hiệu quả.

2.3. Những hạn chế về việc giải thể doanh nghiệp:

   +) Về nghĩa vụ của doanh nghiệp:

 – Về mặt nghĩa vụ của doanh nghiệp trong giải thể ta có thể thấy điểm bất cập từ quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 201 quy định là công ty không còn đủ số lượng thành viên tối thiểu theo quy định của Luật này trong thời hạn 06 tháng liên tục mà không làm thủ tục chuyển đổi loại hình doanh nghiệp thì bị giải thể.

 – Theo em quy định này là chưa được phù hợp bởi vì việc các cơ quan nhà nước có thẩm quyền muốn xác định được tính liên tục trong hoạt động của doanh nghiệp là rất khó khăn bởi lẽ không có một căn cứ cụ thể nào để xác định được tính liên tục trong hoạt động của doanh nghiệp hiện nay.

   +) Thời hạn thanh lý hợp đồng:

            – Về thời hạn thanh lý hợp đồng được quy định tại điểm c khoản 1 điều 202 của Luật doanh nghiệp 2014 là không được vượt quá 06 tháng kể từ ngày thông qua quyết định giải thể.

 – Theo em thì thời hạn này chỉ phù hợp với những doanh nghiệp có quy mô nhỏ, không có những mối quan hệ giao dịch phức tạp, tài sản có tính thanh toán cao chứ không phù hợp với phần lớn các doanh nghiệp khác và các trường hợp khác. Ví dụ như với những doanh  nghiệp có quy mô khá lớn và có tài sản như bất động sản thì sẽ cần thời gian dài để thanh lí hợp đồng và trả nợ thì thời hạn này chắc chắn không đủ để giải quyết hết các hợp đồng và thanh toán hết nợ. Nhưng nếu nhìn nhận ở khía cạnh tích cực chúng ta vẫn thấy có khả năng doanh nghiệp muốn thanh toán nợ, nhưng không liên lạc được với chủ nợ vì chủ nợ đã xuất ngoại định cư.

   +) Thời hạn giải thể doanh nghiệp:

 – Trong khoản 8 Điều 202 Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định là sau thời hạn 180 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải thể theo khoản 3 Điều này mà không nhận được ý kiến về việc giải thể từ doanh nghiệp hoặc phản đối của bên có liên quan bằng văn bản hoặc trong 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ giải thể, Cơ quan đăng ký kinh doanh cập nhật tình trạng pháp lý của doanh nghiệp trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.

 – Theo em quy định này là chưa được hợp lý và có thể gây nhiều tác động tiêu cực đến việc giải thể doanh nghiệp. Chính quy định này mà một số doanh nghiệp đã lợi dụng để được giải thể “tự động” mà không mất thời gian, chi phí cho việc làm thủ tục giải thể[4].

Từ đó thấy rằng các quy định về giải thể doanh nghiệp quy định trong Luật Doanh nghiệp 2014 chưa thật sự rõ ràng, thiếu hiệu quả và còn tương đối phức tạp đã khiến cho các doanh nghiệp cố tình lảng tránh thực hiện việc đăng ký giải thể theo quy định, còn các cơ quan quản lý nhà nước rơi vào tình trạng khó quản lý và giám sát doanh nghiệp cũng như không xử lý được vấn đề.

3. Nguyên nhân những vướng mắc trong giải thể doanh nghiệp:

   Qua đó ta thấy được rằng những khó khăn, vướng mắc trong vấn đề giải thể doanh nghiệp xuất phát từ nhiều nguyên nhân. Tuy nhiên, vấn đề pháp lý liên quan đến hồ sơ, trình tự, thủ tục giải thể đang được quy định tại Luật doanh nghiệp không phải nguyên nhân cơ bản. Việc doanh nghiệp ngại giải thể không phải mới xuất hiện trong thời gian gần đây mà đã diễn ra ngay từ khi nước ta triển khai thực hiện luật Doanh nghiệp 1999. Điều này xuất phát từ một số nguyên do sau:

+) Thứ nhất, nhận thức pháp luật của nhiều doanh nghiệp còn thấp, ý thức chấp hành các quy định của pháp luật về giải thể, phá sản theo quy định của các doanh nghiệp hiện nay chưa cao.

+) Thứ hai, chế tài xử lý đối với các chủ doanh nghiệp, người đại diện theo pháp luật không chịu chấp hành các quy định về giải thể, phá sản chưa đủ răn đe, dẫn tới nhiều chủ doanh nghiệp, người đại diện theo pháp luật không quan tâm tới nghĩa vụ giải thể, phá sản doanh nghiệp.

+) Thứ ba, hệ thống quy định về phá sản doanh nghiệp có nhiều bất cập. Vì vậy, doanh nghiệp muốn tuân thủ theo đúng quy định cũng rất khó. Trong số 140 ngàn doanh nghiệp không còn hoạt động, một tỷ lệ lớn các doanh nghiệp là lâm vào tình trạng phá sản (do không thể thanh toán hết các khoản nợ). Vì vậy, không thể thực hiện thủ tục chấm dứt hoạt động theo quy trình đơn giản là giải thể doanh nghiệp. Tuy nhiên, để thực hiện được quy trình theo quy định của Luật Phá sản, mỗi doanh nghiệp phải mất 3 đến 5 năm mới hoàn tất thủ tục. Điều này dẫn tới, tỷ lệ doanh nghiệp đã và đang thực hiện thủ tục phá sản gần như không có ý nghĩa trong thực tế.

+) Thứ tư, trong nhiều trường hợp, việc hướng dẫn, hỗ trợ, tạo điều kiện để doanh nghiệp hoàn thành nhanh chóng các thủ tục hành chính liên quan theo quy trình giải thể tại một số cơ quan quản lý nhà nước địa phương chưa được tốt. Đặc biệt là thủ tục hoàn tất nghĩa vụ thuế còn gặp nhiều khó khăn và thời gian kéo dài gây khó khăn cho việc làm thủ tục giải thể của các doanh nghiệp hiện nay.

4. Giải pháp, kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp, kiến nghị thi hành pháp luật về việc giải thể doanh nghiệp:

4.1. Giải pháp kiến nghị hoàn thiện các quy định về giải thể doanh nghiệp:

   Để tạo thuận lợi cho quá trình giải thể doanh nghiệp trong thời gian tới và khắc phục các vướng mắc, bất cập của quy định pháp luật doanh nghiệp thời gian qua, em xin kiến nghị một số nội dung hoàn thiện pháp luật như sau:

– Thứ nhất, về các trường hợp giải thể, Điểm d Khoản 1 Điều 201 Luật Doanh nghiệp 2014 quy định trường hợp giải thể bắt buộc ” bị thu hồi giấy chứng nhận đăng kí doanh nghiệp”. Ngoài quy định này, nên bổ sung trường hợp giải thể bắt buộc do “bị huỷ giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh”, bởi loại giấy tờ này có thể bị toà án huỷ nếu như được cấp trái pháp luật và có thể được cấp lại đúng pháp luật.

– Thứ hai, sửa đổi khoản 3 Điều 202 Luật Doanh nghiệp năm 2014 theo hướng bổ sung quy định yêu cầu doanh nghiệp giải thể phải gửi quyết định giải thể doanh nghiệp đến cơ quan bảo hiểm xã hội bên cạnh các cơ quan hữu quan khác. Theo đó, trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày thông qua, quyết định giải thể và biên bản họp phải được gửi đến Cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ quan thuế, cơ quan bảo hiểm xã hội và người lao động trong doanh nghiệp. Việc bổ sung chủ thể cơ quan bảo hiểm xã hội được gửi/thông báo quyết định giải thể nêu trên sẽ khắc phục các rào cản trong thủ tục giải thể doanh nghiệp thời gian qua tại Việt Nam, không những góp phần bảo vệ quyền lợi người lao động, mà còn đảm bảo cho việc quản lý nhà nước của cơ quan bảo hiểm xã hội đối với doanh nghiệp giải thể được chặt chẽ hơn, hạn chế các trở ngại phát sinh trong quá trình thanh lý tài sản của doanh nghiệp giải thể.

– Thứ ba, Chính phủ cần ban hành Nghị định quy định chi tiết về trình tự, thủ tục giải thể doanh nghiệp theo quy định của Khoản 9 Điều 202 Luật Doanh nghiệp năm 2014 nhằm tạo thuận lợi cho việc giải quyết giải thể doanh nghiệp từ phía cơ quan công quyền lẫn doanh nghiệp.

– Thứ tư, luật hóa tiêu chí xác định chủ doanh nghiệp bỏ trốn để làm cơ sở giải quyết cho giải thể các doanh nghiệp “mất tích” trong nền kinh tế và bổ sung một số trường hợp giải thể doanh nghiệp vào Luật Doanh nghiệp năm 2014 cho phù hợp với diễn biến thực tế của doanh nghiệp Việt Nam. Đối với tiêu chí xác định một doanh nghiệp mất tích/chủ doanh nghiệp bỏ trốn, Luật Doanh nghiệp cần quy định trong vòng bao nhiêu ngày người đại diện của doanh nghiệp vắng mặt mà không có thông báo cho chính quyền sở tại và không có ủy quyền hợp pháp cho người khác hoặc các cơ quan chức năng đã có thông báo công khai mà chủ doanh nghiệp không có phản hồi thì được xem là “chủ doanh nghiệp bỏ trốn”. Khi đó, cơ quan chức năng được quyền thanh lý tài sản của doanh nghiệp theo luật định để trả lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho người lao động. Đồng thời, qua đó làm cơ sở cho người lao động hoặc tổ chức Công đoàn khởi kiện, yêu cầu phá sản doanh nghiệp để đảm bảo quyền lợi cho người lao động. [5]

– Thứ năm, để giảm tình trạng giải thể trong các doanh nghiệp, các cơ quan Nhà nước tăng cường những biện pháp, chính sách hỗ trợ tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp. Đồng thời, các chủ thể có thẩm quyền cần tăng cường công tác quản lý kiểm tra, kiểm soát, phát hiện kịp thời có chế tài xử lý những sai phạm trong hoạt động của các doanh nghiệp, kịp thời tháo gỡ khó khăn linh hoạt trong điều hành.

4.2. Một số kiến nghị sửa đổi các cơ chế của giải thể doanh nghiệp:

– Một là, tiếp tục nghiên cứu, đơn giản hóa những thủ tục hành chính của doanh nghiệp tại các cơ quan quản lý nhà nước trước khi doanh nghiệp thực hiện nộp bộ hồ sơ giải thể tại cơ quan đăng ký kinh doanh. Trong đó, tập trung đơn giản hóa quy trình về kê khai và quyết toán thuế cho doanh nghiệp sau khi doanh nghiệp quyết định giải thể.

– Hai là, tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền về quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp cũng như pháp luật, chế tài xử phạt vi phạm về giải thể, phá sản doanh nghiệp nhằm nâng cao hiểu biết và ý thức chấp hành pháp luật của doanh nghiệp.

– Ba là, quy định cụ thể và phân định rõ chức năng quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp và chức năng quản lý nhà nước đối với dự án đầu tư; sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định về giải thể doanh nghiệp; các quy định về quản trị doanh nghiệp theo thông lệ kinh tế thị trường.

– Bốn là, hoàn thiện cơ chế, chính sách và nền tảng công nghệ thông tin để Hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia giữ vai trò đầu mối cung cấp thông tin pháp lý về đăng ký doanh nghiệp, từ đó, tạo điều kiện cho mọi tổ chức, cá nhân có thể tiếp cận dễ dàng các thông tin chính xác về tình trạng pháp lý của doanh nghiệp; phát huy vai trò giám sát của xã hội đối với doanh nghiệp.

* Kết luận: Trong vòng đời doanh nghiệp, khi gặp khó khăn, doanh nghiệp có thể ngừng hoạt động sản xuất, kinh doanh trong một thời gian nhất định. Đây là một dạng rút lui tạm thời khỏi thị trường. Tuy nhiên, khi không thể tiếp tục hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp phải rút lui khỏi thị trường thông qua hình thức giải thể hoặc phá sản doanh nghiệp. Các quy định về giải thể ngày càng được hoàn thiện hơn thông qua những sửa đổi bổ sung Luật doanh nghiệp 2014. Nền tảng pháp lí cho doanh nghiệp ngày càng bền vững hơn, tạo điều kiện để khắc phục những yếu điểm còn tồn đọng trong những quy định của pháp luật.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Luật Doanh nghiệp 2014.
  2. Luật Phá sản năm 2014.
  3. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật thương mại, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội.
  4. Ts. Bùi Ngọc Cường (Chủ biên), Giáo trình Luật thương mại Việt Nam 1, Nxb Giáo dục.
  5. TS. Nguyễn Thị Dung (Chủ biên), Hỏi & đáp Luật Thương mại (hay Luật kinh doanh, Luật Kinh tế), Nxb. Chính trị – hành chính.
  6. TS. Nguyễn Thị Dung, Thực trạng pháp luật về giải thể doanh nghiệp – một số đánh giá và kiến nghị hoàn thiện, Tạp chí luật học số 10/2012.

Phân tích các vấn đề pháp lý và thực tiễn bảo hộ công dân của Việt Nam, ví dụ thực tiễn

Phân tích các vấn đề pháp lý và thực tiễn bảo hộ công dân của Việt Nam, có kèm ví dụ thực tiễn.

            Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, sự giao lưu của các nước trên thế giới hiện nay ngày càng mở rộng phát triển. Công dân của một quốc gia có thể sinh sống ở bất cứ nơi nào trên thế giới, vì vậy phải đề cao vấn đề bảo vệ quyền và lợi ích của họ. Trong các yếu tố cấu thành quốc gia, dân cư là yếu tố có vai trò rất quan trọng. Không thể hình thành nên một quốc gia nếu như không có dân cư cư trú thường xuyên trên lãnh thổ quốc gia đó. Quốc gia sẽ đảm bảo cho công dân được hưởng những quyền và ngược lại công dân cũng phải thực hiện những nghĩa vụ pháp lý mà pháp luật quy định. Có thể nói một trong những vấn đề quan trọng trong mối quan hệ giữa các quốc gia hiện nay là vấn đề bảo hộ công dân. Hiện nay vấn đề bảo hộ công dân là một vấn đề có ý nghĩa đặc biệt không chỉ đối với mỗi quốc gia mà còn có vai trò quan trọng trên phạm vi toàn thế giới. Bên cạnh đó, tình hình chính trị bất ổn của một quốc gia có thể ảnh hưởng đến quyền lợi của công dân một quốc gia khác, đặc biệt là về tính mạng và tài sản.

            Đề tài bảo hộ công dân là một đề tài rất rộng vì trên thực tế có rất nhiều vấn đề liên quan đến hoạt động bảo hộ công dân. Chẳng hạn bảo hộ cho người lao động di trú, bảo hộ trong trường hợp công dân bị bắt giữ ở nước ngoài… Trong bài tập lớn này, em sẽ tập trung phân tích những vấn đề pháp lý dựa trên pháp luật Quốc tế và pháp luật Việt Nam về bảo hộ công dân trong một số văn bản pháp luật như Hiến chương Liên Hợp Quốc năm 1945, Công ước Viên về Quan hệ ngoại giao năm 1961, Công ước Viên về Quan hệ lãnh sự năm 1963, Hiến pháp Việt Nam 2013, Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008, Luật Quốc tịch Việt Nam 2008 sửa đổi 2014…

            Vì vậy, em xin chọn đề tài số 7: “Lựa chọn phân tích làm rõ một hoặc một số vấn đề pháp lý và thực tiễn bảo hộ công dân của Việt Nam, có ví dụ thực tiễn” để tìm hiểu và làm rõ những vấn đề trên.

1. Vấn đề bảo hộ công dân và liên hệ thực tiễn.

1.1. Mối quan hệ giữa nhà nước và công dân.

            Công dân của một quốc gia là người mang quốc tịch của quốc gia nơi họ đang cư trú, sinh sống, được pháp luật của quốc gia quy địn cho hưởng các quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội và phải thực hiện các nghĩa vụ của công dân đối với quốc gia. Theo Điều 17 Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013: “1. Công dân nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam”.

            Trong xã hội công dân và nhà nước là hai phạm trù có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau, không thể có công dân mà không có nhà nước, cũng không thể có nhà nước mà không có công dân. Mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân là mối quan hệ chính trị – pháp lý mang tính nền tảng của mỗi quốc gia thể hiện trong các quyền và nghĩa vụ được quy định tạo thành địa vị pháp lý của cá nhân và được xác định thông qua dấu hiệu quốc tịch của mỗi cá nhân công dân đó.

            Từ đó mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân có quốc tịch được thể hiện qua 3 nội dung sau:

  • Một là Nhà nước bằng pháp luật quy định quyền và nghĩa vụ của công dân.
  • Hai là công dân có nghĩa vụ phải tuân theo pháp luật mà Nhà nước của mình đặt ra dù họ đang ở trong hay ở ngoài nước.
  • Ba là Nhà nước có quyền phán xét xử lý tuyệt đối các hành vi của công dân mình đồng thời phải có trách nhiệm bảo hộ quyền và lợi ích của công dân cả ở trong và ngoài nước.

            Tại Việt Nam, sự công nhận quốc tịch của nhà nước Việt Nam đối với một cá nhân là cơ sở mang lại cho cá nhân địa vị bình đẳng trước pháp luật như mọi công dân Việt Nam khác công dân Việt Nam được nhà nước bảo đảm các quyền công dân và phải làm tròn các nghĩa vụ công dân đối với nhà nước và xã hội theo quy định của pháp luật.

1.2. Bảo hộ công dân là gì? Và ví dụ về bảo hộ công dân của Việt Nam.

            Bảo hộ công dân là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ quyền và lợi ích của công dân nước mình ở nước ngoài, khi các quyền và lợi ích này bị xâm hại ở ngoài đó (bảo hộ ngoại giao theo nghĩa hẹp), đồng thời bao gồm cả các hoạt động giúp đỡ về mọi mặt mà nhà nước dành cho công dân của nước mình đang ở nước ngoài, kể cả trong trường hợp không có hành vi xâm hại nào tới các công dân của nước này (bảo hộ ngoại giao theo nghĩa rộng). [1]Như thế, bảo hộ công dân có thể bao gồm các hoạt động có tính công vụ như cấp phát hộ chiếu, giấy tờ hành chính hoặc các hoạt động có tính giúp đỡ, như trợ cấp tài chính cho công dân khi họ gặp khó khăn, phổ biên các thông tin cần thiết cho công dân nước mình tìm hiểu về nước mà họ có dự định tới vì nguyện vọng cá nhân cho đến các hoạt động có tính phức tạp hơn như thăm hỏi lãnh sự công dân bị bắt, bị giam hoặc tiến hành các hoạt động bảo vệ và đảm bảo cho công dân nước mình được hưởng những quyền và lợi ích tối thiêu theo quy định của nước sở tại hoặc luật quốc tế.

            Đặc biệt, tại Điều 6 luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008, cũng đã quy định về bảo hộ đối với công dân Việt nam ở nước ngoài.

            Trong định hướng quan trọng của Đảng được xác định rõ trong Nghị quyết Đại hội XII của Đảng đã nêu “Giúp đỡ đồng bào định cư ở nước ngoài ổn định cuộc sống, phát triển kinh tế, góp phần tăng cường hợp tác, hữu nghị giữa nhân dân ta với nhân dân các nước; được bảo hộ tính mạng, tài sản và các quyền, lợi ích chính đáng; tạo điều kiện để đồng bào giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc; có cơ chế, chính sách thu hút đồng bào hướng về Tổ quốc, đóng góp xây dựng và bảo vệ đất nước”. Trên tinh thần đó, công tác kết nối kiều bào và bảo hộ công dân Việt Nam ở nước ngoài đã có những chuyển biến tích cực, mang lại hiệu quả rõ nét. Đảng ta xác định: “Người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời và là một nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam. Tăng cường hơn nữa sự gắn bó của người Việt Nam ở nước ngoài với đất nước. Mọi người Việt Nam ở nước ngoài đều được khuyến khích, tạo điều kiện trở về thăm quê hương, đầu tư sản xuất kinh doanh, góp phần vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam.”

            Những năm qua, công tác về người Việt Nam ở nước ngoài đã trở thành một trụ cột trong công tác đối ngoại của đất nước. Theo số liệu của Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài, tính đến tháng 10/2020, kiều bào từ 27 quốc gia và vùng lãnh thổ đã có 362 dự án FDI đầu tư tại Việt Nam với tổng số vốn đăng ký 1,6 tỷ USD. Trong 5 năm gần đây (từ 2015 đến 2019), với mức tăng trưởng trung bình 6%/năm, tổng kiều hối đạt hơn 71 tỷ USD, chiếm khoảng 44% tổng kiều hối đạt được trong vòng 26 năm (từ năm 1993 đến hết năm 2019). Riêng năm 2020, Ngân hàng Thế giới (WB) dự báo kiều hối về Việt Nam đạt 15,686 tỷ USD, đứng thứ 9 trên thế giới về thu hút lượng kiều hối.

2. Cơ chế pháp lý về bảo hộ công dân.

            Cơ chế pháp lý bảo hộ công dân là tổng thể nguyên tắc, các thể chế, thiết chế, hình thức vận hành gắn kết với nhau trong một hệ thống nhằm thực hiện trách nhiệm chính trị – pháp lý của nhà nước trong việc thúc đẩy giúp đỡ và bảo vệ công dân khi có sự đe dọa cản trở hay xâm hại các quyền cơ bản của họ.

            Đối với công dân, cơ chế pháp lý bảo hộ công dân trang bị cho họ khả năng chủ động thực thi, bảo vệ các quyền của mình. Đối với nhà nước, cơ chế pháp lý bảo hộ công dân thúc đẩy trách nhiệm của nhà nước nhằm đảm bảo bảo vệ các quyền cơ bản của công dân ngay cả khi không có sự yêu cầu từ phía công dân. Nhà nước đồng thời phải dữ liệu được các mối nguy cơ xâm hại, cản trở, để phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý các mối nguy cơ đó trong từng trường hợp cụ thể.

3. Cơ sở của bảo hộ công dân.

3.1. Cơ sở của bảo hộ công dân theo quy định của pháp luật quốc tế.

            Hoạt động bảo hộ công dân được tiến hành dựa trên cơ sở các quy định của pháp luật quốc tế. Dưới góc độ pháp luật quốc tế các quy định về bảo hộ công dân được quy định khá rõ trong Công ước viên năm 1961 về quan hệ ngoại giao và Công ước viên 1963 về quan hệ lãnh sự. Điều 3, Công ước viên năm 1961 về quan hệ ngoại giao quy định một trong những chức năng chính của cơ quan đại diện ngoại giao là “bảo vệ những quyền lợi của nước cử đại diện và của những người mang quốc tịch nước đó tại nước nhận đại diện trong phạm vi được luật quốc tế thừa nhận”. Trong Điều 5, Công ước viên năm 1963 cũng quy định chức năng tương tự của cơ quan lãnh sự. 

            Quốc gia chỉ được thực hiện sự bảo hộ đối với công dân của quốc gia hay nói cách khác người được bảo hộ phải mang quốc tịch quốc gia tiến hành bảo hộ. Tuy nhiên, trong thực tiễn quan hệ quốc tế có những trường hợp công dân của quốc gia nhưng không được sự bảo hộ cần thiết của quốc gia mà họ mang quốc tịch. Ví dụ như đối với người hai hay nhiều quốc tịch không được bảo hộ nếu sự bảo hộ đó chống lại quốc gia mà người này cũng mang quốc tịch. Hoặc ngược lại cũng có trường hợp cá nhân không mang quốc tịch của quốc gia nhưng vẫn được bảo hộ đối với những cá nhân được hưởng tư cách “công dân Liên minh châu Âu”. Có hành vi vi phạm pháp luật quốc tế của quốc gia sở tại gây thiệt hại cho công dân của quốc gia thực hiện bảo hộ. Tính bất hợp pháp của hành vi gây thiệt hại sẽ được xác minh trên cơ sở các điều ước quốc tế song phương hoặc đa phương được ký kết giữa các bên hoặc tập quán quốc tế, chủ yếu là các điều ước quốc tế, tập quán quốc tế trong lĩnh vực quyền con người.

3.2. Cơ sở của bảo hộ công dân theo quy định của pháp luật Việt Nam.

            Bảo vệ quyền lợi của công dân Việt Nam ở nước ngoài là trách nhiệm của nhà nước được quy định trong các văn bản pháp luật của Việt Nam từ ngày lập nước đến nay và hoàn toàn phù hợp với pháp luật cũng như tập quán quốc tế. Pháp luật Việt Nam quy định khá nhiều điều khoản về bảo hộ công dân Việt Nam. Như trong điều 75 Hiến pháp 1992 quy định: “nhà nước bảo hộ quyền lợi chính đáng của người dân Việt Nam định cư ở nước ngoài. Nhà nước tạo điều kiện để người dân Việt Nam định cư ở nước ngoài giữa quan hệ gắn bó với gia đình và quê hương góp phần xây dựng quê hương đất nước”. Quy định này tiếp tục được cụ thể hóa tại điều 6 Luật quốc tịch năm 2008.

            Theo số liệu của Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài, hiện nay có khoảng 4,5 triệu người Việt Nam ở khắp các châu lục trên thế giới. Với số lượng người Việt Nam xuất cảnh ra nước ngoài mỗi năm một tăng với nhiều mục đích khác nhau đặt ra yêu cầu về sự chặt chẽ và đồng bộ trong các văn bản pháp lý về công tác bảo hộ người Việt Nam di cư ra nước ngoài. Theo các tiêu chí phân loại của Tổ chức Di cư quốc tế (IMO), người Việt Nam di cư ra nước ngoài về cơ bản cũng bao gồm: di cư lao động quốc tế theo hợp đồng có thời hạn ở nước ngoài; di cư học tập; di cư do kết hôn với người nước ngoài hoặc có quốc tịch nước ngoài; di cư vì được nhận làm con nuôi; di cư thông qua tệ nạn buôn bán người (bất hợp pháp). Nhà nước Việt Nam có chính sách nhất quán là thúc đẩy di cư hợp pháp, chống di cư trái phép, tạo điều kiện thuận lợi cho di cư trong nước và di cư quốc tế phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật của nước có người Việt Nam nhập cư. Điều 17 Hiến pháp 2013 quy định: “Công dân Việt Nam ở nước ngoài được Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo hộ”.
            Bên cạnh đó, Nhà nước ta đã ban hành một hệ thống các văn bản pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến việc di cư của công dân Việt Nam ra nước ngoài. Theo số liệu của Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, tính vào thời điểm hiện tại, Việt Nam có khoảng 53 văn bản luật và dưới luật liên quan đến di cư. Pháp luật hiện hành về cơ bản đã có những quy định tương đối cụ thể nhằm bảo hộ các quyền về sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm và các quyền lợi ích chính đáng khác của công dân khi sinh sống, lao động, học tập, kết hôn… ở nước ngoài.
            Nhìn từ góc độ pháp luật, việc bảo hộ công dân được đặt ra khi các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam ở nước ngoài bị xâm phạm. Trách nhiệm bảo vệ công dân còn bao gồm các hoạt động giúp đỡ về mọi mặt mà Nhà nước dành cho công dân Việt Nam đang ở nước ngoài, bao gồm những hoạt động mang tính công vụ như cấp phát hộ chiếu, giấy tờ hành chính cho công dân; các hoạt động có tính chất trợ giúp như giúp đỡ về tài chính cho công dân khi họ gặp khó khăn, giúp đỡ công dân trong việc chuyển thông tin, bảo quản giấy tờ, tài sản…; thăm hỏi lãnh sự khi công dân bị bắt, bị giam, áp dụng các biện pháp cần thiết nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho công dân nước mình trên cơ sở phù hợp quy định pháp luật quốc gia sở tại hoặc luật pháp quốc tế. Việc bảo hộ các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và pháp nhân Việt Nam ở nước ngoài là hết sức cần thiết, thể hiện trách nhiệm của Nhà nước đối với công dân, góp phần nâng cao vị thế chính trị, uy tín của Nhà nước Việt Nam đối với thế giới cũng như trong con mắt người Việt Nam ở nước ngoài, góp phần khuyến khích, động viên ngày càng nhiều hơn sự đóng góp của bà con Việt kiều vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
            Việc bảo hộ quyền và lợi ích của pháp nhân và công dân Việt Nam ở nước ngoài được quy định tại hầu hết các văn bản pháp luật quan trọng của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, như: Hiến pháp năm 2013 (điều 17 khoản 3), Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 (Điều 5); Luật Cơ quan đại diện nước CHXHCN Việt Nam ở nước ngoài số 33/2009/QH12 ngày 18/06/2009 (Điều 8 và Điều 9)… Quyết định số 119/QĐ-TTg ngày 25/07/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Quỹ Bảo hộ công dân và pháp nhân Việt Nam ở nước ngoài với 20 tỷ đồng chi cho các hoạt động ban đầu của công tác này. Tiếp đó, ngày 20/9/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 1737/CT-TTg về tăng cường công tác bảo hộ quyền và lợi ích chính đáng của công dân Việt Nam ra nước ngoài trong tình hình hiện nay. Chỉ thị đã quy định nhiệm vụ cụ thể của các bộ, ngành hữu quan và Ủy ban nhân dân các địa phương trong công tác bảo hộ quyền và lợi ích chính đáng của công dân Việt Nam trong suốt quá trình di cư ra nước ngoài.

4. Thẩm quyền bảo hộ công dân.

            Thẩm quyền bảo hộ công dân: Dựa trên cơ sở cơ cấu tổ chức và phạm vi hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo hộ công dân, có thể chia các cơ quan này ra làm 2 loại: cơ quan có thẩm quyền trong nước và cơ quan có thẩm quyền nước ngoài.

4.1. Hoạt động bảo hộ công dân của các cơ quan có thẩm quyền trong nước.

            Việc quy định cơ quan nhà nước nào có thẩm quyền bảo hộ công dân là hoàn toàn do luật quốc gia của nước hữu quan quy định. Hầu hết các quốc gia đều giao nhiêm vụ theo dõi, thực hiện bảo hộ công dân cho bộ ngoại giao. Bộ ngoại giao chịu trách nhiệm trước Chính phủ về các hoạt động bảo hộ công dân ở trong nước cũng như ngoài nước. Trong trường hợp vấn đề bảo hộ công dân cần giải quyết có liên quan tới các bộ, các ngành khác trong Chính phủ thì Bộ ngoại giao có trách nhiệm phối hợp hoạt động với các bộ, ngành có liên quan để giải quyết và báo cáo lại với Quốc hội.

4.2. Cơ quan có thẩm quyền bảo hộ công dân ở nước ngoài.

            Thẩm quyền bảo hộ công dân nước mình ở nước ngoài thuộc về cơ quan đại diện ngoại giao – lãnh sự của nước cử đại diện tại nước nhận đại diện. Thẩm quyền của cơ quan đại diện ngoại giao lãnh sự của nước cử đại diện tại nước nhận đại diện được quy định trong Công ước Viên năm 1961 về quan hệ ngoại giao và Công ước Viên 1963 về quan hệ lãnh sự. Như điểm b Điều 3 Công ước Viên 1961 về quan hệ ngoại giao quy định: 

“1. Những chức năng chính của một cơ quan đại diện ngoại giao là:

b) Bảo vệ quyền lợi của nước cử đại diện và của những người thuộc quốc tịch của nước đó tại nước nhận đại diện, trong phạm vi được luật pháp quốc tế thừa nhận” [2]

            Do đó việc bảo vệ quyền lợi của nước cử đại diện và của những người cùng quốc tịch nước đó tại nước nhận đại diện thuộc chức năng chính của cơ quan đại diện ngoại giao. Bên cạnh đó, việc bảo hộ ngoại giao không chỉ thuộc thẩm quyền của cơ quan ngoại giao mà còn là của cơ quan lãnh sự của nước cử đại diện tại nước nhận đại diện. Ngoài ra, khi tiến hành các hoạt động bảo hộ công dân, các cơ quan chức năng có thẩm quyền phải dựa trên cơ sở pháp lý là các văn bản pháp luật quốc gia về bảo hộ công dân và các điều ước quốc tế hữu quan về bảo hộ công dân. 

            Thực tế thời gian qua cho thấy Bộ Ngoại giao và các cơ quan đại diện Việt Nam đã hỗ trợ hiệu quả cộng đồng người Việt Nam tại nước ngoài, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của họ, đặc biệt là giúp đỡ khẩn cấp khi cần thiết. Năm 2011, Việt Nam đã tổ chức chiến dịch giải cứu 10.400 lao động Việt Nam tại Lybia sau khi tại nước này xảy ra sự biến động lớn về chính trị – xã hội. Chính phủ Việt Nam đã thành lập Ban chỉ đạo giải quyết tình hình công dân Việt Nam tại Trung Đông và Bắc Phi với nhiệm vụ sơ tán người lao động Việt Nam tại Libya và đưa về nước[3]. Đại sứ Việt Nam tại Libya đã phối hợp với Cục Quản lý lao động ngoài nước cùng đại diện của Tổ chức di dân quốc tế (IOM) và đề nghị IOM hỗ trợ, giúp đỡ cho lao động Việt Nam. Hàng nghìn lao động Việt Nam được về nước an toàn bằng đường bộ, đường hàng không và đường thủy. Trong vụ 10 thuyền viên Việt Nam làm việc trên tàu đánh cá Đài Loan (Trung Quốc) bị cảnh sát Nam Phi bắt và xét xử ở Cape Town ngày 05/5/2009, Cục Lãnh sự (Bộ Ngoại giao) và Đại sứ quán Việt Nam tại Nam Phi đã đưa ra những phương án bảo hộ phù hợp, hiệu quả nhất. Kết quả, 10 thuyền viên này đã được đưa về nước an toàn vào ngày 22/6/2009.

5. Các biện pháp bảo hộ công dân.

            Trong quá trình thực hiện bảo hộ công dân, các nước có thể thực hiện nhiều biện pháp bảo hộ đa dạng khác nhau. Việc bảo hộ ngoại giao được tiến hành ở mức độ nào và áp dụng các biện pháp bảo hộ gì phụ thuộc vào nhiểu yếu tố như quyền lợi nào bị vi phạm, mức độ vỉ phạm, thái độ của nước sở tại, khả năng ảnh hưởng tới quan hê quốc tế, bối cảnh quốc tế… Và biện pháp ngoại giao thường được coi là biện pháp đầu tiên để thực hiện bảo hộ công dân. Cơ sở pháp lý cùa biện pháp này là nguyên tắc giải quyết hoà bình các tranh chấp quốc tế. Biện pháp ngoại giao được thực hiện để bảo hộ công dân có thể thông qua trung gian hoà giải, thương lượng hoặc đàm phán trực tiếp.

            Như trong vụ 39 người Việt thiệt mạng trên xe container tại Anh. Tối 7/11/2019, Thông tấn xã Việt Nam đã đưa tin, trong lời chia buồn gửi tới gia đình 39 người Việt thiệt mạng trên xe container ở Anh, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã đưa ra thông điệp rất rõ ràng: “Chính phủ Việt Nam lên án mạnh mẽ những hành vi mua bán người, đưa người ra nước ngoài bất hợp pháp và kêu gọi các quốc gia trong khu vực và thế giới tiếp tục đẩy mạnh hợp tác, kiên quyết phòng, chống tận gốc loại tội phạm đặc biệt nguy hiểm này, không để tái diễn, sớm hoàn tất điều tra, truy tố, xét xử để nghiêm trị những kẻ phạm tội”. Trước đó, ngày 5/11, trong phiên họp của Chính phủ, đề cập vụ việc xảy ra tại hạt Essex (phía Đông Bắc London) Thủ tướng khẳng định: Chúng ta cố gắng làm hết sức mình trong công tác bảo hộ công dân! Thủ tướng yêu cầu các bộ, ngành, địa phương liên quan cần phối hợp chặt chẽ để xử lý vụ việc, trước hết là động viên thân nhân của các nạn nhân, hỗ trợ tối đa trong khả năng của mình. Thực hiện sự chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Ðoàn công tác liên ngành do Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Tô Anh Dũng dẫn đầu, đã sang Anh từ ngày 3/11 để phối hợp với các cơ quan liên quan của Anh đẩy nhanh tiến trình xác minh nhân thân. Ở trong nước, Bộ Ngoại giao, Bộ Công an đã tích cực phối hợp Ủy ban nhân dân các địa phương liên quan trong quá trình xác minh nhân thân, tổng hợp nguyện vọng của 39 gia đình có thân nhân thiệt mạng tại Anh, hướng dẫn gia đình các nạn nhân thực hiện quy định của pháp luật Anh để làm thủ tục nhận thi thể hoặc tro cốt người bị nạn. Từ khi xảy ra vụ việc, Bộ Ngoại giao và Đại sứ quán Việt Nam tại Anh đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng và địa phương của Việt Nam cũng như phía Anh để hỗ trợ các gia đình nạn nhân trong việc giải quyết hậu sự, trên tinh thần nhân đạo, phù hợp với luật pháp quốc tế, các quy định pháp luật và tập quán của hai nước. Sáng 30/11/2019, theo TTXVN, thi thể và tro cốt 23 nạn nhân còn lại trong vụ việc 39 nạn nhân thiệt mạng tại hạt Essex, Đông Bắc London, Anh đã được đưa về đến sân bay Nội Bài, Hà Nội. Như vậy, trong các ngày 27 và 30/11/2019, Bộ Ngoại giao đã phối hợp với các cơ quan chức năng và địa phương của Việt Nam và Anh hoàn tất việc đưa thi thể và tro cốt 39 nạn nhân về nước, bàn giao cho gia đình.[4] Như vậy, Việt Nam đã sử dụng biện pháp ngoại giao để bảo hộ tốt nhất cho công dân nước mình và là trách nhiệm pháp định của Nhà nước.

            Bên cạnh biện pháp ngoại giao, các quốc gia còn sử dụng các biện pháp trừng phạt kinh tế hoặc trừng phạt về ngoại giao đối với nước vi phạm như thực hiện chiến dịch bao vây, cán vân, rút cơ quan đại diện ngoại giao và toàn bộ cán bộ của cơ quan về nước hoặc có thể đưa ra toà án quốc tế yêu cầu giải quyết. Mặc dù các biện pháp bảo hộ rất đa dạng và phong phú nhưng phạm vi các biện pháp bảo hộ được sử dụng vẫn phải chịu sự điếu chỉnh và giới hạn của luật quốc tế. Mặt khác, thực tiễn bảo hộ ngoại giao cũng cần phải chú ý tới mục đích thực sự của hoạt động này và không thể dùng bảo hộ công dân là nguyên cớ phục vụ cho ý đồ và mục đích chính trị của quốc gia bảo hộ, làm ảnh hưởng tới quan hệ của các bên liên quan vấ hình ảnh của quốc gia trên chính trường quốc tế.

6. Thực tiễn về bảo hộ công dân của Việt Nam.

6.1. Một số ví dụ thực tiễn về bảo hộ công dân của Việt nam

            Trong những năm qua, người Việt Nam ra nước ngoài không ngừng gia tăng về số lượng và đa dạng về thành phần đã đặt ra những vấn đề khó khăn, thách thức cho công tác bảo hộ công dân. Theo thống kê của Cục Lãnh sự (Bộ Ngoại giao), số công dân được bảo hộ tăng dần qua từng năm. Theo đó, năm 2017 có 8.024 người; năm 2018 có trên 10.000 người; năm 2019 có 13.643 công dân và năm 2020 là 21.384 công dân. Số lượng các cuộc gọi của công dân Việt Nam cần tư vấn về các vấn đề liên quan đến bảo hộ công dân ở nước ngoài thông qua tổng đài điện thoại về bảo hộ công dân đã tăng gấp 10 lần so với thời điểm bắt đầu hoạt động từ năm 2016. Số lượng công dân được bảo hộ tăng đi kèm với tính chất các vụ việc ngày càng phức tạp và nghiêm trọng. Nhiều vụ việc chưa từng có tiền lệ như tàu biển của Việt Nam bị cướp biển tấn công và thuyền viên bị giữ làm con tin; việc bảo hộ công dân Đoàn Thị Hương bị bắt và bị xét xử tại Malaysia; đoàn du khách Việt Nam thăm Ai Cập bị đánh bom; vụ việc 39 người thiệt mạng trên một xe tải tại Đông Bắc London (Anh)…

            Nhắc đến vụ việc của Đoàn Thị Hương sinh ngày 31/5/1988, trú quán tại thôn 3, xã Nghĩa Bình, huyện Nghĩa Hưng, Nam Định. Hương bị coi là 1 trong 2 nữ nghi phạm trong vụ ám sát Kim jong nam tại Malaysia ngày 13 tháng 2 năm 2017. Ngày 15 tháng 2, Đoàn Thị Hương bị bắt giữ tại sân bay Kuala Lumpur do bị nhận dạng dựa trên camera an ninh của sân bay trùng với một trong hai người phụ nữ đã tiếp cận ông Kim. Theo luật cô bị giữ 7 ngày để điều tra. Cô khai là không biết tên của nạn nhân, và cô tưởng đây là một trò đùa trên truyền hình. Sau khi hành động, cô không thấy những người bạn của mình và đã lên taxi rời khỏi sân bay. Ngày 1 tháng 3, lúc 10h15 sáng (giờ Malaysia) tại phiên tòa luận tội, Tòa kết luận Đoàn Thị Hương đã phạm tội giết người và theo điều 302 bộ luật hình sự của Malaysia, tội này phải chịu án tử hình. Đoàn Thị Hương trả lời rõ ràng: “Tôi vô tội.” Sau khi phiên tòa công bố cáo trạng kết thúc, Tòa công bố sẽ đưa vụ án ra xét xử vào ngày 13 tháng 4: “Chúng tôi cần thêm thời gian để thu thập tất cả các tài liệu cần thiết.” Ngày 13 tháng 4, tại Tòa án Tối cao Sepang, Selangor, các công tố cho biết họ chưa có đủ tài liệu cần thiết và sẽ xử tiếp vào ngày 30 tháng 5. Ngày 29 tháng 9 năm 2017, luật sư của Đoàn Thị Hương, ông Hisyam Teh thông báo Đoàn Thị Hương và Siti Aisyah sẽ không nhận tội trước phiên tòa xét xử sẽ diễn ra vào ngày 2 tháng 10 và dự kiến kết thúc vào ngày 30 tháng 10. Ngày 14 tháng 3 năm 2019, Tòa án Malaysia bác yêu cầu rút lại cáo trạng và trả tự do cho Đoàn Thị Hương. Đoàn Thị Hương là nghi phạm duy nhất còn phải ngồi tù, và sẽ tiếp tục ra tòa vào ngày 1 tháng 4 năm 2019. Ngay từ khi xảy ra vụ việc, Chính phủ, Bộ Ngoại giao, các cơ quan liên quan và Liên đoàn Luật sư của Việt Nam đã thực hiện mọi biện pháp bảo hộ công dân để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Đoàn Thị Hương, để bảo đảm công dân Đoàn Thị Hương được xét xử công bằng, khách quan và sớm được trả tự do. Để đạt được kết quả trên, ngay từ khi xảy ra vụ việc, Chính phủ, Bộ Ngoại giao, Đại sứ quán Việt Nam tại Malaysia và các cơ quan hữu quan đã thực hiện mọi biện pháp để bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Đoàn Thị Hương, đảm bảo việc xét xử công bằng, khách quan và Đoàn Thị Hương sớm được thả tự do. Kết thúc phiên tòa, Đoàn Thị Hương và bố đẻ là ông Đoàn Văn Thạnh đã có trao đổi nhanh với báo chí và cho biết rất cảm ơn Chính phủ Việt Nam, các cơ quan hữu quan của Việt Nam cũng như các luật sư đã nỗ lực bảo vệ quyền lợi cho Đoàn Thị Hương.[5]

            Bên cạnh đó, việc bảo hộ công dân của Việt Nam còn được minh chứng qua vụ việc đoàn du khách Việt Nam thăm Ai Cập bị đánh bom. Tại Cairo, ngày 28/12/2018, Đại sứ quán Việt Nam tại Ai Cập xác nhận vào lúc 18 giờ 15 phút cùng ngày (23 giờ 15 phút giờ Việt Nam) đã xảy ra một vụ đánh bom xe gần khu vực Kim tự tháp Giza của Ai Cập. Theo thông tin của Đại sứ quán sau khi làm việc với nhà chức trách Ai Cập, khi xảy ra vụ nổ bom, trên chiếc xe trên có 18 người, trong đó có 15 người Việt Nam và 3 người Ai Cập. Về phía người Việt Nam, vụ việc đã làm ba người tử vong, ba người bị thương nặng đã được các bác sĩ phẫu thuật và điều trị tích cực, chín người bị thương khác cũng đang được điều trị, phục hồi tốt. Đại sứ Việt Nam tại Ai Cập Trần Thành Công cùng các cán bộ của Đại sứ quán đã tới bệnh viện trên thăm hỏi các nạn nhân và làm việc với các quan chức nước sở tại, trong đó có Bộ trưởng Du lịch Ai Cập Rania Al-Mashat và Bộ trưởng Y tế Hala Zayed, để phối hợp tìm biện pháp giải quyết. Theo Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng, được tin về vụ đánh bom nêu trên, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc gửi lời thăm hỏi và chia buồn sâu sắc nhất tới các gia đình các nạn nhân. Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Ngoại giao triển khai ngay các biện pháp cần thiết để bảo hộ công dân Việt Nam tại Ai Cập, hỗ trợ chăm sóc các nạn nhân, đề nghị các cơ quan chức năng của Ai Cập tạo điều kiện thuận lợi nhất để các gia đình nạn nhân sang Ai Cập làm các thủ tục liên quan. Bên cạnh đó, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng nêu rõ, Việt Nam vô cùng phẫn nộ và cực lực lên án hành động khủng bố làm chết và bị thương nhiều người Việt Nam vô tội và yêu cầu phía Ai Cập sớm mở cuộc điều tra, truy tìm và trừng trị thích đáng những kẻ gây ra vụ tấn công khủng bố này. Việt Nam kêu gọi chính phủ cùng nhân dân các nước đoàn kết chống lại chủ nghĩa khủng bố một cách không khoan nhượng để xây dựng cuộc sống hòa bình và đi lại an toàn tự do cho người dân lương thiện trên toàn thế giới. Việt Nam đánh giá cao nỗ lực hợp tác của Chính phủ và nhân dân Ai Cập trong việc hỗ trợ điều trị và bảo hộ các công dân Việt Nam bị tấn công trong vụ việc này.[6]

            Hay như trong vụ việc, hai thuyền viên Việt Nam trêu tàu trở dầu Hankuk Chemi của Hàn Quốc bị phía IRAN bắt giữ. Lực lượng vệ binh cách mạng Hồi giáo Iran bắt giữ tàu dầu treo cờ Hàn Quốc MT Hankuk Chemi vào ngày 4/1/2021, cáo buộc tàu “vi phạm luật môi trường biển”. Khi đó, MT Hankuk Chemi, di chuyển từ Ả Rập Xê Út đến Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất. Trên tàu có tổng cộng 20 thuyền viên, bao gồm 5 người Hàn Quốc, 11 người Myanmar, 2 người Indonesia và 2 người Việt Nam. Ngày 5/1/2021, trả lời câu hỏi của phóng viên người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng cho biết ngay sau khi nhận được thông tin tàu Hankuk Chemi của Hàn Quốc cùng 20 thuyền viên, trong đó có 2 thuyền viên Việt Nam bị phía Iran bắt giữ, Bộ Ngoại giao đã liên hệ với Đại sứ quán Hàn Quốc và Đại sứ quán Iran tại Hà Nội. Đồng thời, các cơ quan đại diện Việt Nam tại Hàn Quốc và Iran đã chủ động trao đổi với các cơ quan chức năng sở tại, công ty chủ tàu Hankuk Chemi để xác minh thông tin, yêu cầu đảm bảo an toàn cho các thuyền viên Việt Nam và đề nghị nhanh chóng giải quyết vụ việc. Bộ Ngoại giao cũng liên hệ với Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ Giao thông Vận tải để xác minh nhân thân các thuyền viên, yêu cầu các công ty phái cử đảm bảo quyền lợi cho người lao động Việt Nam ở nước ngoà. Thực hiện chỉ đạo của Bộ Ngoại giao, các cơ quan đại diện Việt Nam tại Iran và Hàn Quốc sẽ tiếp tục theo dõi sát vụ việc và sẵn sàng tiến hành các biện pháp bảo hộ công dân cần thiết, bảo vệ quyền và lợi ích của các thuyền viên Việt Nam. Tại cuộc họp báo thường kỳ Bộ Ngoại giao Việt Nam chiều 14/1/2021,”Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao đã gặp trao đổi trực tiếp với Đại sứ quán Iran tại Hà Nội về vấn đề này”, bà Lê Thị Thu Hằng thông tin thêm: “Theo thông tin mới nhất mà chúng tôi nhận được từ Đại sứ quán Việt Nam tại Iran, Đại sứ quán đã liên hệ được với 2 thuyền viên Việt Nam. Đến nay, 2 thuyền viên đều có tình trạng sức khỏe tốt, tinh thần ổn định”. Đại sứ quán Việt Nam tại Iran cho biết, ngày 18/1/2021, Đại sứ quán đã thăm lãnh sự 2 công dân nói trên. Hiện 2 công dân Việt Nam ở trên tàu Hankuk Chemi, trong tình trạng sức khỏe ổn định và đã được liên hệ với gia đình ở Việt Nam[7]. Đại sứ quán cũng đã làm việc với các cơ quan chức năng Iran đề nghị sớm cho phép các thuyền viên rời tàu lên bờ, được thường xuyên liên lạc với gia đình và đảm bảo sức khỏe, an toàn cho các thuyền viên.

6.2. Thực tiễn bảo hộ công dân trong đại dịch COVID-19.

            Năm 2020, khi đại dịch COVID-19 chưa có tiền lệ bùng phát trên toàn cầu, yêu cầu về công tác bảo hộ công dân đã được nâng lên một mức cao mới khi chúng ta triển khai giúp đỡ hàng nghìn công dân Việt Nam ở nước ngoài ổn định cuộc sống, bảo hộ tính mạng, tài sản, các quyền và lợi ích chính đáng của công dân. Như Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc từng nói “không để ai bị bỏ lại phía sau”, và tinh thần “bám trụ để hoàn thành tốt nhiệm vụ”, các cơ quan chức năng Việt Nam, cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài đã phối hợp chặt chẽ với các hãng hàng không trong và ngoài nước để tổ chức các chuyến bay đưa công dân Việt Nam về nước một cách an toàn, phù hợp với năng lực cách ly trong nước. Thứ trưởng Tô Anh Dũng nhấn mạnh trong thời gian tới, công tác đưa công dân bị “kẹt” ở nước ngoài sẽ tiếp tục được tăng cường, đẩy mạnh, cố gắng đáp ứng tối đa nguyện vọng về nước chính đáng của công dân, trên cơ sở phù hợp với tình hình diễn biến dịch bệnh trong và ngoài nước cũng như đảm bảo công tác phòng, chống dịch bệnh và năng lực cách ly tại các địa phương.

            Trên cơ sở nguyện vọng của công dân Việt Nam và điều kiện cách ly tập trung của các địa phương trong nước, nhận được sự phối hợp chặt chẽ, tích cực của các bộ, ban, ngành, địa phương, Bộ Ngoại giao đã phối hợp với các Bộ: Y tế, Quốc phòng, Công an, Giao thông Vận tải và các địa phương đã tổ chức nhiều chuyến bay đưa công dân Việt Nam từ vùng dịch về nước, trong đó nổi bật, đáng kể nhất là chuyến bay đưa công dân Việt Nam từ tâm dịch Vũ Hán trở về ngày 10/02/2020. Đặc biệt là câu chuyện về chuyến trở về quê hương đầy bất ngờ và cảm động của vợ chồng chị Nguyễn Thị Thanh và anh Nguyễn Văn Phi từ Vũ Hán sau những ngày căng thẳng đối mặt với dịch bệnh. Kể lại hành trình trở về Việt Nam, vợ chồng anh chia sẻ, vào 2h chiều ngày 9/2, họ nhận tin chính phủ Việt Nam đã bố trí một chuyến bay từ Nội Bài sang Vũ Hán đón 30 lưu học sinh và công dân đang mắc kẹt tại đây về nước, dù trước đó tất cả các chuyến bay thương mại đã bị ngừng. Thời điểm đó Trung Quốc đã có hơn 37.000 ca nhiễm và hơn 800 ca tử vong do COVID-19. Sau vài phút nụ cười xen lẫn nước mắt, cặp vợ chồng lao vào thu dọn đồ đạc để chuẩn bị trở về Việt Nam. Vì Thanh đang mang bầu những tháng cuối, nên trên chuyến bay có một bác sĩ sản khoa chăm sóc riêng. Về đến sân bay Vân Đồn, cô cũng được di chuyển bằng xe cứu thương thay vì đi xe với đông người phòng trường hợp sinh giữa đường. Tại Bệnh viện Nhiệt đới trung ương ở Đông Anh, đôi vợ chồng được ở một căn phòng cách ly riêng, có cả bàn đẻ, lồng ấp và đầy đủ các trang thiết bị khác sẵn sàng cho trường hợp chuyển dạ. Sau khi trải qua 21 ngày cách ly yên bình, chiều 2/3, cặp vợ chồng bắt luôn chuyến xe khách về quê Nghệ An và đến thẳng bệnh viên đăng ký sinh. Hai ngày sau, sự ra đời của bé trai nặng 2,7 kg, được đặt tên là Anh Vũ là “trái ngọt” anh chị nhận được sau nhiều ngày phải sống chung với lo âu, căng thẳng tại Vũ Hán.[8]

            “Chúng tôi cảm thấy mình may mắn và tự hào khi được Chính phủ quan tâm, tạo điều kiện để được trở về nhà.” Đây là lời chia sẻ của anh Vi Đ. Minh (Hà Tĩnh) khi anh cùng với 218 người khác là những lao động xa xứ, được Chính phủ tổ chức chuyến bay giải cứu từ Guinea Xích đạo trở về cuối tháng 7/2020. Chuyến bay giải cứu khi đó xác định có tới 50% ca dương tính với SARS-CoV-2 (129 người).

            Để thực hiện thành công những chuyến bay giải cứu trên, có sự đóng góp thầm lặng nhưng rất quan trọng của các cán bộ ngoại giao làm công tác bảo hộ công dân. “Thời điểm đó, tất cả các đơn vị trong Cục Lãnh sự đều được đặt ở chế độ “trực chiến,” các phòng làm việc luôn có cán bộ túc trực gần như 24/24 giờ, ban ngày theo dõi thông tin trong nước và các nước trong khu vực, tham gia Ban Chỉ đạo phòng, chống COVID-19 ở các cấp, đến đêm kết nối, trao đổi với các Cơ quan đại diện Việt Nam ở châu Âu, châu Mỹ để nắm tình hình, các chính sách của sở tại, cập nhật số lượng công dân Việt Nam ở nước ngoài cần trợ giúp, bị mắc kẹt ở các sân bay” – Đại sứ Vũ Việt Anh, nguyên Cục trưởng Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao chia sẻ những kỷ niệm cùng các cán bộ của Cục Lãnh sự thực hiện hỗ trợ công dân Việt Nam ở nước ngoài khi đại dịch COVID-19 bùng phát trên toàn cầu. Những nhà ngoại giao làm việc âm thầm, miệt mài để thu xếp cho các chuyến bay đưa đồng bào hồi hương an toàn. Với những chính sách và hành động thiết thực, công tác bảo hộ công dân Việt Nam ở nước ngoài đã làm những người con xa xứ thêm “ấm lòng”, thêm yêu mến quê hương đất nước.

            Do đại dịch COVID-19, nhu cầu bảo hộ công dân Việt Nam ở nước ngoài lớn chưa từng có, với số cuộc gọi đến tổng đài bảo hộ công dân tăng gần 200%. Công tác thông tin, tuyên truyền cũng được Bộ Ngoại giao đặc biệt chú trọng. Tính từ ngày 24/1/2020, Bộ đã phát đi hơn 50 bản tin bảo hộ công dân; hơn 10 tin phát đối nội đối ngoại; gần 110 câu trả lời của Người Phát ngôn tại Họp báo Thường kỳ cũng như trả lời riêng có liên quan đến đại dịch Covid-19 và công tác bảo hộ công dân. Bộ đã chủ động cung cấp thông tin cho một số hãng thông tấn báo chí lớn trên thế giới, đưa tin tích cực về công tác phòng, chống dịch của Việt Nam. Nhờ đó đã tạo được sự cộng hưởng trên báo chí trong và ngoài nước để đưa Việt Nam trở thành một điểm sáng trong dư luận quốc tế. Bộ Ngoại giao đã thường xuyên trao đổi với Ban Tuyên giáo Trung ương định hướng các cơ quan báo chí trong nước đưa tin phù hợp với chủ trương, tránh những thông tin chưa được kiểm chứng, không gây hoang mang cho nhân dân. Những chuyên mục do Đài Truyền hình Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam… xây dựng đã phản ánh đa dạng, đầy đủ các chính sách và khuyến cáo của Đảng, Nhà nước, Chính phủ đối với công dân Việt Nam, nêu bật các nỗ lực bảo hộ công dân của các cơ quan chức năng tạo được sự đồng thuận, đánh giá cao của dư luận trong nước.

            Trước tình hình dịch COVID-19 đang diễn biến phức tạp tại Mỹ, ngày 10/4/2020, Đại sứ Việt Nam tại Mỹ: Hà Kim Ngọc đã tham gia chương trình Trao đổi trực tuyến giữa các Cơ quan đại diện Việt Nam, Hội Thanh niên sinh viên (TNSV) Việt Nam tại Mỹ về tình hình dịch bệnh và các biện pháp hỗ trợ công dân và du học sinh Viêt Nam. Trong cuộc trao đổi, các đại biểu tham dự đều chia sẻ về diễn biến lan rộng và phức tạp của dịch COVID-19, tác động rất lớn đến mọi mặt của đời sống, và du học sinh là nhóm đối tượng dễ bị ảnh hưởng nhất, để từ đó tìm giải pháp khắc phục. Cho tới nay, Đại sứ quán và các Cơ quan đại diện tại Mỹ đã nhận được gần 1.000 đơn đăng ký nhu cầu về nước và đã chuyển các cơ quan trong nước xem xét, xử lý.

            Đại sứ Việt Nam tại Đức: Nguyễn Minh Vũ cho biết, Đại sứ quán thường xuyên cập nhật thông tin về các quy định, khuyến cáo của Chính phủ Đức và Việt Nam, đặc biệt là các quy định về xuất nhập cảnh trên website của Đại sứ quán và qua tổng đài lãnh sự, bảo hộ công dân, kịp thời giải đáp các thắc mắc của bà con. Đại sứ quán tạo điều kiện thuận lợi cho bà con đến làm thủ tục lãnh sự tại Đại sứ quán, cũng như qua đường bưu điện; hạn chế việc bà con phải chờ đợi, tập trung đông người ở khu vực tiếp khách của Đại sứ quán.

            Hay theo tin tức của Tổng lãnh sự quán Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Vancouver – Canada, đã cho thấy nước ta rất quan tâm và nhắc nhở công dân Việt Nam ở nước ngoài: “Do tình hình dịch bệnh COVID-19 chuyển biến ngày càng nghiêm trọng, Tổng lãnh sự quán Việt Nam tại Vancouver, Canada trân trọng đề nghị các công dân Việt Nam tại Canada hạn chế tối đa các giao tiếp, di chuyển khỏi chỗ ở trừ phi có lý do thiết yếu; tuân thủ tuyệt đối yêu cầu và chỉ dẫn phòng chống dịch bệnh của Chính quyền Canada, và tỉnh bang nơi sinh sống.” [9]

            Ngày 25/3/2020, hưởng ứng lời kêu gọi của Hội người Việt Nam tại CH Séc, đại diện lãnh đạo các hội đoàn tại vùng Plơ-den-xki và thành phố Plơ-den đã trao số tiền gần 12.000 USD và 1.700 chiếc khẩu trang tặng đại diện chính quyền thành phố, để hỗ trợ địa phương phòng, chống dịch Covid-19. Ðây là hoạt động nằm trong phong trào của cộng đồng người Việt Nam quyên góp tiền, hiện vật, khẩu trang…, đã lan tỏa khắp các tỉnh, thành phố ở Séc. Người Việt Nam ở Plơ-den cũng cung cấp đồ ăn nhẹ và đồ uống miễn phí cho các nhân viên của hệ thống cơ quan, lực lượng cứu hộ tại 28 cơ sở kinh doanh của người Việt Nam trên toàn vùng. Bên cạnh đó, ngày 26-3, Ðại sứ quán Ba Lan tại Hà Nội cho biết, trước tình hình dịch Covid-19 diễn biến phức tạp tại châu Âu, thông qua Ðại sứ quán, Hội người Việt Nam tại Ba Lan và Hội Hữu nghị Việt Nam-Ba Lan đã trao một số vật dụng y tế tặng các cơ quan y tế và xã hội Ba Lan. Số vật dụng này gồm 4.000 bộ xét nghiệm Covid-19; 1.500 găng tay y tế và 500 bộ quần áo bảo hộ y tế. Cộng đồng người Việt Nam tại Ba Lan cũng tổ chức nhiều hoạt động hỗ trợ người dân sở tại, như phát miễn phí khẩu trang, thành lập đường dây nóng chia sẻ thông tin về Covid-19 ở Ba Lan.[10]

            Như trong Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa tin trong bài “Bài 2: Những chuyển bay đặc biệt” có viết rằng: “Khi liên hệ với những công dân Việt Nam tại các khu cách ly sau khi trở về nước, điều mà chúng tôi nhận thấy rõ nhất là sự cảm phục, lòng yêu mến của họ đối với các lực lượng ở tuyến đầu chống dịch. Họ cảm nhận và chia sẻ với những vất vả, hy sinh thầm lặng của các y, bác sĩ, cán bộ, chiến sĩ bộ đội, công an, tình nguyên viên,… Bởi đó là những lực lượng góp phần không nhỏ vào thành công ngăn chặn sự lây lan của dịch COVID-19 tại Việt Nam tính đến nay.” Sau mỗi ngày lại có những chuyến bay đặc biệt mang đậm ý nghĩa nhân văn trong mỗi hành trình bay. Trong bối cảnh đại dịch COVID-19, những hành động đó thật ấm lòng người dân trong nước và đặc biệt là công dân nước ngoài. Khiến mỗi người trong chúng ta càng thêm yêu và tự hào về Việt Nam.

            Có lẽ rằng chưa bao giờ đất nước Việt Nam được truyền thông và bạn bè quốc tế nhắc tới nhiều như thế sau sự kiện Hội nghị thượng đỉnh Mỹ-Triều diễn ra tại Hà Nội vào tháng 2/2019. Trong những ngày qua, các hãng truyền thông lớn trên thế giới như Reuters, CNN, Sputnik…liên tiếp có những bài viết ca ngợi những nỗ lực, sáng kiến và giải mã thành công của Việt Nam trong cuộc chiến chống COVID-19. Truyền thông quốc tế coi Việt Nam là hình mẫu trong việc phòng chống dịch, trong đó sự minh bạch thông tin được đánh giá là một yếu tố quan trọng, giúp Đảng, Nhà nước và Chính phủ nhận được sự ủng hộ, tin tưởng của đông đảo quần chúng nhân dân.

            Trên đây là bài viết của em với đề tài:“Lựa chọn phân tích làm rõ một hoặc một số vấn đề pháp lý và thực tiễn bảo hộ công dân của Việt Nam, có ví dụ thực tiễn”. Từ đó, cho thấy bảo hộ công dân là một vấn đề rất quan trọng được Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng và quan tâm, nhất là công dân Việt Nam sinh sống, làm việc ở nước ngoài. Từ những ví dụ thực tiễn trên, có thể phần nào thấy rõ các nỗ lực, quyết tâm và kết quả của Chính phủ, các Bộ, ban, ngành hữu quan trong việc đưa về nước an toàn nhiều công dân Việt nam khi quyền và lợi ích hợp pháp của họ bị xâm phạm ở nước ngoài. Bên cạnh đó, cùng với việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật trong nước, Việt Nam còn tích cực, chủ động đàm phám, ký kết nhiều Điều ước Quốc tế song phương và đa phương liên quan đến đưa người lao động làm việc ở nước ngoài cũng như bảo hộ công dân sinh sống, làm việc ở nước ngoài. Qua đó, đã thể hiện trách nhiệm của Nhà nước đối với công dân, góp phần khuyến khích, tạo sự yên tâm, an toàn cho những công dân Việt Nam đang ở nước ngoài.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

  • Hiến chương Liên Hợp Quốc năm 1945;
  • Công ước Viên về Quan hệ ngoại giao năm 1961;
  • Công ước Viên về Quan hệ lãnh sự năm 1963;
  • Hiến pháp Việt Nam 2013;
  • Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008;
  • Luật Quốc tịch Việt Nam 2008 sửa đổi 2014;
  • Thông tư 92/2013/TT-BTC;
  • Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Quốc tế, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2019;
  • Tin tức của Tổng lãnh sự quán Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Vancouver – Canada;
  • Tin tổng hợp tích cực trong công tác bảo hộ công dân – Sở xây dựng tỉnh Hà Giang;
  • Số liệu của Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài;
  • Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, Bài 2: Những chuyến bay đặc biệt;
  • Đại đoàn kết, Bảo hộ công dân Đoàn Thị Hương như thế nào?;
  • Lao động, Thông tin mới nhất về 2 thuyển viên Việt trên tàu Hàn Quốc bị Iran bắt giữ;
  • Tuổi trẻ Online, 39 người chết trong container tại Anh;
  • Tuổi trẻ Online, Đoàn khách Việt bị đánh bom ở Ai Cập;

[1] Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Quốc tế, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2019, tr.129.

[2] Công ước Viên 1961.

[4] Tuổi trẻ Online

[8] Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam

[9] Tin tức của Tổng lãnh sự quán Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Vancouver – Canada

[10] Tin tổng hợp tích cực trong công tác bảo hộ công dân – Sở xây dựng tỉnh Hà Giang

Vận dụng nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng cộng sản để nêu ra các giải pháp góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh

Vận dụng nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng cộng sản để nêu ra các giải pháp góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.

Tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự vận động sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin trong điều kiện cụ thể của nước ta và đã trở thành một tài sản tinh thần của báu của Đảng và dân tộc. Trong di sản tư tưởng mà Hồ Chí Minh để lại, những luận điểm của Người về Đảng Cộng sản là một phần cực kỳ quan trọng. Nghiên cứu, quán triệt và vận dụng sáng tạo tư tưởng của Người nhằm đổi mới và chính đốn Đảng, làm cho Đảng thật trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là lực lượng chính trị lãnh đạo toàn xã hội, là một trong những nhiệm vụ chủ yếu nhất của toàn Đảng, toàn dân ta. Để tìm hiểu kĩ hơn về vấn đề này, em xin chọn đề tài số 5: “Vận dụng nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng cộng sản để nêu ra các giải pháp góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh”.

I. Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng cộng sản:

1. Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng cộng sản Việt Nam:

    1.1. Cơ sở tư tưởng – lý luận:

Nghiên cứu một cách sâu sắc quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản đến thế kỷ XIX ở tây Âu, Mác và Ăngghen đặt sự quan tâm chủ yếu của mình vào vấn đề thành lập Đảng cộng sản ở các nước tư bản chủ nghĩa. Đến thời kỳ Lênin, chủ nghĩa tư bản đã bước vào giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, vấn đề dân tộc và thuộc địa được đặt ra một cách bức thiết, cách mạng vô sản trở thành nhiệm vụ trực tiếp. Vì vậy, vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với sự nghiệp cách mạng của giai cấp vô sản là đập tan chủ nghĩa cơ hội, bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác và phát triển sáng tạo các luận điểm của Mác và Ăngghen về Đảng để thành lập Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân.

Lênin là người đáp ứng được yêu cầu lịch sử đặt ra. Người đã xây dựng thành một hệ thống những nguyên tắc cơ bản về Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân. Những nguyên tắc cơ bản về Đảng kiểu mới của Lênin là cơ sở có ý nghĩa quyết định đến việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản Việt Nam. Nhưng xuất phát từ những điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam, Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo học thuyết Mác – Lênin về chính đảng cách mạng để đưa đến việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam vào năm 1930. Người đã nêu ra nhiều luận điểm mới làm phong phú thêm học thuyết Mác – Lênin về chính đảng cách mạng ở những nước thuộc địa mà sinh thời Mác và Ăngghen chưa có điều kiện để đi sâu nghiên cứu, còn Lênin cũng mới đề cập ở một chừng mực nhất định.

    1.2. Cơ sở thực tiễn.

       a. Thực tiễn Việt Nam.

Cuối thế kỷ XIX thực dân Pháp xâm lược và thống trị nước ta làm cho xã hội Việt Nam biến đổi sâu sắc. Đứng trước yêu cầu khách quan của lịch sử, trên con đường phát triển của cách mạng Việt Nam đã xuất hiện nhiều trào lưu cứu nước như phong trào  “Cần vương” (1883 -1896); phong trào khởi nghĩa của nông dân chống Pháp ở Yên Thế (1887-1913); Phong trào cứu nước mới theo khuynh hướng dân chủ tư sản của các nhà yêu nước Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh… Nhưng tất cả các phong trào cứu nước đó đều bị thất bại. Thực tiễn đó của cách mạng Việt Nam đã được Hồ Chí Minh nghiên cứu một cách kỹ lưỡng và Người đã chỉ rõ một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến thất bại của các phong trào yêu nước Việt Nam là thiếu một tổ chức cách mạng có đường lối chính trị đúng đắn và phương pháp cách mạng khoa học, phù hợp để tổ chức, tập hợp và lãnh đạo các tầng lớp nhân dân đấu tranh chống bọn đế quốc và phong kiến tay sai, giành lại độc lập, tự do cho Tổ quốc.

Mặt khác, những kinh nghiệm được rút ra trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam ở một nước thuộc địa nửa phong kiến, sản xuất nông nghiệp là chủ yếu… cũng giúp cho Hồ Chí Minh tiếp tục xây dựng, củng cố và phát triển tư tưởng của mình về Đảng Cộng sản Việt Nam.

       b. Thực tiễn cách mạng thế giới.

Trong quá trình đi tìm con đường cứu nước, Hồ chí Minh rất chú ý xem xét những vấn đề về chính đảng cách mạng.

Người khẳng định: “Cách mệnh Pháp dạy cho chúng ta:

1. Dân chúng công nông là gốc cách mệnh…

2. Cách mệnh thì phải có tổ chức rất vững bền mới thành công…”[1]

Hồ Chí Minh cũng giành nhiều tâm sức vào khảo cứu cuộc Cách mạng Tháng 10 Nga 1917, cuộc cách mạng do giai cấp công nhân, mà đội tiền phong của nó là Đảng Bônsêvích (cộng sản) Nga lãnh đạo và giành thắng lợi. Người chỉ rõ: “Cách mệnh Nga dạy cho chúng ta rằng muốn cách mệnh thành công phải lấy dân chúng (công, nông) làm gốc, phải có đảng bền vững…”

Từ đó Người đã rút ra được những bài học quý báu về xây dựng Đảng. Những cơ sở tư tưởng – lý luận và thực tiễn nói trên góp phần quan trọng vào việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản Việt Nam.

2. Vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam:

            Sức mạnh to lớn của nhân dân chỉ được phát huy khi được tập hợp, đoàn kết và được lãnh đạo bởi một tổ chức chính trị là Đảng Cộng sản Việt Nam. Hồ Chí Minh khẳng định: “Cách mệnh trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm láo có vững thuyền mới chạy” ( trích trong cuốn sách Đường cách mệnh xuất bản 1927, của Hồ Chí Minh). Sự ra đời, tồn tại và phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam phù hợp với quy luật phát triển của xã hội. Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

            Khi đã giành được chính quyền Người viết về vai trò của Đảng như sau: “cần có sự lãnh đạo của một Đảng cách mạng chân chính của giai cấp công nhân, toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân. Chỉ có sự lãnh đạo của một Đảng biết vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của nước mình thì mới có thể đưa cách mạng giải phóng dân tộc đến thắng lợi và cách mạng xã hội chủ nghĩa đến thành công” (Hồ Chí Minh toàn tập – t.12-t-303). Như vậy theo Người Đảng có vai trò vô cùng to lớn, mang trọng trách hết sức nặng nề và quang vinh:

“ Đảng ta đó, trăm tay nghìn mắt
Đảng ta đây, xương sắt da đồng
Đảng ta, muôn vạn công nông
Đảng ta, muôn vạn tấm lòng, niềm tin
Đảng ta Mác – Lê nin vĩ đại
Lại hồi sinh, trả lại cho ta
Trời cao đất rộng bao la
Bát cơm, tấm áo, hương hoa, hồn người.”

3. Bản chất của Đảng Cộng sản Việt Nam:

Về bản chất của Đảng Cộng sản Việt Nam, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân, đội tiên phong của giai cấp công nhân, mang bản chất giai cấp công nhân.

Tại Đại hội lần thứ II của Đảng (2-1951), Người cho rằng: “Trong giai đoạn này, quyền lợi của giai cấp công nhân và nhân dân lao động và của dân tộc là một. Chính vì Đảng Lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cho nên nó phải là Đảng của dân tộc Việt Nam”. Những quan điểm trên của Hồ Chí Minh dựa trên quan điểm của V.I Lênin về xây dựng Đảng kiểu mới của giai cấp vô sản. Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng tư tưởng. Mục tiêu của Đảng là chủ nghĩa cộng sản. Đảng tuân thủ một cách nghiêm túc, chặt chẽ những nguyên tắc xây dựng Đảng kiểu mới của giai cấp vô sản.

4. Những nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản Việt Nam:

    4.1.  Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định hàng đầu để đưa cách mạng nước ta đến thắng lợi.

Cách mạng vô sản chỉ có thể giành được thắng lợi khi có Đảng cộng sản, chính đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo. Hồ Chí Minh đã nhận thức, quán triệt và vận dụng sáng tạo luận điểm trên của các nhà kinh điển Mác – Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam. Người đặt vấn đề: “Cách mệnh trước hết phải có cái gì?” và Người đã khẳng định: “… trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với các dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”.

Như vậy, Hồ Chí Minh đã khẳng định, Đảng cộng sản Việt Nam là chính đảng của giai cấp công nhân Việt Nam, là đội tiền phong của giai cấp công nhân, có khả năng đoàn kết, tập hợp, lôi kéo mọi tầng lớp nhân dân đứng lên đấu tranh làm cách mạng – nhân tố hàng đầu quyết định mọi thằng lợi của cách mạng Việt Nam.

    4.2. Đảng Cộng sản Việt Nam là sản phẩm của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác – Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam.

Hồ Chí Minh đã viết: “Chủ nghĩa Mác – Lênin kết hợp với phong trào công nhân và phong trào yêu nước đã dẫn tới sự thành lập Đảng cộng sản Đông Dương vào đầu năm 1930”. Ở đây phong trào công nhân dù có tiên tiến nhất, nhưng nếu không gắn bó với phong trào yêu nước, trở thành nòng cốt của phong trào yêu nước, thì cũng không mở rộng được cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân và đưa cuộc đấu tranh đó đến thắng lợi.

    4.3. Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam.

Tại Đại hội II của Đảng (tháng 2.1951), Hồ Chí Minh khẳng định: “Trong giai đoạn này, quyền lợi của giai cấp công nhân và nhân dân lao động và của dân tộc là một. Chính vì Đảng Lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cho nên nó phải là Đảng của dân tộc Việt Nam”. Khi miền Bắc bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội, Người nhắc lại luận điểm trên: “Đảng ta là Đảng của giai cấp, đồng thời cũng là của dân tộc, không thiên tư, thiên vị”.

Quán triệt sâu sắc quan điểm đúng đắn của Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình xây dựng và hoạt động đã gắn bó máu thịt với giai cấp công nhân, nhân dân lao động và cả dân tộc Việt Nam trong mọi thời kỳ của  cách mạng Việt Nam. Vì vậy, tuyệt đại đa số những người dân Việt Nam, dù là đảng viên hay không phải là đảng viên, dù thuộc giai tầng nào trong xã hội, ai ai đều cảm thấy Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng của mình, Đảng ta, Đảng của chúng ta, tự hào với những thắng lợi, thành công của cách mạng do Đảng lãnh đạo, có trách nhiệm trong xây dựng và bảo vệ Đảng.

    4.4. Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác – Lênin “làm cốt”.

Quá trình cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng, nhất là 20 năm đổi mới càng chứng tỏ vị trí, vai trò nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong đời sống chính trị, tinh thần của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Điều đó tiếp tục được Đảng ta khẳng định: “Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”[2]. Đó là sự khẳng định nhân tố hàng đầu đảm bảo tính tiền phong, tính cách mạng và khoa học của Đảng Cộng sản Việt Nam.

    4.5. Đảng Cộng sản Việt Nam phải được xây dựng theo những nguyên tắc của Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân.

  • Một là, nguyên tắc tập trung dân chủ
  • Hai là, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách
  • Ba là, tự phê bình và phê bình
  • Bốn là, kỷ luật nghiêm minh và tự giác
  • Năm là, đoàn kết thống nhất trong Đảng.

    4.6. Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ trung thành của nhân dân.

Vấn đề Đảng cầm quyền là một nội dung trọng yếu trong tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng cộng sản Việt Nam. Trong Di chúc, Người đã khẳng định: “Đảng ta là Đảng cầm quyền… Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ trung thành của nhân dân”.

Vì vậy, mỗi cán bộ, đảng viên từ suy nghĩ đến hành động đều phải tận tâm, tận lực phục vụ nhân dân: Việc gì có lợi cho nhân dân thì cố gắng làm, việc gì có hại cho dân thì phải hết sức tránh. Đảng phải gắn bó mật thiết với nhân dân, chăm lo củng cố mối quan hệ máu thịt với nhân dân, Đảng không ở trên dân, cũng không ở ngoài dân mà ở trong dân, trong lòng dân “Nước lấy dân làm gốc” “Đảng cũng phải lấy dân làm gốc”. Đảng lãnh đạo, dân là chủ.

    4.7. Đảng Cộng sản Việt Nam phải thường xuyên tự chỉnh đốn, tự đổi mới.

Theo Hồ Chí Minh, chỉnh đốn, đổi mới Đảng đây không phải là một giải pháp tình thế, cũng không phải là một chủ trương thụ động mà Người coi là yếu tố cần và đủ giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng với xã hội, là điều kiện để Đảng không rơi vào tha hoá biến chất. Chỉnh đốn Đảng là nhiệm vụ cơ bản thường xuyên trong công tác xây dựng Đảng và là một nhiệm vụ rất quan trọng liên quan trực tiếp tới sức mạnh, uy tín chính trị của Đảng và mỗi đảng viên. Vì vậy Hồ Chí Minh yêu cầu công tác chuẩn bị phải chu đáo, tỉ mỉ, thận trọng, phải xác định được nội dung, phương châm chỉ đạo, hình thức và bước đi cụ thể, tránh nôn nóng, chủ quan, Người nói: “Chỉnh Đảng phải làm từng bước, phải có trọng tâm”.

II. Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản tác động vào nhận thức và hoạt động thực tiễn ở Việt Nam hiện nay:

     – Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã khẳng định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là linh hồn, ngọn cờ thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong suốt hơn nửa thể kỷ qua. Cùng với chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng ta, nhân dân ta. Tư tưởng Hồ Chí Minh mãi mãi soi sáng con đường cách mạng Việt Nam, con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội của toàn dân tộc ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam”[3].

     –  Từ tư tưởng Hồ Chí Minh, đảng đã thể hiện rõ tầm nhìn chiến lược trên cơ sở kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội nhưng linh hoạt trong từng bối cảnh cụ thể của tình hình trong nước và quốc tế, đưa đến những thành tựu vĩ đại trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước.

     –  Vận dụng tư tưởng của Người trong tình hình hiện nay, Đảng ta đã xác định phải xây dựng Đảng vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; gắn xây dựng với chỉnh đốn Đảng. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.

  • Đảng đang chỉ đạo xây dựng dự thảo các văn kiện chuẩn bị cho Đại hội XIII của Đảng sẽ tổ chức vào đầu năm 2021. Dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội được yêu cầu không chỉ xác định mục tiêu, nhiệm vụ phát triển đất nước trong 5 năm (2021-2025), mà còn phải xác định mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030-100 năm thành lập Đảng và tầm nhìn đến giữa thế kỷ XXI (2045)-100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa (nay là nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam). Đây là chỉ đạo có ý nghĩa rất quan trọng, là sự kế thừa, phát huy những bài học kinh nghiệm, truyền thống quý báu của Đảng cộng sản Việt Nam. Xác định tầm nhìn của Đảng về phát triển đất nước đến giữa thế kỷ XXI, từ nay đến mốc thời gian đó là 30 năm, còn qua nhiều nhiệm kỳ Đại hội Đảng, là cơ sở bảo đảm sự kiên định về định hướng phát triển đất nước theo mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; bảo đảm sự nhất quán, kết nối, kế thừa và phát triển chủ trương, đường lối phát triển đất nước của Đảng qua các kỳ Đại hội và lĩnh hội từ tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản.
  • Tầm nhìn của Đảng về phát triển đất nước đến giữa thế kỷ XXI trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng, một mặt, đòi hỏi phải quán triệt các nội dung, quan điểm trong tầm nhìn đã được nêu trong các Cương lĩnh của Đảng và kế thừa các quan điểm về mục tiêu phát triển đất nước trong các nhiệm kỳ Đại hội Đảng vừa qua và tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng cộng sản; mặt khác, phải thấy được tác động của bối cảnh thế giới hiện nay khi cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang thúc đẩy mạnh mẽ quá trình toàn cầu hóa kinh tế, mặc dù có những trở ngại do sự nổi lên của chủ nghĩa bảo hộ ở một số nước. Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, đã trở thành thành viên của nhiều tổ chức kinh tế quốc tế, toàn cầu và khu vực (WTO, WB, IMF, AEC, APEC…). Trong bối cảnh đó, việc điều chỉnh, bổ sung một số quy định của luật pháp, cơ chế chính sách, tiêu chuẩn, định mức, tiêu chí đánh giá cho phù hợp với chuẩn mực, thông lệ quốc tế là cần thiết và hợp lý.

III. Giải pháp góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh:

    – Trước yêu cầu của tình hình mới, sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng, chỉnh đốn Đảng vào xây dựng Đảng về đạo đức hiện nay được đặt ra như một nhiệm vụ chính trị cấp bách, hệ trọng, phải được thực hiện nghiêm túc, chặt chẽ, dựa trên sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và sự tham gia tích cực của toàn thể nhân dân, bảo đảm cho Đảng luôn trong sạch, vững mạnh, thực sự tiêu biểu cho lương tâm, trí tuệ của dân tộc và thời đại:

+)Thứ nhất, nâng cao bản lĩnh chính trị và trí tuệ của Đảng: Bản lĩnh chính trị của Đảng thể hiện ở việc kiên định và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội vào thực tiễn lãnh đạo cách mạng của Đảng. Do đó, cần phải thường xuyên bồi dưỡng cho cán bộ, đảng viên lý luận Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, truyền thống dân tộc và kiến thức mới của thời đại; giữ vững bản chất giai cấp công nhân; nâng cao bản lĩnh, trí tuệ, tính chiến đấu của cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp.

+) Thứ hai, tập trung xây dựng Đảng về đạo đức: Theo đó, phải kiên quyết, kiên trì thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn với thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XII) về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Tăng cường giáo dục đạo đức cách mạng, không bị cám dỗ bởi vật chất, tiền tài, danh vọng, tránh xa chủ nghĩa cá nhân. Thực hiện nghiêm tự phê bình và phê bình; coi trọng công tác kiểm tra, giám sát, bảo vệ chính trị nội bộ.

+) Thứ ba, xây dựng, củng cố các tổ chức cơ sở đảng thực sự là nền tảng và hạt nhân chính trị ở cơ sở: Tổ chức cơ sở đảng có vị trí vai trò hết sức quan trọng, là cầu nối Đảng với quần chúng, nơi trực tiếp tổ chức, hướng dẫn cho quần chúng thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Do vậy, cần khảo sát, đánh giá thực trạng từng tổ chức cơ sở đảng để có biện pháp đổi mới, chỉnh đốn cho phù hợp; nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách và các nguyên tắc của Đảng phải được quán triệt, thực hiện nghiêm túc. Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng, đãi ngộ cán bộ cơ sở, bố trí đúng đội ngũ cán bộ chủ chốt, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, kỹ năng, nghiệp vụ công tác đảng cho đội ngũ cấp ủy viên cơ sở, nhất là bí thư cấp ủy.

+) Thứ tư, tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược và người đứng đầu vững mạnh: Việc xây dựng đội ngũ cán bộ phải quán triệt tinh thần chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng: “đừng nhìn gà hoá cuốc”, “đừng thấy đỏ tưởng là chín”, “đừng chỉ thấy cái mã bên ngoài, nó che đậy cái sơ sài  bên trong”. Vì thế, cần đổi mới mạnh mẽ công tác đánh giá cán bộ; không để lọt những người cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực, chạy chức, chạy quyền, lợi ích nhóm, … vào đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp; đồng thời, không để sót những cán bộ thực sự có đức, có tài. Tăng cường bồi dưỡng, giáo dục, rèn luyện nâng cao trình độ mọi mặt cho cán bộ.

+) Thứ năm, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong điều kiện mới; tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân: Việc đổi mới phải theo hướng nâng cao năng lực dự báo, tầm chiến lược trong hoạch định đường lối, chủ trương; khắc phục tình trạng ban hành nghị quyết không sát thực tiễn, thiếu tính khả thi. Tiếp tục thể chế hóa mối quan hệ “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”. Với Nhà nước, Đảng không buông lỏng lãnh đạo, đồng thời không bao biện làm thay mà phát huy mạnh mẽ vai trò chủ động, sáng tạo của Nhà nước trong quản lý đất nước. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng gắn với đổi mới phong cách hoạt động, lề lối làm việc dân chủ, thiết thực, nói và làm thống nhất, khắc phục bệnh quan liêu, tùy tiện, chủ quan, hình thức.

+) Thứ sáu, nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát: Các cấp ủy, tổ chức đảng phải nêu cao tinh thần trách nhiệm, thực hiện tốt hơn nhiệm vụ kiểm tra, giám sát theo Điều lệ Đảng; tập trung kiểm tra, giám sát việc chấp hành Điều lệ, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, luật pháp, chính sách của Nhà nước.

*Đặc biệt, nhất là trong bối cảnh hiện nay nước ta đang chuẩn bị Đại hội Đảng bộ các cấp và trước thềm Đại hội XIII của Đảng, thì việc xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh, và thực hiện tốt đại hội XIII của Đảng là vô cùng quan trọng, và cần những giải pháp sau:

+) Tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 23-CT/TW ngày 9/2/2018 của Ban Bí thư khóa XII về “Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới gắn với “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” và Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về xây dựng và chỉnh đốn Đảng, một cách thiết thực, hiệu quả. Trong đó, cấp ủy các cấp, người đứng đầu mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị phải chú trọng nắm chắc tình hình tư tưởng của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân để kịp thời nhận diện và kiên quyết phòng, chống âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, ngăn chặn những diễn biến xấu về tư tưởng, chính trị.

+) Xây dựng các lực lượng chuyên trách, thường trực, tác chiến nhanh, chính xác, làm xoay chuyển tương quan so sánh lực lượng trên mặt trận đấu tranh tư tưởng, lý luận để thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” gắn với việc tiếp tục đổi mới mạnh mẽ công tác giáo dục lý luận chính trị nói chung, nâng cao tính hấp dẫn trong dạy và học môn tư tưởng Hồ Chí Minh nói riêng trong hệ thống giáo dục quốc dân, góp phần làm cho tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc trong Đảng và trong xã hội.

* Kết luận: Tư tưởng và những chỉ dẫn quý báu của Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản Việt Nam là đường hướng, phương châm khoa học, cách mạng, để Đảng và Nhân dân ta xây dựng Đảng của mình trở thành Đảng cách mạng chân chính, vững mạnh, có năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu cao, đưa sự nghiệp cách mạng Việt Nam đi tới thành công. Trong xu thế mới của đất nước và thời đại đặt ra cho vai trò lãnh đạo của Đảng những nhiệm vụ mới. Đó là lãnh đạo nhân dân thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới, trong điều kiện nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây vừa là điều kiện thuận lợi nhưng cũng đầy khó khăn thách thức đối với sự lãnh đạo của Đảng. Hơn lúc nào hết, chúng ta phải vận dụng sáng tạo và giữ vững những nguyên tắc trong tư tưởng của Người về xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam.


[1] Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 2, Nxb CTQG, H2002, tr 274.

[2] ĐCSVN, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, H2001, tr 83.

[3] Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, tr.99

Phân tích các quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ về quyền sao chép tác phẩm và giới hạn quyền sao chép tác phẩm – Đánh giá thực trạng xâm phạm quyền sao chép tác phẩm và đề xuất một số giải pháp nhằm hạn chế hành vi xâm phạm quyền sao chép trong thực tiễn

Phân tích các quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ về quyền sao chép tác phẩm và giới hạn quyền sao chép tác phẩm. Đánh giá thực trạng xâm phạm quyền sao chép tác phẩm và đề xuất một số giải pháp nhằm hạn chế hành vi xâm phạm quyền sao chép trong thực tiễn?

1. Phân tích các quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ về quyền sao chép tác phẩm:

            Quyền sao chép tác phẩm thuộc nội dung quyền tài sản quyền tác giả. Quyền tác giả được quy định tại khoản 2 điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ: “Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu”.  Chủ sở hữu quyền tác giả có những quyền tài sản nhất định đối với tác phẩm thuộc sở hữu của mình, trong đó có quyền sao chép tác phẩm. Quyền sao chép tác phẩm được quy định tại điểm c khoản 1 điều 20 Luật sở hữu trí tuệ.

            Quyền sao chép tác phẩm thuộc nội dung quyền tải sản của quyền tác giả. Quyền tác giả được quy định tại khoản 2 điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ: “Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu”.  Chủ sở hữu quyền tác giả có những quyền tài sản nhất định đối với tác phẩm thuộc sở hữu của mình, trong đó có quyền sao chép tác phẩm. Quyền sao chép tác phẩm được quy định tại điểm c khoản 1 điều 20 Luật sở hữu trí tuệ.

            Tác phẩm là sản phẩm sáng tạo trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học thể hiện bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào. Tác phẩm có còn thể thể hiện bằng các ký hiệu thay cho chữ viết như chữ nổi cho người khiếm thị, ký hiệu tốc ký và các ký hiệu tương tự thay cho chữ viết mà các đối tượng tiếp cận có thể sao chép được bằng nhiều hình thức khác nhau. (Điều 7 Nghị định 22/2018/NĐ-CP quy định chi tiết Luật sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi bổ sung năm 2009 về quyền tác giả, quyền liên quan)

            Sao chép tác phẩm là việc tái tạo lại hình thức của tác phẩm bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào, bao gồm cả việc lưu trữ thường xuyên hay tạm thời tác phẩm dưới hình thức điện tử. Ví dụ: Quán photocopy có hành vi photo giáo trình, tài liệu thành rất nhiều bản để bán là hành vi xâm phạm quyền tác giả. Quán photocopy đã sao chép tác phẩm với mục đích thương mại, mà không xin phép hay trả tiền thù lao cho tác giả, gây phương hại đến các quyền tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả.

            Pháp luật Việt Nam định nghĩa quyền sao chép tác phẩm là “quyền của chủ sở hữu quyền tác giả độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện việc tạo ra bản sao của tác phẩm bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào, bao gồm cả việc lưu trữ thường xuyên hoặc tạm thời tác phẩm dưới hình thức điện tử” 

            Đối với tác phẩm chưa được công bố thì sao chép tác phẩm là độc quyền thuộc về chủ sở hữu quyền tác giả. Trong trường hợp này chỉ có chủ sở hữu quyền tác giả hoặc người được chủ sở hữu quyền tác giả cho phép mới được sao chép tác phẩm. Đối với tác phẩm đã được công bố, các tổ chức, cá nhân khác muốn sao chép thì phải xin phép, trả tiền nhuận bút, thù lao, các quyền lợi vật chất khác cho chủ sở hữu quyền tác giả, quy định tại khoản 3 Điều 20 Luật SHTT.

2. Giới hạn quyền sao chép tác phẩm:

            Giới hạn quyền sở hữu trí tuệ là việc chủ thể quyền sở hữu trí tuệ chỉ được thực hiện quyền của mình trong phạm vi và thời hạn bảo hộ theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, việc thực hiện quyền không được xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác và không được vi phạm các quy định khác của pháp luật có liên quan. Trong trường hợp nhằm bảo đảm mục tiêu quốc phòng, an ninh, dân sinh và các lợi ích khác của Nhà nước, xã hội quy định tại pháp luật sở hữu trí tuệ, Nhà nước có quyền cấm hoặc hạn chế chủ thể quyền sở hữu trí tuệ thực hiện quyền của mình hoặc buộc chủ thể quyền sở hữu trí tuệ phải cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng một hoặc một số quyền của mình với những điều kiện phù hợp.

            Nhằm hài hòa lợi ích quyền tác giả và lợi ích chung của cộng đồng, pháp luật quy định các trường hợp hạn chế của quyền tác giả đối với một số hành vi sử dụng, khai thác quyền tác giả. Việc giới hạn quyền quy định trong những trường hợp nhất định, cá nhân, tổ chức khác có quyền sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao; sử dụng tác phẩm sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao.

            Để áp dụng được giới hạn quyền sao chép tác phẩm điều kiện quan trọng nhất trong quy định pháp luật Việt Nam là việc tác phẩm đó đã được công bố. Điều này cũng đã minh chứng cho việc dù pháp luật đặt ra giới hạn quyền nhưng ở một góc độ nào đó, pháp luật vẫn đang cố gắng bảo vệ quyền lợi cho người sáng tạo hoặc đầu tư tạo ra tác phẩm. Điều này cũng đang hỗ trợ cho tác giả đem đến tác phẩm thật sự có giá trị cho xã hội, như vậy chỉ khi nào tác phẩm được công bố thì các giới hạn quyền mới được đặt ra. Tại Khoản 2 Điều 20 Nghị định số 22/2018/NĐ-CP quy định quyền công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm là việc phát hành tác phẩm đến công chúng với số lượng bản sao hợp lý để đáp ứng nhu cầu của công chúng tùy theo bản chất của tác phẩm và công bố tác phẩm không bao gồm việc trình diễn một tác phẩm sân khấu, điện ảnh, âm nhạc; đọc trước công chúng một tác phẩm văn học; phát sóng tác phẩm văn học, nghệ thuật; trưng bày tác phẩm tạo hình; xây dựng công trình từ tác phẩm kiến trúc. 

            Pháp luật có những quy định trong việc hạn chế quyền của chủ sở hữu trong vấn đề sao chép tác phẩm. Các tổ chức, cá nhân có quyền sao chép tác phẩm mà không phải xin phép và không phải trả tiền nhuận bút, thù lao cho tác giả hoặc cho chủ sở hữu quyền tác giả trong hai trường hợp sau:

               +) Tự sao chép một bản để nghiên cứu khoa học, giảng dạy của cá nhân (quy định tại điểm a, khoản 1, điều 25 Luật SHTT).

               +) Sao chép một tác phẩm để lưu trữ trong thư viện với mục đích nghiên cứu. (quy định tại điểm đ, khoản 1, điều 25 Luật SHTT)

            Để giải thích rõ hơn hai trường hợp trên, Nghị định 22/2018/NĐ – CP đã giải thích rõ:

               +) Tự sao chép một bản áp dụng đối với các trường hợp nghiên cứu khoa học, giảng dạy của cá nhân không nhằm mục đích thương mại (Quy định tại khoản 1 Điều 22 Nghị định của Chính phủ số 22/2018/NĐ-CP).

               +) Sao chép tác phẩm để lưu trữ trong thư viện với mục đích nghiên cứu quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 25 của Luật Sở hữu trí tuệ là việc sao chép không quá một bản. Thư viện không được sao chép và phân phối bản sao tác phẩm tới công chúng, kể cả bản sao kỹ thuật số (Quy định tại khoản 2 Điều 22 Nghị định của Chính phủ số 22/2018/NĐ-CP). Theo đó, trong trường hợp này, thư viện chỉ được phép sao chép không quá một bản và không được phân phối bản sao tác phẩm tới công chúng, kể cả bản sao kỹ thuật số.

            Như vậy, chỉ khi “sao chép một bản” đối với trường hợp nghiên cứu khoa học, giảng dạy hoặc lưu trữ trong thư viện với mục đích nghiên cứu như ở hai trường hợp trên, mà không nhằm mục đích thương mại thì mới không cần xin phép tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả. Còn lại những trường hợp khác nếu không xin phép, trả tiền nhuận bút, thù lao đều là hành vi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của pháp luật.

            Tuy nhiên, tổ chức, cá nhân sao chép tác phẩm quy định tại khoản 1 điều 25 Luật Sở hữu trí tuệ không được làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường tác phẩm, không gây phương hại đến các quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả; phải thông tin về tên tác giả và nguồn gốc, xuất xứ của tác phẩm, quy định tại khoản 2 điều 25, Luật SHTT. Sao chép tác phẩm mà không được phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, hoặc không thuộc các trường hợp ngoại lên trên sẽ bị coi là hành vi xâm phạm quyền tác giả. Tùy tính chất, mức độ hành vi xâm phạm mà các chủ thể thực hiện hành vi có thể sẽ bị xử lý bằng các biện pháp hành chính, dân sự, hình sự theo quy định của pháp luật.

* Một số đề xuất hoàn thiện pháp luật:

            +) Thứ nhất, trong giới hạn quyền tác giả nói chung được ghi nhận tại Điều 25 của Luật Sở hữu trí tuệ đều hướng đến điều kiện tiên quyết đó là chỉ áp dụng cho tác phẩm đã công bố. Tuy nhiên vẫn có một số tác phẩm được loại trừ không áp dụng như tác phẩm kiến trúc, tác phẩm tạo hình, chương trình máy tính và tác phẩm điện ảnh. Như vậy quan trọng nhất là việc xác định tác phẩm như thế nào thì ở trạng thái đã được công bố? và ai sẽ là người xem xét và quyết định nó. Giả thuyết đặt ra nếu có tranh chấp phát sinh thì sẽ được kiểm chứng thế nào? Chính vì vậy xem xét thực tế và quy định pháp luật có thể thấy rằng việc xác định theo như quy định hiện nay cũng chưa được rõ ràng và có vẻ nằm trong khuôn khổ khá hẹp về các quyền sẽ trao cho người sử dụng. Theo tác giả, có thể ghi nhận việc công bố tác phẩm thông qua việc thể hiện tác phẩm trước công chúng và người sử dụng có thể tiếp cận một cách công khai và hợp pháp theo ý của tác giả chẳng hạn như việc tác giả phát hành tác phẩm đến công chúng với số lượng bản sao hợp lý hoặc trình diễn một tác phẩm sân khấu, điện ảnh, âm nhạc hoặc đọc trước công chúng một tác phẩm văn học hay phát sóng tác phẩm văn học, nghệ thuật và cả việc trưng bày tác phẩm tạo hình, xây dựng công trình từ tác phẩm kiến trúc. Về điều này một số quốc gia trên thế giới cũng thừa nhận. Bên cạnh đó, việc ghi nhận mở rộng phạm vi “công bố” sẽ tạo kênh pháp lý và căn cứ rõ ràng để xác định hành vi sử dụng ấy có xâm phạm quyền sao chép hay trích dẫn hay không.

            +) Thứ hai, đối với trường hợp sao chép tác phẩm đã công bố nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, giảng dạy, lưu trữ thư viện như hiện nay quy định là được một bản thì có vẻ máy móc và hạn hẹp quyền lợi của người sử dụng trong trường hợp này. Có vẻ như nhà làm luật cảm thấy không kiểm soát được việc sử dụng trong môi trường giáo dục này sẽ như thế nào, họ sử dụng ra sao việc sao chép để làm gì… Tuy nhiên, một điều dĩ nhiên là hầu như họ là những thầy cô giáo, học trò, họ cần học tập, cần nghiên cứu và bản thân họ rất cần tiếp cận những sáng tạo mới, những tri thức mới để có thể trang bị kiến thức được tốt hơn. Như vậy, trong môi trường giáo dục thì chỉ cần không vì mục đích thương mại sẽ được sao chép tác phẩm đã công bố theo mức độ cần thiết. Đối với số lượng không nên giới hạn một bản sao trong trường hợp này. Tuy nhiên chúng ta có thể rào cản bằng việc sử dụng không làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường của tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả. Điều đáng nói thêm là, việc ghi nhận theo Điều 25, khoản 1, điểm a chỉ giới hạn trong việc giảng dạy, nghiên cứu khoa học, vậy thì còn học tập cũng nên được thừa nhận trong trường hợp này, bởi trong môi trường giáo dục, việc học tập là một hoạt động thường xuyên và cần thiết. Thế nên về mặt từ ngữ, điểm a khoản 1 Điều 25 Luật SHTT, sau khi sửa đổi, bổ sung được viết thành: “Tự sao chép một bản nhằm mục đích học tập, nghiên cứu khoa học, giảng dạy của cá nhân”. Điều này cũng tương thích với quy định trong Luật Bản quyền của Hoa Kỳ, mà theo đó cũng cho phép giáo viên hoặc học sinh sao chép một phần nhỏ của các tác phẩm để minh họa cho bài học. Bên cạnh đó, đối với việc lưu trữ thư viện thì số lượng bản sao không nên giới hạn là một, chỉ cần nhằm mục đích phục vụ cho công chúng và lưu trữ.

3. Đánh giá thực trạng xâm phạm quyền sao chép tác phẩm:

Thực trạng xâm phạm quyền sao chép tác phẩm hiện nay đang là một vấn đề hết sức nhức nhối:

            +) Hiện nay, mặc dù pháp luật Việt Nam đã có các bộ luật để bảo vệ quyền lợi cho tác giả, tuy nhiên hiện tượng các cá nhân, tập thể vô tình hoặc cố ý lợi dụng những kẽ hở trong luật để chuộc lợi vẫn diễn ra phổ biến.Trong lĩnh vực in ấn, xuất bản, dễ nhận thấy nhất là hiện tượng photocopy các ấn phẩm, tác phẩm, sách in một cách tràn lan mà không được sự đồng ý của tác giả, rồi sử dụng vào mục đích kinh doanh. Từ trước đến nay, chúng ta hầu như chỉ để tâm đến người sao chép tác phẩm để sử dụng mà quên đi rằng chính những cửa hàng kinh doanh dịch vụ photocopy cũng là những người vi phạm bản quyền tác giả một cách chuyên nghiệp.

            +) Bên cạnh đó, xâm phạm quyền sao chép tác phẩm còn được thấy trong việc đạo văn, sao chép luận văn thạc sĩ, tiến sĩ, của các học sinh, sinh viên và mọi người sử dụng internet. Hiện nay, phần lớn học sinh có thể hoàn thành bài tập của mình trong thời gian ngắn, nhờ vào việc học sinh có thể lên mạng, sao chép các tác phẩm có săn trên mạng. Thực trạng này diễn ra rất phổ biến và sẽ gây ra những hậu quả nghiêm trọng.

            +) Nhìn trên bình diện cả nước, Việt Nam đang đối mặt với tình trạng xâm phạm quyền tác giả tràn lan mà trong đó hành vi xâm phạm phổ biến nhất là sao chép tác phẩm bằng công nghệ số (sao chép số) và sử dụng trái phép tác phẩm trên mạng. Tham khảo số liệu thống kê của liên minh quốc tế về sở hữu trí tuệ, mức độ vi phạm tác phẩm ngôn ngữ (sách, báo) và băng đĩa ở nước ta chiếm tới 85-90% và Việt Nam được xếp vào một trong những nước có mức vi phạm cao nhất thế giới.

            +) Tình trạng xâm phạm quyền tác giả trực tuyến gây ra một số hệ lụy khiến các tác giả, nhà sản xuất, nhà xuất bản và những người hoạt động trong lĩnh vực văn hóa – nghệ thuật nói chung phải chịu thiệt thòi, vì không được đền đáp xứng đáng. Nền công nghiệp văn hóa, giải trí của chúng ta theo đó cũng bị kìm hãm. Mặt khác, những vi phạm này sẽ khiến Việt Nam mất đi nhiều cơ hội hợp tác với các đối tác nước ngoài để mang đến những sản phẩm tinh thần giá trị cho người dân.

4. Đề xuất một số giải pháp nhằm hạn chế hành vi xâm phạm quyền sao chép trong thực tiễn:

            – Tăng cường kiểm tra, kiểm soát và xử lý nghiêm các hành vi xâm phạm quyền sao chéo, đặc biệt là hành vi xâm phạm quyền sao chép trí tuệ trong môi trường kỹ thuật số;

            – Để nâng cao hiệu quả hoạt động bảo vệ quyền sao chép cần thiết phải thực hiện rà soát, đánh giá hiệu lực, hiệu quả và sự phù hợp của hệ thống tổ chức và cơ cấu bộ máy bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ hiện có để làm căn cứ xây dựng và thực hiện phương án sắp xếp, phân công lại trong bộ máy. Việc sắp xếp, phân công lại bộ máy các cơ quan có thẩm quyền xử lý xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bằng biện pháp hành chính cần đảm bảo theo hướng thu gọn đầu mối, phù hợp với tính chất dân sự của quyền sở hữu trí tuệ, xóa bỏ tình trạng hành chính hóa các quan hệ dân sự về sở hữu trí tuệ. Việc thu gọn đầu mối cơ quan có thẩm quyền xử lý xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bằng biện pháp hành chính cần được thực hiện đồng thời với việc phân định rõ thẩm quyền của mỗi cơ quan và tăng cường chất lượng hoạt động trên cơ sở thực hiện chuyên môn hóa về tổ chức và nhân sự trong các cơ quan này;

            – Tăng cường phối hợp giữa các cơ quan hành chính nhà nước với nhau và với các cơ quan tư pháp trong việc bảo vệ quyền sao chép và rộng hơn là quyền sở hữu trí tuệ; phối hợp nghiên cứu về việc tăng cường vai trò của tòa án trong giải quyết các vụ việc về sở hữu trí tuệ;

            – Tích cực và chủ động phát hiện, phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm về sao chép tác phẩm; nâng cao hiệu quả công tác điều tra các vụ án hình sự về sở hữu trí tuệ;

            – Khuyến khích giải quyết các tranh chấp về sở hữu trí tuệ bằng hình thức trọng tài, hòa giải;

            – Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, nghiệp vụ về quyền sao chép và các quyền sở hữu cho đội ngũ cán bộ làm công tác bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ;

            – Tăng cường giáo dục, phổ biến pháp luật cho học sinh, sinh viên về lĩnh vực sở hữu trí tuệ và quyền sao chép; giúp học sinh, sinh viên hiểu biết pháp luật và tuân thủ pháp luật;

            – Mở rộng xã hội hóa đi đôi với nâng cao chất lượng hoạt động bổ trợ tư pháp về quyền sao chép; thúc đẩy phát triển dịch vụ giám định sở hữu trí tuệ và dịch vụ tư vấn pháp luật về bảo vệ quyền sao chép và các quyền sở hữu trí tuệ.

Hiểu thế nào là trích dẫn hợp lý tác phẩm nhằm mục đích bình luận và nghiên cứu?

Hiểu thế nào là trích dẫn hợp lý tác phẩm nhằm mục đích bình luận và nghiên cứu?.

Tình huống: Ông Nam là tác giả hai bài báo phân tích về tính “thanh thanh tục tục” trong thơ Hồ Xuân Hương được đăng trên Tạp chí Văn Nghệ số ngày 03/06/2015 và ngày 03/08/2015. Ông Quân là tác giả cuốn sách “Bình luận Thơ Hồ Xuân Hương” xuất bản ngày 20/11/2017. Trong cuốn sách của mình, Ông Quân đã tự ý trích dẫn nguyên văn hai bài báo của Ông Nam, có đề tên tác giả và nguồn gốc tác phẩm rõ ràng, sau đó phân tích và chỉ ra 20 điểm không hợp lý của Ông Nam khi phân tích về thơ Hồ Xuân Hương. Ông Nam cho rằng Ông Quân có hành vi xâm phạm quyền tác giả của mình khi sử dụng tác phẩm mà không xin phép, không trả tiền cho Ông Nam. Tuy nhiên, Ông Quân cho rằng ông trích dẫn hợp lý tác phẩm nên không cần phải xin phép và trả tiền cho Ông Nam. Anh chị hãy phân tích và đưa ra quan điểm cá nhân trong vụ việc nói trên?

1. Phân tích vụ việc có dấu hiệu xâm phạm quyền tác giả:

* Đối tượng được bảo hộ:

            +) Đối tượng được bảo hộ trong tình huống trên là tác phẩm báo chí, quy định tại điều 9 Nghị định 22/2018 NĐ-CP

            +) Điều kiện bảo hộ tác phẩm:

  • Tác phẩm là kết quả sáng tạo của ông Nam trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật;
    • Tác phẩm được thể hiện dưới dạng vật chất nhất định, và được đăng trên Tạp chí Văn Nghệ số ngày 03/06/2015 và ngày 03/08/2015;
    • Tác phẩm không thuộc các đối tượng không được bảo hộ quyền tác giả, quy định tại điều 15 Luật sở hữu trí tuệ;

* Căn cứ phát sinh quyền tác giả: quy định tại Khoản 1 Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ

            +) Chủ thể quyền tác giả: Ông Nam là tác giả đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả theo quy định theo Khoản 1 Điều 6 Nghị định 22/2018 NĐ-CP và điều 37 Luật Sở hữu trí tuệ; vì ông Nam là người trực tiếp sáng tạo ra hai bài báo phân tích về tính “thanh thanh tục tục” trong thơ Hồ Xuân Hương và ông đã sử dụng thời gian, tài chính, cơ sở vật chất –  kỹ thuật của mình để có thể sáng tác hoàn thiện hai bài báo và đăng trên Tạp chí Văn Nghệ số ngày 03/06/2015 và ngày 03/08/2015.

            +) Nội dung quyền tác giả: vì ông Nam là tác giả đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả nên ông Nam có các quyền nhân thân quy định tại điều 19 và các quyền tài sản quy định tại điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ.

            +) Xác định thời hạn bảo hộ quyền tác giả:

  • Quyền nhân thân trừ quyền công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm được bảo hộ vô thời hạn ( Khoản 1 Điều 27 Luật Sở hữu trí tuệ).
    • Quyền tài sản và quyền công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm đối với hai tác phẩm báo chí trên được bảo hộ suốt cuộc đời tác giả và năm mưới năm tiếp theo năm tác giả mất ( Điểm b Khoản 2 Điều 27 Luật Sở hữu trí tuệ).

* Hành vi trong vụ việc trên là xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam.

2. Quan điểm về trích dẫn hợp lý tác phẩm nhằm mục đích bình luận và nghiên cứu:

            Theo em ông Quân không có hành vi xâm phạm quyền tác giả của ông Nam, ông Quân chỉ trích dẫn hợp lý tác phẩm để đưa ra bình luận và nghiên cứu:

   +) “Công bố tác phẩm” là đưa ra công khai tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học để cho mọi người biết dưới các hình thức như xuất bản, trưng bày, biểu diễn, thuyết trình… hoặc đăng kí tác phẩm đó tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Theo đó, hai bài báo phân tích về tính “thanh thanh tục tục” trong thơ Hồ Xuân Hương của ông Quân là hai tác phẩm đã được công bố, công khai cho công chúng và được đăng trên Tạp chí Văn Nghệ số ngày 03/06/2015 và ngày 03/08/2015.

   +) Theo điểm b, khoản 1 điều 25 Luật Sở hữu trí tuệ có quy định trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố mà không phải xin phép, không phải trả nhuận bút, thù lao: “Trích dẫn hợp lý tác phẩm mà không làm sai ý tác giả để bình luận hoặc minh họa trong tác phẩm của mình”. Như đã chứng minh ở trên hai bài báo của ông Nam đã được công bố nên hoàn toàn áp dụng quy định của luật trong trường hợp này.

            – Theo Khoản 1 Điều 23 Nghị định 22/2018 NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật sở hữu trí tuệ đã quy định: “Trích dẫn hợp lý tác phẩm mà không làm sai ý tác giả để bình luận hoặc minh họa trong tác phẩm của mình quy định tại điểm b khoản 1 Điều 25 của Luật sở hữu trí tuệ phải đáp ứng đủ các điều kiện sau: 1. Phần trích dẫn chỉ nhằm mục đích giới thiệu, bình luận hoặc làm sáng tỏ vấn đề được đề cập trong tác phẩm của mình.”

            – Trong cuốn sách của mình, Ông Quân đã trích dẫn nguyên văn hai bài báo của Ông Nam, có đề tên tác giả và nguồn gốc tác phẩm rõ ràng. Khi trích dẫn ông Quân vẫn thể hiện rõ ràng nguồn gốc của tác phẩm để người đọc biết đó là tác phẩm của ông Nam. Ông Quân vẫn để nguyên tên ông Nam, không hề sửa chữa bất kỳ câu chữ nào của ông Nam, cũng không hề mạo danh. Như vậy, đó không thể là hành vi sao chép, ông Nam chỉ trích dẫn tác phẩm ra để người đọc dễ dàng theo dõi.

            – Khi ông Quân trích dẫn nguyên văn hai bài báo của ông Nam để nghiên cứu và thảo luận nhằm mục đích giúp người đọc có cái nhìn khách quan và toàn diện nhất về hai bài báo. Bên cạnh đó, khi ông Quân trích dẫn nguyên văn nên là bài báo của ông Nam sẽ không bị cắt xén, nối ghép, xuyên tạc, và được dựng lại trung thực toàn bộ giúp cho người đọc dễ dàng theo dõi, hiểu hơn về sự phân tích, thảo luận và chỉ ra những lỗi sai của ông Quân. Mặt khác, khi ông Quân trích dẫn toàn bộ hai bài báo hay trích dẫn một phần vẫn được coi là trích dẫn hợp lý. Với cách làm như này, người đọc sẽ thấy từng vấn đề được tác giả đưa ra và tranh luận với nhà nghiên cứu khác như thế nào.

            Và tuy là “in toàn văn” nhưng thực chất ông Quân trích dẫn hợp lý, bởi ông Quân đã xen vào các đoạn trong các bài viết của ông Nam những lời bình luận của mình, mục đích là để người đọc dễ đối chiếu và nhận ra những sai sót trong các bài của ông Nam. Như vậy, cần phải khẳng định đây là một tác phẩm nghiên cứu khoa học, một chỉnh thể sáng tạo của ông Quân, chứ ông Quân không phải đơn thuần chỉ là hợp tuyển các bài của nhiều tác giả để in thành sách với mục đích thương mại.

            – Trong quá trình nghiên cứu, ông Quân đã chỉ ra 20 điểm không hợp lý của Ông Nam khi phân tích về thơ Hồ Xuân Hương. Điều này cho thấy, ông Quân đã bỏ rất nhiều thời gian và công sức để tìm hiểu, phân tích bài ông Nam mới có thể nhận ra những điểm chưa hợp lý đó. Mỗi người nghiên cứu có một cách đi, cách nhìn, chính vì thế nên khi đọc bài ông Nam bằng lý lẽ và hiểu biết của mình, ông Quân đã có cách nhìn nhận khác, chỉ ra những điểm chưa hợp lý để mọi người cùng thảo luận. Vì bài viết của ông Nam chỉ là ý kiến chủ quan của ông, khi được chỉ ra những lỗi sai đó, sẽ có thể giúp ông Nam nhìn nhận về thơ Hồ Xuân Hương một cách khách quan hơn.

   +) Theo Khoản 2 điều 25 Luật Sở hữu trí tuệ quy định: “Tổ chức, cá nhân sử dụng tác phẩm quy định tại khoản 1 Điều này không được làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường tác phẩm, không gây phương hại đến các quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả; phải thông tin về tên tác giả và nguồn gốc, xuất xứ của tác phẩm.”

            – Khi ông Quân trích dẫn hai bài báo của ông Nam trong cuốn sách của mình không làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường tác phẩm vì: đây không phải người đọc chỉ muốn xem bài báo của ông Nam mà bỏ ra số tiền lớn hơn để mua cuốn sách của ông Quân, vì thế nếu người đọc muốn đọc báo của ông Nam thì vẫn mua báo của ông, nên việc ông Quân trích dẫn hợp lý không ảnh hưởng gì đến ông Nam. Bên cạnh đó, tờ báo sẽ rẻ hơn cuốn sách, nếu yêu thích ông Nam người đọc vẫn sẽ chọn mua báo của ông

            – Trong cuốn sách của ông Quân không chỉ có mỗi sự phân tích, thảo luận, nghiên cứu bài báo của ông Nam mà còn rất nhiều nội dung khác.

            – Như vậy, tuy trích dẫn nguyên vẹn hai bài báo của ông Nam chiếm một lượng trang in, nhưng đó chỉ là nguyên liệu để ông Quân chỉ ra 20 điều chưa hợp lý một cách khách quan nhất và rõ ràng phần bình luận của ông Quân mới là nội dung chính và phù hợp với tiêu đề cuốn sách “Bình luận thơ Hồ Xuân Hương”. Hơn nữa, mục đích trích dẫn hợp lý hai bài báo của ông Nam chỉ để phục vụ tranh luận khoa học. Nếu đặt hai bài báo của ông Nam trong tương quan với cuốn sách “Bình luận thơ Hồ Xuân Hương” và với 20 lời bình chú của ông Quân thì có thể thấy rõ “tính sáng tạo” của ông Quân…

            – Mặt khác, khi ông Quân trích dẫn bài báo của ông Nam vào cuốn sách của mình để nghiên cứu còn giúp bài báo của ông Nam được nhiều người biết đến rộng rãi hơn. Và có thể ông Nam sẽ bán được nhiều báo hơn vì người đọc sẽ thích thú và mua về để tìm hiểu thêm.

            – Việc ông Quân trích dẫn tác phẩm của ông Nam không hề gây phương hại đến các quyền của các giả vì: ông đang chỉ ra những điều chưa hợp lý trong bài báo của ông Nam, giúp ông có cái nhìn toàn diện hơn, nhận ra những lỗi sai của mình và giúp ông Nam phát triển hơn trong lối viết văn của những tác phẩm sau này. Khi đưa một tác phẩm ra thảo luận và phân tích đó là điều hoàn toàn hợp lý trong lĩnh vực văn học, giúp nghiên cứu mà không hề gây phương hại gì đến các quyền tác giả.

            – Việc ông Quân trích dẫn hợp lý là phù hợp với tính chất, đặc điểm của loại hình tác phẩm được sử dụng để trích dẫn, không gây phương hại đến quyền tác giả.

            – Cuối cùng, khi trích dẫn nguyên văn hai bài báo của ông Nam, ông tôn đã có đề tên tác giả và nguồn gốc tác phẩm rõ ràng, như vậy là hoàn toàn đúng theo quy định pháp luật tại khoản 2 điều 25 Luật sở hữu trí tuệ

=> Kết luận: Ông Quân không có hành vi xâm phạm quyền tác giả, nên không cần phải xin phép và không cần phải trả tiền cho ông Nam; Việc làm của ông Quân là trích dẫn hợp lý tác phẩm nhằm mục đích bình luận và nghiên cứu.

Đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về công ty hợp danh – Ưu điểm, nhược điểm của công ty hợp danh so với các loại hình doanh nghiệp khác

Đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về công ty hợp danh và phân tích những ưu điểm, nhược điểm của công ty hợp danh so với các loại hình doanh nghiệp khác.

I. CÔNG TY HỢP DANH

1.1 Khái niệm công ty hợp danh:

Công ty thương mại trên thế giới bao gồm : Công ty đối nhân và công ty đối vốn căn cứ vào sự liên kết và trách nhiệm.

quy định pháp luật hiện hành về công ty hợp danh - Ưu điểm, nhược điểm của công ty hợp danh

Công ty đối nhân thường tồn tại dưới dạng Công ti Hợp danh. Công ti hợp danh là 1 trong những loại công ty ra đời sớm nhất trong lịch sự hình thành công ti trên thế giới. Người ta đã tìm thấy những quy định về sự hợp danh theo nghĩa rộng trong các bộ luật thời cổ đại như Bộ luật Hammurabi của Babylon vào khoảng năm 2300 trước Công nguyên. Cụm từ ‘Hợp danh’ để chỉ sự hợp tác với nhau và khái niệm về công ti hợp danh ra đời cũng dựa trên cụm từ hợp danh. Công ti hợp danh có thể hiểu theo đơn giản là gồm những người tin tưởng nhau, hợp tác với nhau để kinh doanh nhằm thu lại lợi nhuận rồi cùng nhau chia sẻ. Ở châu Âu, Châu Á, tập quán kinh doanh của các thương nhân, sự liên kết những phường, hội người buôn là tiền đề ban đầu hình thành nên những hình thức hợp danh sau này.

 Mỗi quốc gia có có cách quy định khác nhau về công ty hợp danh, nhưng tựu chung lại về bản chất ta đều thấy những biểu hiện sau: Đây là loại hình công ty đối nhân, và yếu tố nhân thân của các thành viên công ty luôn được đặt ra đầu tiên. Công ty có thể có tư cách pháp nhân hoặc không có tùy theo quy định của mỗi nước. Thành viên trong công ty có thể chỉ có thành viên hợp danh hoặc có cả thành viên góp vốn. Nhưng điểm chung trong quy định của pháp luật các nước là không có sự tách bạch về tài sản của công ty với tài sản của các thành viên hợp danh và các thành viên này phải chịu trách nhiệm vô hạn đối với các nghĩa vụ của công ty. Tóm lại, có thể xây dựng một khái niệm khái quát về công ty hợp danh như sau: Công ty hợp danh là một dạng liên kết mang bản chất đối nhân, thường không có tư cách pháp nhân. Các thành viên trong công ty có thể chỉ có thành viên hợp danh chịu trách nhiệm vô hạn hoặc bao gồm cả thành viên góp vốn chịu trách nhiệm hữu hạn trong phần vốn góp của mình vào công ty.

  Theo Luật Doanh nghiệp 2020 thì :

– Công ty hợp danh là doanh nghiệp phải có ít nhất 02 thành viên (là cá nhân) là chủ sở hữu chung của Công ty, cùng nhau kinh doanh dưới một tên chung[3].

– Có hai loại thành viên có thể có trong công ty hợp danh : Thành viên hợp danh và thành viên góp vốn.

 – Các thành viên hợp danh phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty. Ngoài thành viên hợp danh, công ty có thể có thêm thành viên góp vốn. Thành viên góp vốn chỉ phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty[3].

 – Công ty Hợp danh có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp[3].

 – Hiện nay tại Việt Nam và trên thế giới có 2 loại công ty Hợp danh :

 + Loại thứ nhất : Công ti hợp danh chỉ toàn các thành viên hợp danh chịu trách nhiệm vô hạn và liên đới đối với công ti; có quyền quản lý và đại diện cho công ti. Khi công ti không có khả năng thanh toán nợ thì mỗi thành viên hợp danh chịu trách nhiệm liên đới bằng tài sản của mình. Chủ nợ có quyền yêu cầu bất kì thành viên hợp danh nào của công ti trả nợ nếu công ti không trả được và có thể yêu cầu áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với tài sản cá nhân của thành viên[1].

 + Loại thứ hai :Công ti hợp danh hữu hạn gồm 2 loại thành viên : Thành viên hợp danh chịu trách nhiệm vô hạn, có quyền quản lý và đại diện cho công ti. Thành viên góp vốn chịu trách nhiệm hữu hạn, không có quyền quản lý công ty và không có quyền đại diện cho công ti. Công ti này cho phép 1 thương nhân có ý tưởng kinh doanh nhưng không có vốn được tận dụng vốn của thành viên góp vốn (người nắm giữ vốn những không tự thực hiện được hoạt động thương mai do Luật định).

1.2 Đặc Điểm của công ty hợp danh

1.2.1 Thành viên công ty hợp danh

Công ty hợp danh phải có tối thiểu 2 thành viên là chủ sở hữu chung công ty gọi là thành viên hợp danh. Ngoài ra có thể có thành viên góp vốn.

Thành viên hợp danh không được làm chủ doanh nghiệp tư nhân hoặc thành viên hợp danh của công ty hợp danh khác, trừ trường hợp được sự nhất trí của các thành viên hợp danh còn lại[3].

Thành viên hợp danh không được quyền nhân danh cá nhân hoặc nhân danh người khác thực hiện kinh doanh cùng ngành, nghề kinh doanh của công ty đó để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác.

Thành viên hợp danh không được quyền chuyển một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp của mình tại công ty cho người khác nếu không được sự chấp thuận của các thành viên hợp danh còn lại.

1.2.2 Thực hiện góp vốn và cấp giấy chứng nhận phần vốn góp

– Thành viên hợp danh và thành viên góp vốn phải góp đủ và đúng hạn số vốn như đã cam kết.

– Thành viên hợp danh không góp đủ và đúng hạn số vốn đã cam kết gây thiệt hại cho công ty phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho công ty.

– Thành viên góp vốn không góp đủ và đúng hạn số vốn đã cam kết thì số vốn chưa góp đủ được coi là khoản nợ của thành viên đó đối với công ty; trong trường hợp này, thành viên góp vốn có liên quan có thể bị khai trừ khỏi công ty theo quyết định của Hội đồng thành viên.

– Tại thời điểm góp đủ vốn như đã cam kết, thành viên được cấp giấy chứng nhận phần vốn góp

1.2.3 Tài sản của công ty hợp danh

Tài sản của công ty hợp danh bao gồm:

– Tài sản góp vốn của các thành viên đã được chuyển quyền sở hữu cho công ty;

– Tài sản tạo lập được mang tên công ty;

– Tài sản thu được từ hoạt động kinh doanh do các thành viên hợp danh thực hiện nhân danh công ty và từ các hoạt động kinh doanh của công ty do các thành viên hợp danh nhân danh cá nhân thực hiện;

– Các tài sản khác theo quy định của pháp luật.

1.2.4 Đại diện theo pháp luật và điều hành kinh doanh 

Các thành viên hợp danh có quyền đại diện theo pháp luật và tổ chức điều hành hoạt động kinh doanh hằng ngày của công ty. Mọi hạn chế đối với thành viên hợp danh trong thực hiện công việc kinh doanh hằng ngày của công ty chỉ có hiệu lực đối với bên thứ ba khi người đó được biết về hạn chế đó.

Trong điều hành hoạt động kinh doanh công ty hợp danh, thành viên hợp danh phân công nhau đảm nhiệm các chức danh quản lý và kiểm soát công ty.

Khi một số hoặc tất cả thành viên hợp danh cùng thực hiện một số công việc kinh doanh thì quyết định được thông qua theo nguyên tắc đa số.

Hoạt động do thành viên hợp danh thực hiện ngoài phạm vi hoạt động kinh doanh của công ty đều không thuộc trách nhiệm của công ty, trừ trường hợp hoạt động đó đã được các thành viên còn lại chấp thuận.

1.2.5 Ưu, nhược điểm của công ty hợp danh:

Công ti hợp danh
Ưu điểmNhược điểm
Công ty hợp danh yêu cầu phải có ít nhất 02 thành viên là chủ sở hữu, cùng kinh doanh dưới một tên chung – thành viên hợp danh. công ty hợp danh sẽ kết hợp được uy tín cá nhân của nhiều người, dễ dàng tạo được sự tin cậy với đối tác kinh doanh.Thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty nên mức độ rủi ro của các thành viên hợp danh là rất cao.  
việc quản lý công ty không quá phức tạp do số lượng các thành viên ít và là những người đã có mối liên hệ mật thiết với nhau trước đó. Cơ cấu tổ chức gọn nhẹ, dễ quản lý. Thích hợp cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ.  Dù có tư cách pháp nhân nhưng công ty hợp danh không được phát hành bất kì loại chứng khoán nào. Việc huy động vốn của công ty sẽ bị hạn chế, các thành viên chỉ có thể góp thêm tài sản của mình hoặc tiếp nhận thành viên mới.  
Thành viên hợp danh là những cá nhân có trình độ chuyên môn và uy tín nghề nghiệp cao. Tạo sự tin cậy cho đối tác.  Do chế độ liên đới chịu trách nhiệm vô hạn nên mức độ rủi ro của các thành viên hợp danh là rất cao.  
Ngân hàng dễ cho vay vốn và hoãn nợ hơn. Do chế độ chịu trách nhiệm vô hạn của các thành viên hợp danh.  Thành viên hợp danh rút khỏi công ty vẫn phải chịu trách nhiệm. Đối với các khoản nợ của công ty hợp danh. Phát sinh từ những cam kết của công ty. Trước khi thành viên đó rút khỏi công ty.  
Nếu điều lệ công ty không có quy định khác, thành viên hợp danh trong công ty hợp danh mặc nhiên được xem là có quyền ngang nhau trong việc quyết định các vấn đề của công ty, mà không quan trọng việc vốn góp của ai nhiều hơnCông ty hợp danh không có sự phân biệt rõ ràng giữa tài sản công ty và tài sản cá nhân  
Tuy công ty hợp danh có chế độ trách nhiệm vô hạn, nhưng pháp luật lại quy định công ty hợp danh có tư cách pháp nhân. Điều này sẽ dẫn đến sự mâu thuẫn với quy định tại khoản 3 điều 84 Bộ 13 luật dân sự (Pháp nhân phải có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó).
Đối với những ngành nghề có tính chất đặc thù, đòi hỏi trách nhiệm cao của người hành nghề như y tế, tư vấn pháp lý, kiểm toán… thì loại hình công ty hợp danh rất phù hợp.Tất cả những thành viên hợp danh đều phải có những chứng chỉ hành nghề giống nhau (đối với ngành nghề có chứng chỉ) vì các thành viên hợp danh đều là đại diện theo pháp luật của công ty (trong khi các công ty khác luật chỉ đòi hỏi một số thành viên có chứng chỉ là được (đối với các ngành nghề kinh doanh có điều kiện hay pháp luật quy định).
Theo quy định tại Điều 130 Luật Doanh nghiệp, thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối về các nghĩa vụ của công ty. Như vậy, pháp nhân sẽ không thể trở thành thành viên của công ty hợp danh.

II. NHỮNG QUY ĐỊNH HIỆN HÀNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CÔNG TY HỢP DANH:

2.1 Thành lập công ti hợp danh

Pháp luật Việt Nam quy định điều kiện thành lập công ty hợp danh cũng là điều kiện chung cho các doanh nghiệp khác. Những yếu tố liên quan đến nhân thân người thành lập như độ tuổi, năng lực hành vi dân sự, nghề nghiệp được quy định cụ thể trong Bộ luật Dân sự, luật Doanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn khác. Người chưa thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự; người đang chấp hành hình phạt tù hoặc đang bị Tòa án cấm hành nghề kinh doanh không được phép tham gia thành lập doanh nghiệp. Độ tuổi theo quy định của pháp luật có đầy đủ khả năng chịu trách nhiệm trước các hợp đồng do mình ký kết là 18 tuổi

 Người thành lập công ty phải làm hồ sơ đăng ký kinh doanh, chịu trách nhiệm về tính trung thực, chính xác của nội dung hồ sơ, sau đó nộp tại cơ quan đăng ký kinh doanh có thẩm quyền (phòng đăng ký kinh doanh cấp tỉnh hoặc tương đương nơi doanh nghiệp có trụ sở chính

2.2 Thành viên

Điều 180. Hạn chế quyền đối với thành viên hợp danh

1. Thành viên hợp danh không được làm chủ doanh nghiệp tư nhân; không được làm thành viên hợp danh của công ty hợp danh khác trừ trường hợp được sự nhất trí của các thành viên hợp danh còn lại.

2. Thành viên hợp danh không được nhân danh cá nhân hoặc nhân danh người khác kinh doanh cùng ngành, nghề kinh doanh của công ty để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác.

3. Thành viên hợp danh không được chuyển một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp của mình tại công ty cho tổ chức, cá nhân khác nếu không được sự chấp thuận của các thành viên hợp danh còn lại.

Điều 181. Quyền và nghĩa vụ của thành viên hợp danh

1. Thành viên hợp danh có quyền sau đây:

a) Tham gia họp, thảo luận và biểu quyết về các vấn đề của công ty; mỗi thành viên hợp danh có một phiếu biểu quyết hoặc có số phiếu biểu quyết khác quy định tại Điều lệ công ty;

b) Nhân danh công ty kinh doanh các ngành, nghề kinh doanh của công ty; đàm phán và ký kết hợp đồng, giao dịch hoặc giao ước với những điều kiện mà thành viên hợp danh đó cho là có lợi nhất cho công ty;

c) Sử dụng tài sản của công ty để kinh doanh các ngành, nghề kinh doanh của công ty; trường hợp ứng trước tiền của mình để kinh doanh cho công ty thì có quyền yêu cầu công ty hoàn trả lại cả số tiền gốc và lãi theo lãi suất thị trường trên số tiền gốc đã ứng trước;

d) Yêu cầu công ty bù đắp thiệt hại từ hoạt động kinh doanh trong phạm vi nhiệm vụ được phân công nếu thiệt hại đó xảy ra không phải do sai sót cá nhân của thành viên đó;

đ) Yêu cầu công ty, thành viên hợp danh khác cung cấp thông tin về tình hình kinh doanh của công ty; kiểm tra tài sản, sổ kế toán và tài liệu khác của công ty khi thấy cần thiết;

e) Được chia lợi nhuận tương ứng với tỷ lệ phần vốn góp hoặc theo thỏa thuận quy định tại Điều lệ công ty;

g) Khi công ty giải thể hoặc phá sản, được chia giá trị tài sản còn lại tương ứng theo tỷ lệ phần vốn góp vào công ty nếu Điều lệ công ty không quy định một tỷ lệ khác;

h) Trường hợp thành viên hợp danh chết thì người thừa kế của thành viên được hưởng phần giá trị tài sản tại công ty sau khi đã trừ đi phần nợ và nghĩa vụ tài sản khác thuộc trách nhiệm của thành viên đó. Người thừa kế có thể trở thành thành viên hợp danh nếu được Hội đồng thành viên chấp thuận;

i) Quyền khác theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty.

2. Thành viên hợp danh có nghĩa vụ sau đây:

a) Tiến hành quản lý và thực hiện hoạt động kinh doanh một cách trung thực, cẩn trọng và tốt nhất nhằm bảo đảm lợi ích hợp pháp tối đa cho công ty;

b) Tiến hành quản lý và thực hiện hoạt động kinh doanh theo đúng quy định của pháp luật, Điều lệ công ty và nghị quyết, quyết định của Hội đồng thành viên; nếu làm trái quy định tại điểm này, gây thiệt hại cho công ty thì phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại;

c) Không được sử dụng tài sản của công ty để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác;

d) Hoàn trả cho công ty số tiền, tài sản đã nhận và bồi thường thiệt hại gây ra đối với công ty trong trường hợp nhân danh công ty, nhân danh cá nhân hoặc nhân danh người khác để nhận tiền hoặc tài sản khác từ hoạt động kinh doanh của công ty mà không đem nộp cho công ty;

đ) Liên đới chịu trách nhiệm thanh toán hết số nợ còn lại của công ty nếu tài sản của công ty không đủ để trang trải số nợ của công ty;

e) Chịu khoản lỗ tương ứng với phần vốn góp vào công ty hoặc theo thỏa thuận quy định tại Điều lệ công ty trong trường hợp công ty kinh doanh bị lỗ;

g) Định kỳ hằng tháng báo cáo trung thực, chính xác bằng văn bản tình hình và kết quả kinh doanh của mình với công ty; cung cấp thông tin về tình hình và kết quả kinh doanh của mình cho thành viên có yêu cầu;

h) Nghĩa vụ khác theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty.

2.3 Vốn-tài sản

Điều 179. Tài sản của công ty hợp danh

1. Tài sản góp vốn của các thành viên đã được chuyển quyền sở hữu cho công ty;

2. Tài sản tạo lập được mang tên công ty;

3. Tài sản thu được từ hoạt động kinh doanh do thành viên hợp danh thực hiện nhân danh công ty và từ hoạt động kinh doanh của công ty do thành viên hợp danh nhân danh cá nhân thực hiện;

4. Tài sản khác theo quy định của pháp luật.

Điều 178. Thực hiện góp vốn và cấp giấy chứng nhận phần vốn góp

1. Thành viên hợp danh và thành viên góp vốn phải góp đủ và đúng hạn số vốn đã cam kết.

2. Thành viên hợp danh không góp đủ và đúng hạn số vốn đã cam kết gây thiệt hại cho công ty phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho công ty.

3. Trường hợp có thành viên góp vốn không góp đủ và đúng hạn số vốn đã cam kết thì số vốn chưa góp đủ được coi là khoản nợ của thành viên đó đối với công ty; trong trường hợp này, thành viên góp vốn có liên quan có thể bị khai trừ khỏi công ty theo quyết định của Hội đồng thành viên.

4. Tại thời điểm góp đủ số vốn đã cam kết, thành viên được cấp giấy chứng nhận phần vốn góp. Giấy chứng nhận phần vốn góp phải bao gồm các nội dung chủ yếu sau đây:

a) Tên, mã số doanh nghiệp, địa chỉ trụ sở chính của công ty;

b) Vốn điều lệ của công ty;

c) Tên, địa chỉ liên lạc, quốc tịch, số giấy tờ pháp lý của cá nhân đối với thành viên là cá nhân; tên, mã số doanh nghiệp hoặc số giấy tờ pháp lý của tổ chức, địa chỉ trụ sở chính đối với thành viên là tổ chức; loại thành viên;

d) Giá trị phần vốn góp và loại tài sản góp vốn của thành viên;

đ) Số và ngày cấp giấy chứng nhận phần vốn góp;

e) Quyền và nghĩa vụ của người sở hữu giấy chứng nhận phần vốn góp;

g) Họ, tên, chữ ký của người sở hữu giấy chứng nhận phần vốn góp và của các thành viên hợp danh của công ty.

5. Trường hợp giấy chứng nhận phần vốn góp bị mất, bị hư hỏng hoặc bị hủy hoại dưới hình thức khác, thành viên được công ty cấp lại giấy chứng nhận phần vốn góp.

2.4 Tổ chức, quản lý của công ty hợp danh.

Điều 182. Hội đồng thành viên

1. Hội đồng thành viên bao gồm tất cả thành viên. Hội đồng thành viên bầu một thành viên hợp danh làm Chủ tịch Hội đồng thành viên, đồng thời kiêm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc công ty nếu Điều lệ công ty không có quy định khác.

2. Thành viên hợp danh có quyền yêu cầu triệu tập họp Hội đồng thành viên để thảo luận và quyết định công việc kinh doanh của công ty. Thành viên yêu cầu triệu tập họp phải chuẩn bị nội dung, chương trình và tài liệu họp.

3. Hội đồng thành viên có quyền quyết định tất cả công việc kinh doanh của công ty. Nếu Điều lệ công ty không quy định thì quyết định các vấn đề sau đây phải được ít nhất ba phần tư tổng số thành viên hợp danh tán thành:

a) Định hướng, chiến lược phát triển công ty;

b) Sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty;

c) Tiếp nhận thêm thành viên mới;

d) Chấp thuận thành viên hợp danh rút khỏi công ty hoặc quyết định khai trừ thành viên;

đ) Quyết định dự án đầu tư;

e) Quyết định việc vay và huy động vốn dưới hình thức khác, cho vay với giá trị từ 50% vốn điều lệ của công ty trở lên, trừ trường hợp Điều lệ công ty quy định một tỷ lệ khác cao hơn;

g) Quyết định mua, bán tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn vốn điều lệ của công ty, trừ trường hợp Điều lệ công ty quy định một tỷ lệ khác cao hơn;

h) Thông qua báo cáo tài chính hằng năm, tổng số lợi nhuận được chia và số lợi nhuận chia cho từng thành viên;

i) Quyết định giải thể; yêu cầu phá sản công ty.

4. Quyết định về vấn đề khác không quy định tại khoản 3 Điều này được thông qua nếu được ít nhất hai phần ba tổng số thành viên hợp danh tán thành; tỷ lệ cụ thể do Điều lệ công ty quy định.

5. Quyền tham gia biểu quyết của thành viên góp vốn được thực hiện theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty.

Điều 183. Triệu tập họp Hội đồng thành viên

1. Chủ tịch Hội đồng thành viên có thể triệu tập họp Hội đồng thành viên khi xét thấy cần thiết hoặc theo yêu cầu của thành viên hợp danh. Trường hợp Chủ tịch Hội đồng thành viên không triệu tập họp theo yêu cầu của thành viên hợp danh thì thành viên đó triệu tập họp Hội đồng thành viên.

2. Thông báo mời họp Hội đồng thành viên có thể gửi bằng giấy mời, điện thoại, fax, phương tiện điện tử hoặc phương thức khác do Điều lệ công ty quy định. Thông báo mời họp phải nêu rõ mục đích, yêu cầu và nội dung họp, chương trình và địa điểm họp, tên thành viên yêu cầu triệu tập họp.

Các tài liệu thảo luận được sử dụng để quyết định các vấn đề quy định tại khoản 3 Điều 182 của Luật này phải được gửi trước đến tất cả thành viên; thời hạn gửi trước do Điều lệ công ty quy định.

3. Chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc thành viên yêu cầu triệu tập họp chủ tọa cuộc họp. Cuộc họp Hội đồng thành viên phải được ghi biên bản, bao gồm các nội dung chủ yếu sau đây:

a) Tên, mã số doanh nghiệp, địa chỉ trụ sở chính;

b) Thời gian, địa điểm họp;

c) Mục đích, chương trình và nội dung họp;

d) Họ, tên chủ tọa, thành viên dự họp;

đ) Ý kiến của thành viên dự họp;

e) Nghị quyết, quyết định được thông qua, số thành viên tán thành, không tán thành, không có ý kiến và nội dung cơ bản của nghị quyết, quyết định đó;

g) Họ, tên, chữ ký của các thành viên dự họp.

Điều 184. Điều hành kinh doanh của công ty hợp danh

1. Các thành viên hợp danh là người đại diện theo pháp luật của công ty và tổ chức điều hành hoạt động kinh doanh hằng ngày của công ty. Mọi hạn chế đối với thành viên hợp danh trong thực hiện công việc kinh doanh hằng ngày của công ty chỉ có hiệu lực đối với bên thứ ba khi người đó được biết về hạn chế đó.

2. Trong điều hành hoạt động kinh doanh của công ty, thành viên hợp danh phân công nhau đảm nhiệm các chức danh quản lý và kiểm soát công ty.

Khi một số hoặc tất cả thành viên hợp danh cùng thực hiện một số công việc kinh doanh thì quyết định được thông qua theo nguyên tắc đa số chấp thuận.

Hoạt động do thành viên hợp danh thực hiện ngoài phạm vi hoạt động kinh doanh của công ty đều không thuộc trách nhiệm của công ty, trừ trường hợp hoạt động đó đã được các thành viên còn lại chấp thuận.

3. Công ty có thể mở một hoặc một số tài khoản tại ngân hàng. Hội đồng thành viên chỉ định thành viên được ủy quyền gửi và rút tiền từ các tài khoản đó.

4. Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc có các nghĩa vụ sau đây:

a) Quản lý và điều hành công việc kinh doanh hằng ngày của công ty với tư cách là thành viên hợp danh;

b) Triệu tập và tổ chức họp Hội đồng thành viên; ký nghị quyết, quyết định của Hội đồng thành viên;

c) Phân công, phối hợp công việc kinh doanh giữa các thành viên hợp danh;

d) Tổ chức sắp xếp, lưu giữ đầy đủ và trung thực sổ kế toán, hóa đơn, chứng từ và các tài liệu khác của công ty theo quy định của pháp luật;

đ) Đại diện cho công ty với tư cách người yêu cầu giải quyết việc dân sự, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài, Tòa án; đại diện cho công ty thực hiện quyền, nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật;

e) Nghĩa vụ khác do Điều lệ công ty quy định.

2.5 Giải thể và phá sản công ti

Công ty hợp danh ra đời do sự thỏa thuận của các thành viên, do đó việc kết thúc thời hạn hoạt động của công ty ghi trong điều lệ công ty là một trong các trường hợp dẫn đến sự kiện pháp lý là giải thể công ty. Nếu hết thời hạn theo thỏa thuận ghi trong điều lệ mà các thành viên không thỏa thuận thêm và không xin gia hạn thì công ty sẽ bị giải thể

Một trong những điều kiện thành lập công ty hợp danh là phải có ít nhất hai thành viên hợp danh trở lên. Do đó, nếu trong quá trình hoạt động công ty không đủ số thành viên theo quy định cũng sẽ phải giải thể. Cũng như các doanh nghiệp khác, công ty hợp danh bị giải thể khi bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi giấy phép kinh doanh. Đây là trường hợp giải thể bắt buộc

Một trong những điều kiện để tiến hành thủ tục giải thể công ty hợp danh là các khoản nợ của công ty phải được thanh toán hết. Nếu như các thành viên hợp danh đã dùng hết tài sản riêng của mình để thanh toán nhưng vẫn không trả hết nợ thì bắt buộc phải chuyển sang thủ tục phá sản công ty.

III. THỰC TRẠNG CÔNG TI HỢP DANH TẠI VIỆT NAM:

Hiện nay, các công ty hợp danh chủ yếu hoạt động trong một số lĩnh vực như pháp luật, kiểm toán, vận tải công nghệ: như mua bán thiết bị phần mềm, thiết bị nghiên cứu khoa học; nghiên cứu tư vấn phát triển công nghệ, thương mại; sản xuất, mua bán sản phẩm nhựa, hàng hóa là nông sản thực phẩm, thủ công mỹ nghệ, mua bán sản phẩm sinh học, hóa chất như thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật… Tuy nhiên phổ biến nhất là hai lĩnh vực tư vấn luật và kiểm toán. Mặc dù có những công ty hợp danh đang hoạt động rất hiệu quả với mô hình có thành viên góp vốn hoặc chỉ có thành viên hợp danh, song số lượng ít ỏi các công ty hợp danh đang hoạt động cho chúng ta thấy, công ty hợp danh không được các nhà đầu tư ưu tiên lựa chọn ở Việt Nam. Rõ ràng, với những ưu thế của mình, công ty hợp danh đã rất phát triển ở các nước, nhưng ở Việt Nam thì ngược lại. Nguyên nhân nào dẫn đến thực trạng đáng buồn như vậy?

Bên cạnh những nguyên nhân khách quan như tâm lý e dè của nhà đầu tư trước những cái mới, hay là mô hình công ty kén chọn lĩnh vực kinh doanh, hay những nguyên nhân tự thân của loại hình công ty đối nhân, thì nguyên nhân cơ bản vẫn là sự bất cập của pháp luật hiện hành. Việc phân tích làm rõ ràng các nguyên nhân sẽ giúp chúng ta tìm ra giải pháp tốt để công ty phát huy được vai trò và vị thế của mình trong nền kinh tế.

Thứ nhất, việc liên đới chịu trách nhiệm vô hạn đối với các khoản nợ của công ty dẫn đến nhiều rủi ro cho thành viên hợp danh hơn so với việc làm thành viên của công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn. Đây là nguyên nhân tự thân của loại hình công ty mang bản chất đối nhân. Sự khắt khe trong chế độ trách nhiệm buộc các nhà đầu tư phải cân nhắc tính toán kỹ lưỡng trước khi có quyết định tham gia công ty. Hơn nữa, điều kiện để trở thành thành viên hợp danh đối với những công ty kinh doanh những ngành nghề có tính chất đặc thù, đòi hỏi trách nhiệm cao của người hành nghề như y tế, tư vấn pháp lý, kiểm toán… là phải có chứng chỉ hành nghề. Việc tìm được chủ thể vừa thân thiết, vừa cùng có chuyên môn, chứng chỉ hành nghề theo quy định của pháp luật, lại vừa đồng lòng san sẻ rủi ro trên thực tế không hề đơn giản. Thứ hai, những bất cập về môi trường pháp lý đã khiến cho công ty hợp danh bị thực tiễn từ chối. Không thể phủ nhận vai trò của Luật Doanh nghiệp trong việc thúc đẩy các doanh nghiệp phát 15 triển, ngày càng tạo điều kiện thông thoáng hơn về mặt pháp lý cho các doanh nghiệp phát huy hết khả năng trong môi trường kinh doanh. Tuy nhiên, vẫn còn những quy định bất hợp lý của pháp luật khiến cho loại hình này chưa được nhân rộng trên thị trường. Đặc biệt là chính sách thuế đối với công ty và thành viên công ty. Xét về mặt thực tiễn kinh doanh hiện nay, rõ ràng chúng ta thấy khoản thu nhập thuộc đối tượng chịu thuế thu nhập cá nhân đã phải chịu thuế thu nhập doanh nghiệp do công ty mang tư cách pháp nhân nhưng thành viên không được hưởng quy chế dành cho thành viên trong tổ chức có tư cách pháp nhân. Sự khó khăn này khiến cho các thành viên hợp danh buộc phải cân nhắc lại loại hình công ty và địa vị pháp lý của mình trong công ty để đảm bảo hiệu quả kinh doanh cao nhất. Thứ ba, về điều kiện trở thành thành viên hợp danh. Điểm b khoản 1 Điều 130 Luật Doanh nghiệp quy định thành viên hợp danh bắt buộc phải là cá nhân. Do đó pháp nhân không thể tham gia thành lập hoặc trở thành thành viên hợp danh của công ty này. Thành viên hợp danh theo pháp luật thương mại Pháp, Mỹ không hạn chế là cá nhân, mà còn bao gồm cả pháp nhân. Từ đó có thể hình thành mô hình kinh doanh kết hợp, cho phép tránh được trách nhiệm vô hạn của cá nhân thành viên mà vẫn có thể khai thác được những điểm mạnh của công ty hợp danh. Ví dụ: một công ty hợp danh có tất cả các thành viên hợp danh là pháp nhân song thực ra, việc điều hành công ty do các cá nhân là người đứng đầu pháp nhân thành viên thực hiện.

Vì thế mà mặc dù quy trình, thủ tục thành lập công ty hợp danh ở Pháp rất nghiêm ngặt, song công ty hợp danh vẫn chiếm một số lượng đáng kể trong nền kinh tế Pháp

Công ty hợp danh đã không còn mới mẻ và xa lạ gì đối với nhận thức chung của xã hội cũng như đối với giới kinh doanh nước ta. Tồn tại trên phương diện lý luận hơn chục năm, trên thực tiễn khoảng 6, 7 năm nhưng số lượng công ty hợp danh đang hoạt động vẫn không vượt quá con số 30.

Để công ty hợp danh thực sự trở thành mô hình kinh doanh phát huy vai trò và tác dụng đối với nền kinh tế cần phải có một nền tảng pháp lý ổn định và vững chắc. Việc tiếp tục sửa đổi bổ sung pháp luật liên quan đến công ty hợp danh để công ty hợp danh thực sự trở nên hấp dẫn trong mắt các nhà đầu tư, góp phần 17 đa dạng hóa các hình thức kinh tế, tạo lập được một cơ chế góp vốn linh hoạt mềm dẻo, qua đó góp phần thúc đẩy kinh tế – xã hội nói chung là việc làm hết sức cần thiết. Trên quan điểm đó, luận văn đã đi vào nghiên cứu đề tài này với các nhiệm vụ chủ yếu là phân tích về mặt lý luận các đặc điểm pháp lý chủ yếu của công ty hợp danh, từ đó nêu lên những mặt mạnh, ưu thế của loại hình doanh nghiệp này so với các loại hình doanh nghiệp khác.

Đồng thời trên cơ sở phân tích đánh giá thực trạng pháp luật cũng như thực tiễn hoạt động của loại hình doanh nghiệp này để chỉ ra những hạn chế, bất cập trong các quy định của pháp luật hiện hành, từ đó đề xuất một số giải pháp cụ thể cho việc hoàn thiện khung pháp lý về doanh nghiệp nói chung và công ty hợp danh nói riêng.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Giáo trình Luật thương mại Việt Nam, NXB Tư Pháp năm

2. Luật thương mại Việt Nam 2014

3. Luật Doanh nghiệp Việt Nam 2020

4. Luận văn ThS ngành: Luật Kinh tế; Mã số: 60 38 50 Nguyễn Thị Thùy Giang

Thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp tư nhân theo quy định của Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hà Nội

Nghiên cứu thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp tư nhân theo quy định của Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hà Nội.

Nghiên cứu thủ tục hành chính đăng ký thành nghiệp doanh nghiệp tư nhân dưới đây theo quy định của Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hà Nội  (Nguồn: Cồng thông tin điện tử của Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hà Nội: Thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp tư nhân

I. Trình tự thực hiện đăng ký thành lập doanh nghiệp tư nhân

Bước 1: Tiếp nhận hồ sơ:

– Công dân, tổ chức: nộp hồ sơ tại Bộ phận “một cửa” hoặc nộp hồ sơ trực tuyến qua mạng điện tử, nộp phí, lệ phí (nếu có) và nhận giấy biên nhận giải quyết hồ sơ.

– Phòng Đăng ký kinh doanh Sở KH&ĐT: tiếp nhận hồ sơ, trả giấy biên nhận cho công dân, tổ chức; Trường hợp nộp hồ sơ trực tuyến qua mạng điện tử Hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp Quốc gia tự động gửi giấy biên nhận cho công dân, tổ chức theo địa chỉ email đã đăng ký.

Bước 2: Giải quyết hồ sơ:

+ Phòng Đăng ký kinh doanh thụ lý hồ sơ, xin ý kiến của các cơ quan liên quan (nếu cần) trong quá trình giải quyết.

+ Hoàn tất kết quả giải quyết hồ sơ và chuyển cho Bộ phận một cửa phòng ĐKKD để trả cho công dân, doanh nghiệp.

Bước 3: Trả kết quả giải quyết hồ sơ:

+ Công dân nhận kết quả giải quyết hồ sơ tại bộ phận “một cửa” phòng ĐKKD hoặc qua đường bưu điện (nếu có đăng ký dịch vụ).

II. Cách thức thực hiện

– Nộp hồ sơ trực tiếp tại Bộ phận “một cửa” phòng ĐKKD của Sở KH&ĐT: Tầng 3, Nhà B10A – Khu đô thị Nam Trung Yên, phường Trung Hòa, quận Cầu Giấy, Hà Nội;

– Hoặc nộp hồ sơ trực tuyến qua mạng điện tử tại Cổng Thông tin Đăng ký doanh nghiệp Quốc gia theo địa chỉ: https://dangkykinhdoanh.gov.vn

III. Thành phần, số lượng hồ sơ

a) Thành phần hồ sơ, bao gồm:

1. Giấy đề nghị Đăng ký doanh nghiệp (đã ghép nội dung công bố thông tin);

2. Bản sao hợp lệ một trong các giấy tờ chứng thực cá nhân quy định tại Điều 10 Nghị định 78/2015/NĐ-CP của chủ sở hữu công ty;

3. Cam kết thực hiện Mục tiêu xã hội, môi trường (đối với DN xã hội);

4. Quyết định của cơ quan có thẩm quyền cho phép chuyển cơ sở bảo trợ xã hội, quỹ xã hội, quỹ từ thiện thành Doanh nghiệp xã hội. (đối với trường hợp chuyển cơ sở bảo trợ xã hội, quỹ xã hội, quỹ từ thiện thành Doanh nghiệp xã hội);

5. Trường hợp người có thẩm quyền ký văn bản đề nghị đăng ký doanh nghiệp ủy quyền cho tổ chức, cá nhân khác thực hiện thủ tục liên quan đến đăng ký doanh nghiệp thì người được ủy quyền phải nộp bản sao hợp lệ một trong các giấy tờ chứng thực cá nhân (1. Đối với công dân Việt Nam: Thẻ căn cước công dân hoặc Chứng minh nhân dân hoặc Hộ chiếu Việt Nam còn hiệu lực. 2. Đối với người nước ngoài: Hộ chiếu nước ngoài hoặc giấy tờ có giá trị thay thế hộ chiếu nước ngoài còn hiệu lực), kèm theo:

1. Bản sao hợp lệ hợp đồng cung cấp dịch vụ với tổ chức làm dịch vụ thực hiện thủ tục liên quan đến đăng ký doanh nghiệp và giấy giới thiệu của tổ chức đó cho cá nhân trực tiếp thực hiện thủ tục liên quan đến đăng ký doanh nghiệp; hoặc

2. Văn bản ủy quyền cho cá nhân thực hiện thủ tục liên quan đến đăng ký doanh nghiệp. Văn bản này không bắt buộc phải công chứng, chứng thực.

b) Số lượng hồ sơ: 01 (bộ)

IV. Mẫu đơn, mẫu tờ khai

1. Giấy đề nghị đăng ký doanh nghiệp (Phụ lục I-1, Thông tư số 02/2019/TT-BKHĐT ngày 08/01/2019 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư);

2. Cam kết thực hiện Mục tiêu xã hội, môi trường (theo Biểu mẫu 1, Thông tư số 04/2016/TT- BKHĐT ngày 17/05/2016 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư) ;

V. Thời hạn giải quyết

03 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ

VI. Đối tượng thực hiện TTHC

Tổ chức /cá nhân

VII. Cơ quan thực hiện TTHC

a) Cơ quan trực tiếp thực hiện TTHC và có thẩm quyền quyết định: Phòng Đăng ký kinh doanh thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội.

b) Cơ quan hoặc người có thẩm quyền được uỷ quyền hoặc phân cấp thực hiện (nếu có): /;’không

c) Cơ quan phối hợp (nếu có): Các cơ quan liên quan (các Bộ, các Sở, Ngành, UBND quận, huyện…).

VIII. Kết quả giải quyết TTHC

Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp tư nhân

IX. Phí, lệ phí

Lệ phí: 100.000 VNĐ (Miễn lệ phí đối với trường hợp Doanh nghiệp thực hiện đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử);

Phí công bố thông tin: Miễn phí

XI. Các yêu cầu khác trong giải quyết TTHC

Khi nhận kết quả giải quyết hồ sơ, người đến nhận phải mang các giấy tờ sau:

– Giấy biên nhận giải quyết hồ sơ.

– Trường hợp người có thẩm quyền ký văn bản đề nghị đăng ký doanh nghiệp ủy quyền cho tổ chức, cá nhân khác đến nhận kết quả giải quyết hồ sơ thì người được ủy quyền phải nộp bản sao hợp lệ một trong các giấy tờ chứng thực cá nhân (1. Đối với công dân Việt Nam: Thẻ căn cước công dân hoặc Chứng minh nhân dân hoặc Hộ chiếu Việt Nam còn hiệu lực. 2. Đối với người nước ngoài: Hộ chiếu nước ngoài hoặc giấy tờ có giá trị thay thế hộ chiếu nước ngoài còn hiệu lực.), kèm theo:

1. Bản sao hợp lệ hợp đồng cung cấp dịch vụ với tổ chức làm dịch vụ thực hiện thủ tục liên quan đến đăng ký doanh nghiệp và giấy giới thiệu của tổ chức đó cho cá nhân trực tiếp thực hiện thủ tục liên quan đến đăng ký doanh nghiệp; hoặc

2. Văn bản ủy quyền cho cá nhân thực hiện thủ tục liên quan đến đăng ký doanh nghiệp. Văn bản này không bắt buộc phải công chứng, chứng thực.

– Công dân, tổ chức có thể đăng ký để nhận kết quả giải quyết hồ sơ qua đường bưu điện.

XII. Căn cứ pháp lý liên quan của TTHC

1/ Các Luật:

– Luật Doanh nghiệp 2014;

– Luật Đầu tư năm 2014;

2/ Các văn bản của Chính phủ, các bộ, ngành Trung ương:

– Nghị định số 78/2015/NĐ-CP ngày 14/9/2015 về đăng ký doanh nghiệp; Nghị định số 108/2018/NĐ-CP ngày 23/8/2018 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 78/2015/NĐ-CP ngày 14/9/2015 về đăng ký doanh nghiệp;

– Nghị định 96/2015/NĐ-CP ngày 19/10/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Doanh nghiệp;

– Nghị định số 05/1999/NĐ-CP ngày 03/02/1999 về Chứng minh nhân dân; Nghị định số 170/2007/NĐ-CP ngày 19/11/2007 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 05/1999/NĐ-CP ngày 03 tháng 02 năm 1999 của Chính phủ về Chứng minh nhân dân. Nghị định 106/2013/NĐ-CP của Chính phủ ngày 17/9/2013 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 05/1999/NĐ-CP ngày 03/02/1999 của Chính phủ về Chứng minh nhân dân đã được sửa đổi, bổ sung bằng Nghị định 170/2007/NĐ-CP ngày 19/11/2007 của Chính phủ;

– Thông tư số 215/2016/TT-BTC ngày 10/11/2016 của Bộ Tài chính quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí cung cấp thông tin doanh nghiệp, lệ phí đăng ký doanh nghiệp; Thông tư số 130/2017/TT-BTC của Bộ Tài chính ngày 04/12/2017 sửa đổi bổ sung một số điều của Thông tư số 215/2016/TT-BTC;

– Thông tư số 20/2015 /TT-BKHĐT ngày 01/12/2015 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn về đăng ký doanh nghiệp.

– Thông tư số 04/2016/TT-BKHĐT ngày 17/05/2016 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư quy định các biểu mẫu văn bản sử dụng trong đăng ký doanh nghiệp xã hội theo Nghị định số 96/2015/NĐ-CP ngày 19 tháng 10 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Doanh

nghiệp;

– Quyết định số 27/2018/QĐ-TTg của Thủ Tướng Chính phủ ngày 06/07/2018 về việc ban hành Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam.

– Các văn bản pháp luật chuyên ngành có liên quan khác.

Phân tích thủ tục:

1. Phân tích biểu hiện của các nguyên tắc “khách quan, công bằng”, “công khai, minh bạch” và “đơn giản, tiết kiệm, nhanh chóng, kịp thời” trong nội dung của thủ tục hành chính nêu trên.

2. Phân tích vai trò của thủ tục hành chính trong việc bảo đảm quyền của các tổ chức, cá nhân trong quản lý hành chính nhà nước.

Nội dung:

1. Phân tích biểu hiện của các nguyên tắc “khách quan, công bằng”, “công khai, minh bạch” và “đơn giản, tiết kiệm, nhanh chóng, kịp thời” trong nội dung của thủ tục hành chính nêu trên.

    Việc quản lý nhà nước có 3 loại thủ tục: Thủ tục lập pháp; thủ tục tư pháp; thủ tục hành chính. Trong đó thủ tục hành chính là thủ tục phức tạp và liên quan đến nhiều loại chủ thể khác nhau, bao hàm nhiều yếu tố: các hoạt động cụ thể cần thực hiện; trình tự thực hiện các hoạt động đó; cách thức tiến hành, thời hạn tiến hành các hoạt động cụ thể.

Thủ tục hành chính có thể hiểu là cách thức tổ chức thực hiện hoạt động quản lý hành chính nhà nước theo đó chủ thể có thẩm quyền thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cá nhân, tổ chức thực hiện quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết các công việc của quản lý hành chính nhà nước.

* Một số đặc điểm của thủ tục hành chính:

+ Chủ thể là thủ tục hành chính là chủ thể thực hiện TTHC (nhân danh Nhà nước sử dụng quyền lực Nhà nước để tiến hành các thủ tục hành chính) và chủ thể tham gia TTHC (chủ thể phục tùng quyền lực Nhà nước).

1, Chủ thể thực hiện TTHC: cơ quan, cán bộ, công chức Nhà nước, tổ chức xã hội, cá nhân được Nhà nước ủy quyền.

2, Chủ thể tham gia TTHC: là cơ quan, cán bộ, công chức Nhà nước, cá nhân, tổ chức.

+ Thủ tục hành chính mang tính quy phạm nhưng cũng có tính linh hoạt, mềm dẻo trong tổ chức và thực hiện thủ tục hành hính.

+ Một thủ tục hành chính có: Trình tự thực hiện, cách thức thực hiện, thành phần số lượng hồ sơ, thời hạn thời hiệu và các biểu mẫu đi kèm.

* Phân loại thủ tục hành chính

– Theo mục đích của thủ tục: Thủ tục ban hành QPPL và thủ tục giải quyết các công việc cụ thể (cấp các loại giấy phép, giải quyết yêu cầu, đề nghị của cá nhân, tổ chức; thủ tục khiếu nại, tố cáo…).

– Theo tính chất công việc: Thủ tục hành chính nội bộ (thủ tục ban hành VBQPPL, thành lập, sáp nhập, giải thể, tuyển dụng, bổ nhiệm, kỉ luật….) và thủ tục hành chính liên hệ (thủ tục cấp giấy phép, khiếu nại, cưỡng chế hành chính..).

* Các nguyên tắc mà một thủ tục hành chính cần tuân theo quy định của Pháp luật:

1, Nguyên tắc Pháp chế.

2, Nguyên tắc khách quan, công bằng.

3, Nguyên tắc công khai, minh bạch.

4, Nguyên tắc đơn giản, tiết kiệm, nhanh chóng, kịp thời.

5, Nguyên tắc các bên tham gia đều bình đẳng trước Pháp luật.

Thủ tục hành chính trên là thủ tục hành chính liên hệ hay cũng là thủ tục hành chính giải quyết các công việc cụ thể về việc đăng ký thành lập doanh nghiệp tư nhân theo quy định của Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hà Nội. Chính vì vậy, thủ tục trên cũng phải tuân theo các nguyên tắc cơ bản của thủ tục hành chính.

Trong đó:

CÁC NGUYÊN TẮC XÂY DỰNG THỦ TỤC HÀNH CHÍNH:

1.1. Biểu hiện của nguyên tắc “Khách quan, công bằng”

   Tính công bằng, khách quan khi thực hiện thủ tục hành chính thể hiện ở việc cơ quan tiến hành thủ tục phải có đủ tài liệu, chứng cứ khi xem xét giải quyết công việc, đảm bảo thực hiện đúng các yêu cầu của thủ tục nhằm giải quyết một cách đúng đắn nhất các công việc của nhà nước, các kiến nghị, yêu cầu hợp pháp của công dân, tổ chức. Khi thực hiện thủ tục hành chính phải bảo đảm tính khách quan, không vì vụ lợi mà gây thiệt hại cho nhà nước, tập thể và cá nhân.

1.1.1. Việc quy định thủ tục hành chính xuất phát từ nhu cầu khách quan của hoạt động quản lý, phải hợp lý, thuận tiện cho việc thực hiện.

+ Trong thủ tục hành chính trên điều đó được thể hiện ở việc nhu cầu thành lập doanh nghiệp là nhu cầu hiện nay là vô cùng cần thiết của các cá nhân, tổ chức và việc kiểm soát hoạt động của các doanh nghiệp cũng rất khó khăn vì vậy thủ tục hành chính trên được ban hành nhằm quản lý hoạt động trên dễ dàng hơn. Việc ban hành thủ tục hành chính trên mang tính khách quan vì khi các doanh nghiệp được thành lập thì xã hội cũng đòi hỏi phải có một công cụ để điều chỉnh nó. Và công cụ đó chính là Pháp luật cụ thể là thủ tục hành chính: “Thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp tư nhân”.

+ Thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp của Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hà Nội các đầu mục được liệt kê rõ ràng về trình tự, thủ tục các loại giấy tờ cần thiết cho việc quản lý hoạt động trên. Thủ tục trên đưa ra các ý rõ ràng và hợp lý phù hợp với tình hình thực tế tại Hà Nội, thuận tiện cho cả hai chủ thể trong mối quan hệ Pháp luật này.

+ Trong khi xây dựng Thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp tư nhân, Sở KH&ĐT soạn thảo văn bản lấy ý kiến của đối tượng TTHC trên tác động giúp Sở có những thông tin cần thiết về đối tượng và nắm bắt được tình hình nhu cầu thực tế của chủ thể tham gia. Sở không được mô tẩ, bình luận sự việc theo quan điểm, nhận định chủ quan của bản thân chủ thể tổ chức lấy ý kiến.

1.1.2 Việc thực hiện thủ tục hành chính phải dựa trên cơ sở những căn cứ khách quan, không áp đặt vì lợi ích chủ quan của bất cứ đối tượng nào.

+ Việc ban hành thủ tục này đã căn cứ dựa trên rất nhiều nguồn pháp lý: Luật, Nghị định, Thông tư thông tư liên tịch, quyết định của UBND tỉnh..

+ Không chỉ dựa trên căn cứ pháp lí mà còn dựa cả vào tình hình thực tế từng địa phương. Hà Nội là 1 trong những thành phố trung tâm của Việt Nam cũng chính vì vậy các hoạt động trong lĩnh vực kinh tế diễn ra rất sôi nổi và cũng vì điều đó nên Nhà nước cần phải giám sát các hoạt động trên để các hoạt động đó không gây hại cho xã hội và hợp pháp.

+ Không một cá nhân nào hay tổ chức nào có quyền áp đặt để thực hiện lợi ích chủ quan của mình trong các TTHC.

1.1.3 Bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các đối tượng tham gia vào các thủ tục hành chính.

Bảng 1: Phân tích quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia trong TTHC.

NHÀ NƯỚCCÔNG DÂN, TỔ CHỨC
QuyềnNghĩa vụQuyềnNghĩa vụ
Cơ quan có thẩm quyền yêu cầu đủ hồ sơ, giấy tờ và thực hiện TTHC theo đúng trình tự đối với công dân, tổ chức.Phòng đăng ký kinh doanh Sở KH&ĐT có nghĩa vụ tiếp nhận hồ sơ, trả giấy biên nhan cho công dân, tổ chức; trường hợp nộp hồ sơ trực tuyến qua mạng điện tử Hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp Quốc gia thì sẽ tự động gửi lại giấy biên nhận cho công dân, tổ chức.  Công dân được  nhận kết quả giải quyết hồ sơ tại bộ phận “một cửa” phòng ĐKKD hoặc qua đường bưu điện (nếu có đăng ký dịch vụ).  Công dân, tổ chức thực hiện nộp hồ sơ tại Bộ phận “một cửa” hoặc nộp hồ sơ trực tuyến qua mạng điện tử, nộp phí, lệ phí (nếu có) và nhận giấy biên nhận giải quyết hồ sơ.  
Cơ quan trực tiếp thực hiện TTHC và có thẩm quyền quyết định cấp giấy phép thành lập Doanh nghiệp tư nhân: Phòng đăng ký kinh doanh thuộc Sở KH&ĐT Hà NộiPhòng Đăng ký kinh doanh thụ lý hồ sơ, xin ý kiến của các cơ quan liên quan (nếu cần) trong quá trình giải quyết. Hoàn tất kết quả giải quyết hồ sơ và chuyển cho Bộ phận một cửa phòng ĐKKD để trả cho công dân, doanh nghiệp.  Cá nhân, tổ chức có nghĩa vụ chuẩn bị đủ hồ sơ giấy tờ theo quy định Pháp luật và thực hiện đăng ký TTHC theo đúng trình tự quy định.   
 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ  03 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ   
 Cán bộ thu đúng, đủ lệ phí nộp vào ngân sách Nhà nướcLệ phí: 100.000 VNĐ (Miễn lệ phí đối với trường hợp Doanh nghiệp thực hiện đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử);   

 – Quyền của chủ thể bên này sẽ là nghĩa vụ của chủ thể bên kia. Bảng 1 đã thể hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của cơ quan có thẩm quyền và công dân, tổ chức đăng ký TTHC.

– Bất cứ chủ thể nào tham gia cũng phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình theo quy định của Pháp luật. Trong đó, chủ thể thực hiện TTHC giữ vai trò vô cùng quan trọng của mình trong việc thực hiện nghĩa vụ của mình với công dân, tổ chức.

– Nguyên tắc “Khách quan, công bằng” không chỉ được thể hiện chỉ ở TTHC trên mà nó còn được biểu hiện ở các TTHC khác. Trong đó những căn cứ pháp lý của Thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp tư nhân cũng có, biểu hiện ở:

+ Theo khoản 6 điều 5 nguyên tắc xây dựng, ban hành văn bản QPPL  của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015: “ Bảo đảm công khai, dân chủ trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong quá trình xây dựng và ban hành văn bản QPPL”.

+ Theo điều 5 của Luật doanh nghiệp 2014. Bảo đảm của Nhà nước đối với doanh nghiệp và chủ sở hữu doanh nghiệp

1. Nhà nước công nhận sự tồn tại lâu dài và phát triển của các loại hình doanh nghiệp được quy định tại Luật này; bảo đảm bình đẳng trước pháp luật của các doanh nghiệp không phân biệt hình thức sở hữu và thành phần kinh tế; thừa nhận tính sinh lợi hợp pháp của hoạt động kinh doanh.

2. Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền sở hữu tài sản, vốn đầu tư, thu nhập, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của doanh nghiệp và chủ sở hữu doanh nghiệp.

3. Tài sản và vốn đầu tư hợp pháp của doanh nghiệp và chủ sở hữu doanh nghiệp không bị quốc hữu hóa, không bị tịch thu bằng biện pháp hành chính.

  Trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh hoặc vì lợi ích quốc gia, tình trạng khẩn cấp, phòng, chống thiên tai, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản của doanh nghiệp; trường hợp trưng mua thì doanh nghiệp được thanh toán, trường hợp trưng dụng thì doanh nghiệp được bồi thường theo giá thị trường tại thời điểm trưng mua hoặc trưng dụng. Việc thanh toán hoặc bồi thường phải bảo đảm lợi ích của doanh nghiệp và không phân biệt đối xử giữa các loại hình doanh nghiệp.

1.2. Biểu hiện của nguyên tắc “Công khai, minh bạch”

   Thủ tục hành chính phải rõ ràng. Đây là một nguyên tắc quan trọng vì sự thiếu rõ ràng của hệ thống thủ tục hành chính trong việc giải quyết các nhu cầu, đề nghị của công dân, tổ chức gây nhiều khó khăn cho công dân, tổ chức khi đến cơ quan quản lý nhà nước để xin giải quyết một vấn đề nào đó. Sự không rõ ràng của thủ tục hành chính cũng nảy sinh tiêu cực trong thực hiện thủ tục hành chính. Bởi vì người dân không biết mình phải thực hiện những quy định gì, các quy định đó được giải quyết ở đâu?. Do sự không rõ ràng này mà trong quá trình tiến hành thẩm định các dự án, các nhà quản lý đã lợi dụng làm ăn không hợp pháp hoặc gây ra sự chậm trễ trong quá trình phê duyệt. Thủ tục hành chính rõ ràng đòi hỏi thủ tục hành chính phải được xây dựng một cách khoa học, hợp lý, dễ hiểu và dễ thực hiện.

1.2.1 Nhà nước tạo điều kiện cho những đối tượng thực hiện thủ tục đóng góp:

 – Theo khoản 6 điều 5 về nguyên tắc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật: “Bảo đảm công khai, dân chủ trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật”.

 – Theo khoản 2 điều 6 về tham gia góp ý kiến xây dựng văn bản Pháp luật: “Trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo và cơ quan, tổ chức có liên quan có trách nhiệm tạo điều kiện để các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia góp ý kiến về đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật; tổ chức lấy ý kiến của đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản quy phạm pháp luật”.

 Trên web của Sở KH&ĐT mục đầu tư xây dựng có nêu rõ: “Quyền của công dân, tổ chức, doanh nghiệp”:

1. Yêu cầu được giải quyết thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội.

2. Đóng góp ý kiến theo Mẫu Phiếu tiếp nhận các góp ý của công dân, tổ chức, doanh nghiệp gửi vào Hòm thư góp ý đặt tại Bộ phận tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính hoặc theo địa chỉ chính của cơ quan.

3. Thông báo qua đường dây nóng hoặc khiếu nại, tố cáo những hành vi tiêu cực hoặc gây phiền hà, nhũng nhiễu công dân, tổ chức của cán bộ, công chức Sở theo quy định giải quyết khiếu nại, tố cáo của Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội.

→ Các minh chứng trên có thể cho thấy rõ Nhà nước luôn tạo điều kiện đóng góp ý kiến về các văn bản Pháp luật cho công dân, tổ chức nhằm thể hiện tính công khai minh bạch trong các văn bản pháp lí.

1.2.2 Nội dung các thủ tục phải rõ ràng, dễ hiểu, dễ thực hiện:

+ Thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp tư nhân do Sở KH&ĐT ban hành gồm 12 phần, trong mỗi phần đã liệt kê đầy đủ những yêu cầu cũng như những quyền lợi mà chủ thể tham gia TTHC là những đối tượng có nhu cầu đăng ký thành lập doanh nghiệp tư nhân. Trong đó cũng đã chỉ rõ căn cứ pháp lý của văn bản này là gồm các luật, các nghị định, thông tư có phạm vi điều chỉnh rộng hơn văn bản này.

+ Tất cả hồ sơ, giấy tờ trong TTHC đều được lưu trữ lại để khi có vấn đề gì xảy ra sẽ có căn cứ pháp lí xác nhận bên đúng, bên sai thuận tiện cho việc tổ chức và quản lý của cơ quan có thẩm quyền.

1.2.3 Các TTHC phải được công bố cho người thực hiện TTHC biết để có thể thực hiện dễ dàng.

+ Công dân, tổ chức khi tham gia Thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp tư nhân sẽ được tiếp nhận hồ sơ thủ tục tạiPhòng Đăng ký kinh doanh Sở KH&ĐT: tiếp nhận hồ sơ, trả giấy biên nhận cho công dân, tổ chức; Trường hợp nộp hồ sơ trực tuyến qua mạng điện tử Hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp Quốc gia tự động gửi giấy biên nhận cho công dân, tổ chức theo địa chỉ email đã đăng ký.

+ Công dân được  nhận kết quả giải quyết hồ sơ tại bộ phận “một cửa” phòng ĐKKD hoặc qua đường bưu điện (nếu có đăng ký dịch vụ): Điều đó thể hiện rõ sự công khai trong quá trình thực hiện TTHC. Bộ phận một cửa, nơi tiếp đón mọi người dân không phân biệt cá nhân, tổ chức nào cả.

+ Thành phần hồ sơ, những giấy tờ cần thiết để thực hiện TTHC được công khai trên văn bản cũng như trên web điện tử của Sở KH&ĐT.

Xã hội ngày càng dân chủ, nhu cầu thu hút nhân dân vào việc quản lý Nhà nước ngày càng lớn thì yêu cầu về tính công khai, minh bạch của TTHC càng cấp thiết. Đặc biệt, trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng mở rộng thì tính công khai, minh bạch trở thành một yếu tố quyết định. Đây là một trong những nguyên tắc pháp lí được nêu trong các văn bản pháp luật và điều ước quốc tế mà Việt Nam thừa nhận.

1.3. Biểu hiện của nguyên tắc “Đơn giản, tiết kiệm, nhanh chóng, kịp thời”

  Nguyên tắc này có liên hệ mật thiết với nguyên tắc khách quan khi xây dựng các quy định về thủ tục hành chính

  Trong việc thực hiện thủ tục hành chính, nguyên tắc này đòi hỏi chủ thể thực hiện thủ tục hành chính phải có những biện pháp tổ chức thực hiện khoa học

– Theo Nghị quyết của CP số 38/CP/1994 yêu cầu “các quy định về TTHC phải đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện”.

– Theo khoản 1,2,3 điều 8 của Luật ban hành văn bản quy phạm Pháp luật:

1. Ngôn ngữ trong văn bản quy phạm pháp luật và tiếng Việt. Ngôn ngữ sử dụng trong văn bản quy phạm pháp luật phải chính xác, phổ thông, cách diễn đạt phải rõ ràng, dễ hiểu.

2. Văn bản quy phạm pháp luật phải quy định cụ thể nội dung cần điều chỉnh, không quy định chung chung, không quy định lại các nội dung đã được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật khác.

3. Tùy theo nội dung, văn bản quy phạm pháp luật có thể được bố cục theo phần, chương, mục, tiểu mục, điều, khoản, điểm; các phần, chương, mục, tiểu mục, điều trong văn bản quy phạm pháp luật phải có tiêu đề. Không quy định chương riêng về thanh tra, khiếu nại, tố cáo, khen thưởng, xử lý vi phạm trong văn bản quy phạm pháp luật nếu không có nội dung mới.

– Thủ tục hành chính trên quy định rất chi tiết và rõ ràng, từng khoản từng mục một và thời hạn giải quyết hồ sơ, hoàn tất thủ tục… Nội dung viết ngắn gọn, dễ hiểu, rõ ràng giúp người đọc có thể hiểu được và thực hiện đúng quy định.

→ Việc đơn giản hóa thủ tục hành chính và cải cách hành chính là vô cùng cần thiết như là khai báo trực tuyến điện tử  để tiết kiệm thời gian, chi phí, công sức đi lại cho các tổ chức, cá nhân khi thực hiện các thủ tục hành chính với các cơ quan hành chính. Tiết kiệm chi phí cho công tác nhân sự do thực hiện thủ tục hành chính, góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, làm cho dân giàu, nước mạnh, dân chủ công bằng, xã hội văn minh.

2. Phân tích vai trò của thủ tục hành chính trong việc bảo đảm quyền của các tổ chức, cá nhân trong quản lý hành chính nhà nước.

Quy định TTHC là một đảm bảo pháp lý cho việc thực hiện các quy định

– Một VBQPPL hành chính: + Quy định nội dung

                                              + Quy định thủ tục. Trong đó, quy định TTHC là một bộ phận quan trọng của quy phạm pháp luật hành chính, là phương tiện để đưa quy phạm nội dung của Luật Hành chính vào thực tế cuộc sống.

– Quy phạm nội dung là các nguyên tắc quản lý, thẩm quyền giải quyết của cơ quan quản lý hành chính Nhà nước, quyền và nghĩa vụ của các cá nhân, tổ chức.. và quy phạm thủ tục đưa các nguyên tắc đó ra thực hiện hành động cụ thể.

– Theo điều 21 Nghị định 63/2010/NĐ-CP quy định về kiểm soát TTHC

Điều 21. Quyền và nghĩa vụ của đối tượng thực hiện thủ tục hành chính

1. Thực hiện đầy đủ các quy định về thủ tục hành chính.

2. Từ chối thực hiện những yêu cầu không được quy định trong thủ tục hành chính hoặc chưa được công khai theo quy định.

3. Chịu trách nhiệm về tính hợp pháp, chính xác của các giấy tờ có trong hồ sơ và cung cấp đầy đủ thông tin có liên quan.

4. Không được cản trở hoạt động thực hiện thủ tục hành chính của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền.

5. Không hối lộ hoặc dùng các thủ đoạn khác để lừa dối cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong thực hiện thủ tục hành chính.

6. Giám sát việc thực hiện thủ tục hành chính; phản ánh, kiến nghị với cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền về những bất hợp lý của thủ tục hành chính và các hành vi vi phạm của cán bộ, công chức trong thực hiện thủ tục hành chính.

7. Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện các quyết định hành chính và hành vi hành chính theo quy định của pháp luật.

8. Trực tiếp hoặc ủy quyền cho người đại diện hợp pháp của mình tham gia thực hiện thủ tục hành chính theo quy định của pháp luật.

9. Thực hiện quy định khác của pháp luật.

   Từ những quy định trên có thể thấy vai trò của TTHC tới cá nhân, tổ chức là vô cùng quan trọng. Nó tác động trực tiếp tới quyền lợi và nghĩa vụ của công dân, pháp nhân:

2. VAI TRÒ CỦA TTHC TRONG VIỆC ĐẢM BẢO QUYỀN CỦA CÁC TỔ CHỨC, CÁ NHÂN TRONG QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC

2.1. TTHC là phương tiện cụ thể hóa một cách chính thống phần lớn các quyền, tự do của công dân vốn được ghi nhận trong Hiến pháp,

  Về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội…. Nhiều quyền cơ bản của công dân chỉ có thể được bảo đảm, bảo vệ khi được cụ thể hóa thông qua TTHC, nhờ có các quy phạm pháp luật TTHC mà các quy phạm Hiến pháp về Quyền công dân được thực hiện trên thực tế.

+ Theo điều 22 trong Hiến Pháp Việt Nam 2013:

1, Công dân có quyền có nơi ở hợp pháp.

2, Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở. Không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu không được người đó đồng ý.

3, Việc khám xét chỗ ở là do luật quy định.

+ Ta có dự thảo Luật cư trú năm 2020 quy định rất rõ ràng, cụ thể hóa về quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp. Song, đi cùng với quyền của mình, công dân cũng phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình với xã hội.

 Điều 4. Quyền tự do cư trú của công dân

1. Công dân có quyền tự do cư trú theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Công dân có đủ điều kiện đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú thì có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú. Công dân không có đủ điều kiện đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú thì thực hiện khai báo thông tin về nơi đang thực tế sinh sống để được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận.

2. Quyền tự do cư trú của công dân chỉ bị hạn chế theo quy định của luật.

2.2. TTHC nhằm giới hạn quyền lực của hệ thống hành chính nhà nước trong mối quan hệ với cá nhân, tổ chức của công dân.

  Trong bộ máy nhà nước, bộ máy hành chính nhà nước có đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức hành chính rất đông đảo, hoạt động của họ luôn gắn với công vụ, công chức nhà nước, luôn gắn với việc giải quyết các công việc của cá nhân, tổ chức và được bảo đảm bởi một bộ máy mang tính quyền lực nhà nước có tính cưỡng chế cao. Vì vậy, mọi hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước, của cán bộ, công chức, viên chức đều phải được giới hạn bởi các quy phạm pháp luật về TTHC, trước hết là TTHC để tránh sự tùy tiện trong việc giải quyết các công việc của cá nhân, tổ chức, đặc biệt là giới hạn việc sử dụng các biện pháp cưỡng chế hành chính.

     Trong Nghi định 63/2010/NĐ-CP quy định về kiểm soát TTHC:

   Điều 6. Các hành vi bị nghiêm cấm trong

1. Nghiêm cấm cán bộ, công chức được phân công thực hiện thủ tục hành chính thực hiện các hành vi sau đây:

a) Tiết lộ thông tin về hồ sơ tài liệu và các thông tin liên quan đến bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân của đối tượng thực hiện thủ tục hành chính mà mình biết được khi thực hiện thủ tục hành chính, trừ trường hợp được đối tượng thực hiện thủ tục hành chính đồng ý bằng văn bản hoặc pháp luật có quy định khác; sử dụng thông tin đó để xâm hại quyền, lợi ích hợp pháp của người khác;

b) Từ chối thực hiện, kéo dài thời gian thực hiện hoặc tự ý yêu cầu bổ sung thêm hồ sơ, giấy tờ ngoài quy định mà không nêu rõ lý do bằng văn bản;

c) Hách dịch, cửa quyền, sách nhiễu, gây phiền hà, gây khó khăn cho đối tượng thực hiện thủ tục hành chính; lợi dụng các quy định, các vướng mắc về thủ tục hành chính để trục lợi;

d) Nhận tiền hoặc quà biếu dưới bất cứ hình thức nào từ đối tượng thực hiện thủ tục hành chính khi tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính ngoài phí, lệ phí thực hiện thủ tục hành chính đã được quy định và công bố công khai;

đ) Đùn đẩy trách nhiệm, thiếu hợp tác, chậm trễ, gây cản trở trong thực hiện nhiệm vụ được giao.

2. Nghiêm cấm đối tượng thực hiện thủ tục hành chính cản trở hoạt động của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền; đưa hối lộ hoặc dùng các thủ đoạn khác để lừa dối cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong thực hiện thủ tục hành chính.

3. Nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi cản trở hoạt động kiểm soát thủ tục hành chính.

  Điều 20. Trách nhiệm của cán bộ, công chức được phân công thực hiện thủ tục hành chính

1. Thực hiện nghiêm túc, đầy đủ nhiệm vụ được giao trong quá trình thực hiện thủ tục hành chính.

2. Phải tạo thuận lợi cho đối tượng thực hiện thủ tục hành chính; có tác phong, thái độ lịch sự, nghiêm túc, khiêm tốn; ngôn ngữ giao tiếp phải chuẩn mực, rõ ràng, mạch lạc trong thực hiện thủ tục hành chính.

3. Tiếp nhận và giải quyết hồ sơ của cá nhân, tổ chức theo quy định.

4. Hướng dẫn tổ chức, cá nhân thực hiện trình tự, hồ sơ hành chính đầy đủ, rõ ràng, chính xác không để tổ chức, cá nhân phải đi lại bổ sung hồ sơ quá hai lần cho một vụ việc, trừ trường hợp tổ chức, cá nhân thực hiện không đúng theo hướng dẫn của cán bộ, công chức được phân công thực hiện thủ tục hành chính.

5. Chấp hành nghiêm túc các quy định của cấp có thẩm quyền về thủ tục hành chính đã được người đứng đầu Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương công bố.

6. Chủ động tham mưu, đề xuất, sáng kiến cải tiến việc thực hiện thủ tục hành chính; kịp thời phát hiện, kiến nghị với cơ quan, người có thẩm quyền để sửa đổi, bổ sung, thay đổi hoặc hủy bỏ, bãi bỏ các quy định về thủ tục hành chính không phù hợp, thiếu khả thi.

7. Phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan trong việc thực hiện thủ tục hành chính.

8. Thực hiện quy định khác của pháp luật.

– Trong Nghị Định 63/2010/NĐ-CP về kiểm soát thủ tục hành chính đã quy định rất rõ ràng quyền và nghĩa cụ của bên chủ thể thực hiện TTHC đó là: cán bộ, công chức, cơ quan Nhà nước phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình đối với công dân.

– Thực tế có thể thấy trong các TTHC ban hành văn bản QPPL đều quy định rất cụ thể quyền và nghĩa vụ của cán bộ, công chức, cơ quan có thẩm quyền về những vấn đề cụ thể.

– Sử dụng biện pháp cường chế hành chính luôn là biện pháp mà cơ quan Hành pháp sử dụng cuối cùng trong mọi trường hợp. Vì biện pháp này mang tính bạo lực rất cao, thể hiện sự áp đặt tuyệt đối của Nhà nước lên cá nhân, tổ chức. Mà Nhà nước ta luôn đề cao tính nhân đạo kể cả xử lý các trường hợp mang tính quy phạm. Chính vì vậy việc giới hạn biện pháp cưỡng chế hành chính trong TTHC được Nhà nước cực kỳ chú trọng.

2.3. TTHC là phương tiện để công dân có thể kiểm soát được các hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước (CQHCNN)

  Từ hoạt động điều hành hành chính đến hoạt động xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật; hoạt động tổ chức có tính nội bộ cơ quan HCNN đến hoạt động quản lý của các cơ quan hành chính trên mọi lĩnh vực, mọi mặt đời sống dân cư trên toàn lãnh thổ quốc gia… Kiểm soát hoạt động của hành chính nhà nước, một mặt để tăng cường pháp chế trong quản lý, mặt khác nhằm phòng ngừa, ngăn chặn những hành vi vi phạm của hệ thống hành chính tới Quyền công dân.

+ Trong điều 21 NĐ 63/2010/NĐ-CP đã nêu rõ:

6. Giám sát việc thực hiện thủ tục hành chính; phản ánh, kiến nghị với cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền về những bất hợp lý của thủ tục hành chính và các hành vi vi phạm của cán bộ, công chức trong thực hiện thủ tục hành chính.

7. Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện các quyết định hành chính và hành vi hành chính theo quy định của pháp luật.

→ Quyền của chủ thể bên này cũng là nghĩa vụ của chủ thể tham gia bên kia. Tức là công dân có quyền giám sát quá trình thực hiện TTHC của cán bộ, công chức, cơ quan. Nếu thấy có bất kỳ sai phạm nào về TTHC cũng như hành vi của chủ thể thực hiện TTHC thì công dân có quyền khiếu nại, tố cáo lên cơ quan có thẩm quyền để giải quyết.

2.4. TTHC là biện pháp pháp lý, các phương thức, cách thức khác nhau để bảo vệ các quyền công dân khi bị xâm hại trong hầu hết các lĩnh vực quan hệ xã hội.

  Trong thực tiễn tổ chức và hoạt động của Nhà nước và đời sống xã hội, quyền công dân có thể bị xâm hại từ phía các cơ quan quyền lực nhà nước, hay từ các chủ thể khác.

– Từ những phân tích trên có thể thấy rằng TTHC đóng một vai trò vô cùng quan trọng do TTHC liên quan trực tiếp tới việc thực hiện thẩm quyền của các chủ thể quản lý hành chính Nhà nước, tới việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức. Đây được coi là nhiệm vụ khó khăn, lâu dài và thường xuyên. Hiện nay, nhu cầu cải cách hành chính là cấp thiết vì TTHC vẫn còn rất nhiều bất cập như: mang đậm dấu ấn thời kì bao cấp, nặng về cơ chế “xin-cho”, rườm rà, phức tạp, nhiều cấp trung gian,….Những hạn chế này đã gây nhiều trở ngại cho việc thực hiện quản lý làm hạn chế quyền của công dân, tạo ra một nên hành chính mang tính quan liêu phong kiến trì trệ. Đặc biệt, TTHC là một trở ngại lớn đối với tình hình hoạt động giao lưu, hợp tác quốc tế, giảm khả năng thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài.

– Cải cách TTHC là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của cải cách TTHC nhằm tạo bước chuyển căn bản trong quan hệ và thủ tục giải quyết công việc giữa các cơ quan Nhà nước với nhau, giữa cơ quan Nhà nước với tổ chức xã hội và giữa cơ quan Nhà nước với công dân. Cải cách TTHC là một bộ phận của cải cách thể chế hành chính nhà nước, nhằm xây dựng và thực thi TTHC theo những chuẩn mực nhất định. CCTTHC thực chất là cải cách trình tự thực hiện thẩm quyền hành chính trong mối liên hệ tới quyền và nghĩa vụ của công dân, tổ chức và nội bộ cơ quan Nhà nước:

Một là, hoàn thiện nội dung và hình thức của TTHC bằng cách thực hiện rà soát, sửa đổi và thay thế những văn bản, quy phạm không còn phù hợp và cần phải pháp điển hóa, nâng cấp chất lượng ban hành văn bản quy phạm… Bên cạnh đó, phải thay đổi tư duy, quan điểm, nhận thức về Nhà nước, về hệ thống hành chính nhà nước. Cần nhận thức và sửa chữa, khắc phục những hạn chế trong quá trình xây dựng và ban hành các quy phạm pháp luật; thay đổi nhận thức, thái độ trong CCTTHC.

Hai là, cần có cách nhìn tổng quát, hệ thống về CCTTHC; giải quyết cái cốt lõi, cái gốc của vấn đề, đặc biệt là những quy định của hệ thống hành chính liên quan tới việc hạn chế các quyền của công dân, hay việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế hành chính trong quản lý.

Ba là, hoàn thiện pháp luật hành chính phải được tiến hành một cách đồng bộ cả pháp luật vật chất, pháp luật thủ tục, pháp luật tố tụng hành chính. Hoàn thiện TTHC với tư cách là phương tiện bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Phương tiện này cần được đặc biệt chú ý bởi nó liên quan đến đời sống hằng ngày cũng như chiếm khối lượng chủ yếu trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của công dân (như đăng ký kinh doanh, đóng thuế, tạm trú, xử phạt hành chính,…).

Nhiệm vụ cải cách nền hành chính đặt ra các yêu cầu bức xúc về cải cách mạnh mẽ hơn TTHC theo hướng xóa bỏ triệt để cơ chế “xin – cho”, đơn giản hóa các thủ tục. Cần thay đổi nhận thức về CCHC nhà nước từ cai trị chuyển sang Nhà nước phục vụ, xây dựng một Chính phủ kiến tạo. Trên cơ sở đó, Nhà nước cũng có những thay đổi về vai trò quản lý từ “người chèo thuyền” sang “ người lái thuyền” trong bối cảnh hội nhập của đất nước.

Bốn là, đổi mới nhận thức về mối quan hệ giữa CQHCNN và công dân. Các CQHCNN không nên quan niệm công dân chỉ là người thụ hưởng mà cần nhìn nhận đây là khách hàng. Tính chất phục vụ thể hiện trên nhiều hình thức khác nhau và phải thể hiện trong tư duy công dân là khách hàng của các CQHCNN. Từ đó, các CQHCNN phải thiết lập cơ cấu tổ chức hợp lý để hiểu khách hàng của mình hơn thông qua điều tra, nghiên cứu khách hàng, chăm sóc, theo dõi khách hàng, giải quyết các kiến nghị, yêu cầu khiếu nại. Xây dựng các khế ước cam kết về sự phục vụ của các CQHCNN đối với công dân.

Năm là, vai trò trách nhiệm giải trình của các CQHCNN trước Nhân dân cần được đề cao. Phải có những quy định được thể chế hóa, chế tài rõ ràng, cụ thể và nghiêm minh đối với những hành vi che giấu hoặc từ chối cung cấp thông tin hợp pháp của các cơ quan, của cán bộ, công chức nhà nước. Nhà nước cần tiếp tục bổ sung và bảo đảm thực hiện các quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của các cơ quan công quyền trong việc cung cấp thông tin. Phải làm rõ trách nhiệm cung cấp thông tin, trách nhiệm giám sát tuân thủ và các chế tài xử phạt trong trường hợp không cung cấp thông tin theo quy định của pháp luật./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Hiến pháp Việt Nam 2013

2. Nghị định 63/2010/NĐ-CP quy định về kiểm soát TTHC

3. Luật ban hành văn bản quy phạm Pháp luật năm 2015/QH13

4.Nghị định 45/2020/NĐ-CP quy định về thực hiện TTHC trên môi trường điện tử

5. Luật Doanh nghiệp 2014;

6. Luật Đầu tư năm 2014;

7.Nghị định số 78/2015/NĐ-CP ngày 14/9/2015 về đăng ký doanh nghiệp

8. Cổng thông tin điện tử của Sở kế hoạch & đầu từ thành phố Hà Nội.

Phân tích các căn cứ chấm dứt quyền sở hữu theo quy định của BLDS năm 2015 – Sưu tầm 01 bản án của Tòa án về vấn đề này và nêu quan điểm cá nhân về nội dung được giải quyết

Phân tích các căn cứ chấm dứt quyền sở hữu theo quy định của BLDS năm 2015 – Sưu tầm 01 bản án của Tòa án về vấn đề này và nêu quan điểm cá nhân về nội dung được giải quyết.

I. Cơ sở lý luận về quyền sở hữu

1.1 Khái niệm quyền sở hữu và các quan hệ pháp luật về sở hữu:

Khái niệm

Từ thời xa xưa, con người khi ý thức về xã hội, cộng đồng còn rất nhiều hạn chế thì đã biết chiếm giữ những thứ đem lại lợi ích cho bản thân mình như: thức ăn, nơi ở…

Sở hữu là gì?

Sở hữu là việc chiếm hữu những sản vật tự nhiên, những thành quả lao động (tư liệu sản xuất) của xã hội loài người [1]. Sở hữu cũng là một phạm trù kinh tế mang yếu tố khách quan và phát triển song song với sự xuất hiện và phát triển của xã hội loài người. Bởi con người muốn tồn tại phải thông qua các mối quan hệ xã hội. Trong quá trình chiếm hữu và tạo ra nhiều của cải vật chất thì các mối quan hệ sở hữu xuất hiện. Mối quan hệ này phản ảnh sự chiếm hữu giữa người với người, giữa người với vật..C.Mac đã chỉ ra rằng trong bất cứ hoạt động sản xuất nào thì việc con người chiếm hữu cũng xảy ra trong một hình thái kinh tế nhất định. Chính vì vậy, sở hữu là một phạm trù hình thái kinh tế [1].

Quyền sở hữu là gì?

Khi nhắc đến ‘quyền’ thì chúng ta có thể hiểu là những quyền lợi được Nhà nước ghi nhận và quy định. Trong xã hội, khi :

căn cứ chấm dứt quyền sở hữu theo BLDS 2015

Quan sát biểu đồ trên ta có thể hiểu là khi chế độ công hữu về sản xuất kết thúc, mở ra kỉ nguyên mới cho chế độ sản xuất tư hữu thì trong xã hội có sự phân chia giai cấp rõ dệt. Những người sở hữu của cải là người giàu trong xã hội bóc lột những người nghèo để nhằm gia tăng của cải của họ. Mâu thuẫn đạt đến đỉnh điểm và Nhà nước ra đời để điều hòa mâu thuẫn này phục vụ cho ý chí của giai cấp thống trị. Và một trong những điều cốt lõi của kinh tế-xã hội chính là sở hữu, Nhà nước phải đặt ra các quy định (quy phạm pháp luật) và một số quyền lợi cho nhân dân.

  Ta phải thừa nhận rằng : Quyền sở hữu là một phạm trù pháp lí phản ánh các quan hệ sở hữu trong một chế độ sở hữu nhất định, bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh những quan hệ sở hữu trong xã hội. Các quy phạm pháp luật về sở hữu các nhận, quy định và bảo về các quyền lợi của các chủ sở hữu trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản [1].

1.2 Các quan hệ pháp luật dân sự về sở hữu :

Cũng như mọi mối quan hệ pháp luật khác, quan hệ pháp luật dân sự về sở hữu bao gồm : Chủ thể, khách thể và nội dung.

1.2.1. Chủ thể của quan hệ sở hữu :

– Là những cá nhân, pháp nhân tham gia quan hệ pháp luật dân sự về sở hữu.

+ Đối với tài sản hữu hình : Chủ thể là  những người có trong tay tài sản.

+ Đối với tài sản vô hình : Chủ thể là những người được pháp luật dân sự công nhận.

1.2.2. Khách thể của quan hệ sở hữu

Khách thể của quan hệ sở hữu chính là tài sản. Theo điều 105 BLDS 2015[2] :

1. Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản.

2. Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai.

Khách thể của quan hệ sở hữu

Nguồn : Điều 107 BLDS 2015.

1.2.3. Nội dung quyền sở hữu

Theo điều 158 về quyền sở hữu của BLDS 2015 : Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của luật [3].

1.2.3.1 Quyền chiếm hữu

Theo điều 186. Quyền chiếm hữu của chủ sở hữu của BLDS 2015

  Chủ sở hữu được thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình để nắm giữ, chi phối tài sản của mình nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội. Quyền chiếm hữu của chủ sở hữu chỉ bị chấm dứt khi chủ sở hữu từ bỏ quyền sở hữu của mình hoặc chuyển giao quyền sở hữu của mình cho chủ thể khác[1].

– Căn cứ vào chủ thể chiếm hữu có thể chia làm 2 loại chiếm hữu: Chiếm hữu của chủ sở hữu và chiếm hữu không phải của chủ sở hữu.

– Căn cứ vào nhận thức của con người có thể chia thành 2 loại:

+ Chiếm hữu ngay tình: Chiếm hữu ngay tình là việc chiếm hữu mà người chiếm hữu có căn cứ để tin rằng mình có quyền đối với tài sản đang chiếm hữu (điều 180 BLDS 2015). Trong thực tế, chiếm hữu ngay tình thường có biểu hiện là không có căn cứ pháp lý và chủ thể chiếm hữu không biết hoặc không thể biết việc mình chiếm hữu tài sản là không có căn cứ pháp lý.

  → Chiếm hữu ngay tình sẽ xảy ra ở giao dịch thứ 2 vì khi đó chủ thể chiếm hữu mới khó có thể xác định được căn cứ pháp lý của tài sản và bản thân chủ thể chiếm hữu sẽ khó biết rằng tài sản của mình được chuyển giao thông qua giao dịch là hợp pháp hay không.

+ Chiếm hữu không ngay tình: Chiếm hữu không ngay tình là việc chiếm hữu mà người chiếm hữu biết hoặc phải biết rằng mình không có quyền đối với tài sản đang chiếm hữu ( điều 181 BLDS 2015).

– Ngoài ra còn chiếm hữu liên tục (điều 182 BLDS 2015) và chiếm hữu công khai (điều 183 BLDS 2015). Những tình trạng này căn cứ để suy đoán về tình trạng và quyền của người chiếm hữu được quy định tại điều 184 bộ luật này, cũng là căn cứ để xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu cho chủ thể chiếm hữu[1].

1.2.3.2 Quyền sử dụng:

  Quyền sử dụng là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản (khoản 1 điều 189 BLDS 2015).

  – Quyền sử dụng có thể được chuyển giao cho người khác theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật[2]. Có 2 hình thức để chuyển giao quyền sử dụng: Thứ nhất là chuyển giao quyền sử dụng cùng chuyển giao luôn quyền chiếm hữu bởi trước hết muốn sử dụng tài sản thì đầu tiên phải thực hiện hành vi chiếm hữu. Hai là chuyển giao quyền sử dụng nhưng không chuyển giao quyền chiếm hữu (vd: cho văn phòng thì chủ thể cho thuê đã chuyển giao quyền sử dụng văn phòng đó cho người thuê nhưng người chiếm hữu văn phòng đó vẫn là người chủ).

1.2.3.3 Quyền định đoạt

– Quyền định đoạt là quyền chuyển giao quyền sở hữu tài sản, từ bỏ quyền sở hữu, tiêu dùng hoặc tiêu hủy tài sản (điều 192 BLDS 2015).

– 2 hình thức biểu hiện của quyền định đoạt:

+ Thực hiện quyền quyết định số phận của tài sản đó: Số phận ở đây có nghĩa là  tiêu dùng hết, hủy bỏ hoặc từ bỏ quyền sở hữu đối với tài sản. Tức là chủ sở hữu bằng hành vi tác động trực tiếp đến tài sản.

+ Thực hiện quyền chuyển giao quyền định đoạt cho 1 chủ thể khác thông qua 1 quan hệ pháp luật dân sự. Muốn thông qua mối quan hệ pháp luật dân sự chủ thể phải có năng lực hành vi dân sự, nếu trong trường hợp chủ thể mất năng lực hành vi thì được ủy quyền cho 1 chủ thể khác theo luật định (điều 195 BLDS 2015).

– Trong 1 số trường hợp mà chủ sở hữu sẽ bị hạn chế về quyền định đoạt theo điều 196 của bộ luật này.

1.3 Hình thức sở hữu

Bảng phân tích hình thức sở hữu theo Bộ Luật Dân Sự Việt Nam 2015.

Đặc điểmSở hữu toàn dânSở hữu riêngSở hữu chung
Khái niệmQuyền sở hữu toàn dân là tổng hợp các quy phạm pháp luật về quan hệ sở hữu của toàn nhân mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữuQuyền sở hữu riêng là tổng hợp các quy phạm pháp luật về các quan hệ sở hữu của một cá nhân, pháp nhân.Quyền sở hữu chung là tổng hợp các quy phạm pháp luật về mối quan hệ sở hữu của nhiều chủ thể đối với tài sản.
Chủ thể sở hữuToàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý.Cá nhân, pháp nhânCá nhân, pháp nhân (đồng sở hữu).
Khách thểĐất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tưTài sản thuộc sở hữu cá nhân: tư liệu sản xuất hoặc tư liệu tiêu dùng1 tài sản hoặc một tập hợp tài sản không thể đem chia tách ra nếu không sẽ mất đi giá trị vốn có của tài sản đó.
Nội dung quyền sở hữuXác lập quyền sở hữu toàn dân tức là: Xác nhận việc chiếm hữu toàn dân đối với những TLSX trọng yếu, quy định nội dung và trình tự thực hiện quyền sở hữu toàn dân, xác định quyền hạn phạm vi của Nhà nước trong việc đại diện nhân dân thực hiện quyền sở hữu.Chủ sở hữu có quyền sở hữu đối với tài sản nhằm phục vụ nhu cầu của mình không trái pháp luật và việc sở hữu riêng không gây ảnh hưởng tới lợi ích quốc gia, cộng đồng (điều 2016 BLDS 2015).Việc định đoạt, sử dụng tài sản phải dựa trên thỏa thuận của 2 chủ thể đồng sở hữu khối tài sản đó (điều 216-218 BLDS 2015).

(Nguồn: Giáo trình LDS 1 và BLDS 2015).

II. Căn cứ chấm dứt quyền sở hữu theo quy định BLDS 2015 (điều 237-244 BLDS 2015)

  Theo nguyên tắc chung, căn cứ xác lập quyền sở hữu cũng đồng thời là căn cứ chấm dứt quyền sở hữu cũng có thể theo ý chí của chủ sở hữu hoặc do luật định[1].

2.1 Chấm dứt quyền sở hữu theo ý chí của chủ sở hữu

Theo điều 237 BLDS 2015

1. Chủ sở hữu chuyển quyền sở hữu của mình cho người khác.

Việc chấm dứt quyền sở hữu thông qua các hợp đồng chuyển giao hoặc thừa kế cũng giống như các lập quyền sở hữu đối với tài sản. Khi thông qua hợp đồng hoặc thừa kế, chủ sở hữu theo ý chí nguyện vọng của mình cuyển giao các quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt cho một chủ thể khác và quyền sở hữu của chủ thể cũ với tài sản chấm dứt từ thời điểm phát sinh quyền sở hữu với chủ thể được chuyển giao (điều 238 BLDS 2015).

2. Chủ sở hữu từ bỏ quyền sở hữu của mình (điều 239 BLDS 2015).

Theo ý chí của bản thân, chủ sở hữu cũng có thể từ bỏ quyền sở hữu của mình. Và trong một số tình huống hành vi đó phải được pháp luật quy định vì nó có thể để lại hậu quả ảnh hưởng tới cộng đồng, môi trường và xã hội.

3. Tài sản đã được tiêu dùng hoặc bị tiêu hủy (điều 242 BLDS 2015).

Khi tài sản đã được sử dụng hết (tức là tài sản đó không còn là tài sản nữa) thì chủ sở hữu cũng đã chấm dứt quyền sở hữu của mình theo ý chí bản thân đó là thực hiện hành vi tiêu dùng hoặc tự tiêu hủy.

2.2 Chấm dứt quyền sở hữu của chủ sở hữu theo pháp luật quy định

  Đó là việc mà khi việc chấm dứt quyền sở hữu không phụ thuộc vào ý chí của chủ sở hữu mà việc chấm dứt quyền này phải căn cứ theo luật định.

Theo điều 237 BLDS 2015

4. Tài sản bị xử lý để thực hiện nghĩa vụ của chủ sở hữu (điều 241 BLDS 2015).

  Quyền thì luôn đi cùng với nghĩa vụ và việc thực hiện nghĩa vụ cũng chính là cơ sở để công dân được thực hiện quyền của mình.

  Nghĩa vụ ở đây có thể hiểu theo 2 hướng:

– Nghĩa vụ bản thân chủ thể không gắn liền với tài sản: Khi chủ thể không thực hiện nghĩa vụ của bản thân với vai trò là công dân thì chủ thể theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền phải chịu trách nhiệm với hành vi của mình bằng việc bị cơ quan có thẩm quyền chấm dứt quyền sở hữu tài sản.

– Nghĩa vụ của chủ sở hữu đối với tài sản: Khi chủ sở hữu chỉ biết thực hiện quyền sở hữu của mình đối với tài sản mà không thực hiện nghĩa vụ của mình đối với tài sản thì cơ quan có thẩm quyền sẽ có thể chấm dứt quyền sở hữu của họ đối với tài sản đó.

5. Tài sản bị trưng mua.

Trong trường hợp tài sản được Nhà nước trưng mua:

+ Với bất động sản thì do quy hoạch

+ Với động sản thì do phục vụ mục đích phát triển đất nước thì chủ sở hữu phải chấm dứt quyền sở hữu của mình đối với tài sản được quy định tại điều 243 của bộ luật này.

Vd: Đất nhà ông A nằm trong dự án quy hoạch đường giao thông của tỉnh X. Cơ quan có thẩm quyền ra quyết định trưng mua đất nhà ông A theo thẩm định giá thị trường do luật định.

6. Tài sản bị tịch thu.

Là việc chủ sở hữu buộc phải chấm dứt quyền sở hữu của mình đối với tài sản do chủ sở hữu phạm tội. Tài sản đó sẽ được sung công quỹ theo quy định tại điều 244 BLDS 2015.

7. Tài sản đã được xác lập quyền sở hữu cho người khác theo quy định của Bộ luật này (điều 240 BLDS 2015).

Tài sản không xác định được chủ sở hữu; tài sản bị chôn, giấu, bị vùi lấp, chìm đắm được tìm thấy; tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên; gia súc, gia cầm bị thất lạc; vật nuôi dưới nước di chuyển tự nhiên đã được xác lập quyền sở hữu cho người khác theo quy định tại các điều từ Điều 228 đến Điều 233 của Bộ luật này thì quyền sở hữu của những người có tài sản đó chấm dứt[2].

Khi quyền sở hữu của người chiếm hữu, người được lợi về tài sản đã được xác lập theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này hoặc quy định khác của luật có liên quan thì chấm dứt quyền sở hữu của người có tài sản bị chiếm hữu[2].

8. Trường hợp khác do luật quy định.

III. Bản án tranh chấp về quyền sở hữu

3.1 Nội dung

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 51/2017/DS-ST NGÀY 18/08/2017 VỀ TRANH CHẤP QUYỀN SỞ HỮU

1. Nguyên đơn: Ông Lục Văn B, sinh năm 1960 (có mặt). Địa chỉ: Khóm A, thị trấn ĐD, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau.

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Kim M, sinh năm 1973 (có mặt). Địa chỉ: Khóm A, thị trấn ĐD, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Tại đơn khởi kiện ngày 03/5/2017, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn ông Lục Văn B trình bày:

Gia đình ông được cơ quan có thẩm quyền cấp phép xây dựng nhà ở vào năm 1999 và sử dụng ổn định cho đến nay. Giáp ranh hướng Nam có hộ kế cận là đất của ông Hứa Tấn C sang nhượng cho ông Võ Thành K. Năm 2001 ông K xây dựng nhà tiền chế để ở và thỏa thuận mượn bức tường nhà của ông để xây dựng nhà tiền chế. Năm 2015 ông K sang nhượng nhà đất lại cho gia đình bà Nguyễn Thị Kim M để kinh doanh lò bánh mì. Quá trình kinh doanh của gia đình bà M làm nóng bức tường, nóng gạch tại vị trí để vận hành lò bánh làm hư hỏng một phần tường và gạch nhà ông. Do đó nay ông khởi kiện yêu cầu hộ gia đình bà M ngưng sử dụng bức tường nhà của ông và yêu cầu gia đình bà M xây dựng bức tường riêng như đã cam kết tại buổi hòa giải tại UBND thị trấn ĐD.

* Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn bà Nguyễn Thị Kim M trình bày: Năm 2015 bà mua đất và nhà tiền chế của ông Võ Thành K. Khi mua nhà tiền chế thì có sử dụng chung bức tường nhà của ông B. Khi xảy ra tranh chấp gia đình bà đã tự tháo dỡ không còn sử dụng bức tường nhà của ông B. Ông B cho rằng khi vận hành lò bánh gây nóng nhà ông B là không đúng. Hơn nữa, quá trình kinh doanh không lấn ranh đất của ông B và việc bà xây dựng bức tường hay không là quyền của bà.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Ông B, bà M xác định bức tường trên được ông B xây dựng hợp pháp trên đất của ông B và thuộc quyền sở hữu của gia đình ông B. Do đó, ông B có quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt bức tường nhà của mình. Ông B cho rằng quá trình kinh doanh lò bánh mì gây nóng tường dẫn đến hư hỏng và gia đình bà M tự ý sử dụng bức tường trái với ý muốn của mình, nên có quyền yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu của mình. Hộ gia đình bà M có sử dụng bức tường nhà của ông B, nay ông B là chủ sở hữu không đồng ý cho gia đình bà M tiếp tục sử dụng bức tường của ông. Hội đồng xét xử tiến hành xem xét thực tế hiện trạng bức tường phía tiếp giáp đất của bà M thì đúng như bà M trình bày tại phiên tòa cho đến nay không xây dựng vách ngăn cách riêng. Ngoài ra, trước khi Tòa án đưa vụ án ra xét xử thì hộ gia đình bà M có sử dụng bức tường như nội dung biên bản thẩm định, việc sử dụng này là trái với ý muốn của chủ sở hữu.

Đối với yêu cầu khởi kiện của ông B yêu cầu gia đình bà M xây dựng bức tường riêng. Tuy nhiên, bà M xác định hiện chưa có điều kiện để xây dựng vách ngăn riêng và không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của ông B. Xét thấy, việc gia đình bà M có xây dựng vách ngăn riêng trên phần đất do mình làm chủ sở hữu hay không thì đây là quyền định đoạt của chủ sở hữu, ông B không phải chủ sở hữu nên không có quyền định đoạt thay cho chủ sở hữu. Do đó, yêu cầu này của ông B là không có căn cứ nên không được chấp nhận. Đối với việc ông B cho rằng hộ gia đình bà M vận hành lò bánh làm hư hỏng tường nhưng ông không khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại nên không đặt ra xem xét, giải  quyết. Nếu ông B xác định quá trình kinh doanh của gia đình bà M làm thiệt hại đến tài sản của ông B thì có quyền khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại bằng vụ kiện dân sự khác là có cơ sở.

QUYẾT ĐỊNH

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lục Văn B: Buộc bà Nguyễn Thị Kim M chấm dứt ngay các hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu bức tường nhà của ông Lục Văn B.

2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông B yêu cầu hộ gia đình bà Nguyễn Thị Kim M xây dựng bức tường sử dụng riêng.

7. Đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./. 

3.2 Quan điểm cá nhân và căn cứ pháp lí:

  Theo em, TA đã có những nhận định vô cùng rõ ràng lập luận sâu sắc về vụ việc ông B và bà M.

  Việc chấp nhận 1 phần yêu cầu khởi kiện của ông B về buộc bà M thôi sử dụng tường thuộc sở hữu của ông B là hoàn toàn có căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự, Quy định tại khoản 2 Điều 164 Bộ luật dân sự năm 2015, nên cần buộc hộ gia đình bà M chấm dứt ngay các hành vi sử dụng bức tường trái với ý muốn của ông B và bà N là đúng quy định pháp luật.

 TA không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông B yêu cầu bà M phải xây dựng tường riêng là hợp lí vì đó là quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạn của bà M với miếng đất đã mua lại của ông K theo quy định của BLDS 2015.

  Bản án trên là một bản án sơ thẩm có tình tiết liên quan về quyền sở hữu tài sản của 2 cá nhân đó là ông B, bà M. Việc tranh chấp quyền sở hữu là vụ việc xảy ra nhiều trong tình huống. Vì tài sản là thứ gắn liền với lợi ích của cá nhân, tổ chức chính vì vậy việc bảo về quyền sở hữu tài sản của mình là điều nên làm.

Khi xã hội ngày càng phát triển, các quan hệ dân sự và giao dịch dân sự ngày càng được mở rộng thì chế định về tài sản và quyền sở hữu lại là chế định cơ bản, quan trọng nhất trong Bộ luật Dân sự nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ sở hữu tài sản, bảo đảm trật tự trong giao dịch dân sự.

Trước yêu cầu thể chế hoá đầy đủ, đồng thời tăng cường các biện pháp để công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm tốt hơn quyền con người, quyền công dân trong các lĩnh vực của đời sống dân sự, cũng như các tư tưởng, nguyên tắc cơ bản của nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa về quyền sở hữu trong đó có quyền sở hữu về tài sản. Cùng với đó là biết bao nhiêu nhu cầu chính đáng được đặt ra. Thiết nghĩ rằng nhà làm luật cần phải dẹp bỏ các định kiến ý thức hệ viển vông, lắng nghe chân thành tiếng nói của xã hội, và đầu tư nhiều tâm huyết để xây dựng một bộ luật dân sự khoa học và chất lượng [6].

Trách nhiệm củа Nhà nước đối với quyền cоn người, quyền công dân trоng bối cảnh đại dịch Cоvid-19 ở Việt Nаm

Trách nhiệm củа Nhà nước đối với quyền cоn người, quyền công dân trоng bối cảnh đại dịch Cоvid-19 ở Việt Nаm

Bằng kiến thức môn học Luật Hiến pháp, аnh/chị hãy chо biết quаn điểm về trách nhiệm củа Nhà nước đối với quyền cоn người, quyền công dân trоng bối cảnh đại dịch Cоvid-19 ở Việt Nаm.

Quyền cоn người – “quyền củа cоn người” – “rights оf humаn persоn”  hình thành cùng với sự xuất hiện củа những nền văn minh cổ đại, quyền cоn người xuất phát từ các quyền thiêng liêng, tự nhiên, vốn có củа cоn người, không dо chủ thể nàо bаn phát. Quyền cоn người là khái niệm rộng hơn quyền công dân. Ví dụ, về tính chất, quyền cоn người không bị bó hẹp trоng mối quаn hệ giữа cá nhân với nhà nước như quyền công dân, mà thể hiện mối quаn hệ giữа cá nhân với tоàn thể cộng đồng nhân lоại, về phạm vi áp dụng, dо không bị giới hạn bởi chế định quốc tịch, nên chủ thể củа quyền cоn người là tất cả các thành viên củа “giа đình nhân lоại”, bất kể vị thế, hоа̀n cа̉nh, quốc tịch,…

Quyền cоn người được diễn đạt dưới nhiều giác độ khác nhаu, tùy thuộc vàо bối cảnh xã hội, văn hóа tín ngưỡng – tôn giáо; mục tiêu và định hướng củа mỗi thể chế chính trị, mỗi kiểu nhà nước, quаn điểm củа từng giаi cấp cầm quyền; hоàn cảnh và nhu cầu củа mỗi cá nhân và củа từng ngành khоа học như; triết học, chính trị học, luật học, xã hội học…

I. Quyền con người, quyền công dân theo Hiến pháp 2013

1.1. Khái niệm

Hiến pháp là một đạо luật cơ bản dо cơ quаn quyền lực nhà nước cơ bản nhất bаn hành, là một hệ thống cао nhất củа pháp luật quy định tổ chức nhà nước, cơ cấu, thẩm quyền các cơ quаn nhà nước trung ương và quyền cơ bản củа cоn người. Mọi cơ quаn và tổ chức phải có nghĩа vụ tuân thủ Hiến pháp.

– Từ Hiến Pháp năm 1946-1992 các bản Hiến Pháp cũng chỉ nói về “ Quyền và nghĩа vụ cơ bản củа công dân.

– Nhưng từ Hiếp Pháp 2013 đã trở thành “ Quyền cоn người, quyền và nghĩа vụ cơ bản củа công dân” và được chuyển lên chương 2 củа Hiến Pháp.

→ Có thể thấy được vấn đề quyền cоn người, quyền công dân được Nhà nước tа cũng như xã hội rất quаn tâm. Bởi thực chất mọi người sinh rа аi cũng đều có những quyền cơ bản cá nhân nhất như quyền tự dо, bình đẳng, công bằng…mà quyền đấy được gọi là quyền cоn người, quyền công dân.

1.2. Đặc Điểm

Hiến pháp năm 2013 tiếp tục khẳng định các quyền cơ bản, như quyền bầu cử và quyền ứng cử vàо Quốc hội, Hội đồng nhân dân; quyền tự dо ngôn luận, tự dо báо chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình, quyền và cơ hội bình đẳng giới…

Đồng thời, có nhiều bổ sung quаn trọng về quyền cоn người trоng Chương II như là một điểm nhấn và bước tiến đáng kể về tư duy nhà nước pháp quyền và thực hiện quyền cоn người ở Việt Nаm; làm rõ hơn quyền hưởng thụ các giá trị văn hóа, nghiên cứu và thụ hưởng các kết quả khоа học; quyền xác định dân tộc củа mình, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, tự dо lựа chọn ngôn ngữ giао tiếp; quyền được sống trоng môi trường trоng lành….

Điều 14 quy định: Ở nước Cộng hòа xã hội chủ nghĩа Việt Nаm, các quyền cоn người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóа, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảо vệ, bảо đảm theо Hiến pháp và pháp luật. Quyền cоn người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theо quy định củа luật trоng trường hợp cần thiết vì lý dо quốc phòng, аn ninh quốc giа, trật tự, аn tоàn xã hội, đạо đức xã hội, sức khỏe củа cộng đồng.

Hiến pháp còn khẳng định mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, không bị phân biệt đối xử trоng đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóа, xã hội; được nhà nước bảо hộ, không thể bị trục xuất, giао nộp chо nhà nước khác. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảо hộ về sức khоẻ, dаnh dự và nhân phẩm; không bị trа tấn, bạо lực, truy bức, nhục hình hаy bất kỳ hình thức đối xử nàо khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm dаnh dự, nhân phẩm. Không аi bị bắt nếu không có quyết định củа Tоà án nhân dân, quyết định hоặc phê chuẩn củа Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tаng. Việc bắt, giаm giữ người dо luật định.

Mọi người có quyền hiến mô, bộ phận cơ thể người và hiến xác theо quy định củа luật. Việc thử nghiệm y học, dược học, khоа học hаy bất kỳ hình thức thử nghiệm nàо khác trên cơ thể người phải có sự đồng ý củа người được thử nghiệm.

Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật giа đình; có quyền bảо vệ dаnh dự, uy tín củа mình. Mọi công dân có quyền có nơi ở hợp pháp, có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở và việc khám xét chỗ ở dо luật định; có quyền tự dо đi lại và cư trú ở trоng nước, có quyền rа nước ngоài và từ nước ngоài về nước theо quy định pháp luật; có quyền tự dо tín ngưỡng, tôn giáо; không аi được xâm phạm tự dо tín ngưỡng, tôn giáо hоặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáо để vi phạm pháp luật.

Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáо với cơ quаn, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật củа cơ quаn, tổ chức, cá nhân. Cơ quаn, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáо. Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất, tinh thần và phục hồi dаnh dự theо quy định củа pháp luật. Người bị buộc tội phải được Tòа án xét xử kịp thời trоng thời hạn luật định, công bằng, công khаi và được cоi là không có tội chо đến khi được chứng minh theо trình tự luật định và có bản án kết tội củа Tòа án đã có hiệu lực pháp luật. Người bị bắt, tạm giữ, tạm giаm, khởi tố, điều trа, truy tố, xét xử có quyền tự bàо chữа, nhờ luật sư hоặc người khác bàо chữа.

II. Quan điểm về Trách nhiệm củа Nhà nước đối với quyền cоn người, quyền công dân trоng bối cảnh đại dịch Cоvid-19 ở Việt Nаm

Dịch bệnh Cоvid xuất hiện vàо tháng 12/2019 chỉ xuất hiện chưа đầy một năm nhưng tốc độ lây nhiễm củа nó thì khiến cả thế giới chао đảо  

Trоng nửа năm đầu, có hàng triệu cа nhiễm và hàng trăm nghìn cа tử vоng. Nền kinh tế thế giới đã xây dựng hàng thế kỉ quа bị suy giảm nghiêm trọng, đời sống xã hội thì khó khăn. Hàng trăm nghìn người phải sống trоng cảnh thất nghiệp, quаn trọng là dịch bệnh này rất dễ gây ảnh hưởng đến tính mạng.

Mặc dù Việt Nаm đã có công tác rất tốt trоng việc phòng dịch từ Trung Quốc lаn sаng nhưng dо từ nhiều phíа mà cuối cùng dịch Cоvid cũng đã xuất hiện trоng nước:

+ Nhiều địа phương đã bị cách ly xã hội trоng đó có Hà Nội, Hồ Chí Minh, Đà Nẵng…

+ Một số cá nhân bị đem đi cách ly tại khu cách ly tập trung.

+ Người dân được Nhà nước khuyến cáо hạn chế đi lại và tiếp xúc nơi đông người.

+ Việc đeо thực hiện 5K tại thời điểm tâm dịch cũng bị bắt buộc.

* Trách nhiệm củа Nhà nước đối với quyền cоn người, quyền công dân trоng bối cảnh đại dịch Cоvid-19 ở Việt Nаm.

Đại dịch CОVID-19 ảnh hưởng rộng khắp thế giới nói chung và tới Việt Nаm nói riêng. Vì vậy, việc xác định rõ trách nhiệm củа nhà nước và bổn phận củа công dân trоng việc phòng, chống đại dịch này là hết sức cần thiết nhằm ngăn chặn, đẩy lùi đại dịch hiệu quả

Tạо khuôn khổ hành lаng pháp lý và thể chế đối phó với dịch bệnh, đồng thời nhấn mạnh bảо vệ quyền cоn người 

Để đối phó với dịch bệnh, Việt Nаm đã có khung pháp lý và thể chế đầy đủ, rõ ràng, minh bạch và hiệu quả. Về pháp lý, có thể khẳng định, sự chỉ đạо, lãnh đạо củа Đảng và Chính phủ đều dựа trên cơ sở đánh giá thực tiễn và pháp luật – trоng đó lấy tinh thần củа Hiến pháp 2013. Về thể chế, Bаn Chỉ đạо quốc giа được thành lập và được xem là cơ quаn chỉ đạо cао nhất chо chiến dịch phòng chống CОVID-19 với phương châm “4 tại chỗ” gồm chỉ đạо tại chỗ, lực lượng tại chỗ, phương tiện tại chỗ và hậu cần tại chỗ.

Nhà nước đã đưа rа nhiều văn bản cấp thiết đối với tình hình đồng thời bắt buộc thực hiện các quy định trоng các văn bản, chỉ thị củа Thủ tướng. Các văn bản này được xác định là văn bản quy phạm pháp luật, bắt buộc mọi người phải tuân theо, áp dụng trên phạm vi cả nước, người nàо vi phạm các quy định thì phải chịu chế tài theо quy định củа pháp luật. Bên cạnh đó, các cấp địа phương theо thẩm quyền củа mình cũng đưа rа những quyết định để người dân nghiêm chỉnh thực hiện .

Có thể thấy rằng, những khuôn khổ được đưа rа cùng với những hình thức xử lý vi phạm phù hợp với pháp luật và yêu cầu chống dịch đã tạо nên thói quen tốt chо người dân trоng nước để đối phó với tình hình dịch bệnh. Trên thực tế, việc thi hành củа người dân luôn được theо sát chặt chẽ, và đа số người dân luôn tuân thủ đúng quy định.

Đồng thời, với mục tiêu vì sức khỏe, tính mạng nhân dân, thực hiện trách nhiệm đảm quyền “quyền được sống” củа công dân Việt Nаm, Chính phủ đã bố trí nhiều chuyến bаy để đưа người Việt ở nước ngоài về Tổ quốc; người lао động, dоаnh nghiệp trоng nước được hỗ trợ giải quyết việc làm, cắt giảm chi phí, lệ phí… Nhiều biện pháp hỗ trợ được bаn hành và nhаnh chóng đi vàо cuộc sống, trоng đó có những sáng kiến hаy, cử chỉ đẹp như máy АTM phát gạо từ thiện dành chо người nghèо được đặt ở nhiều nơi thuận lợi chо người dân nghèо cần hỗ trợ.

Trоng Hiếp Pháp 2013 tại chương 2: Quyền cоn người, quyền và nghĩа vụ cơ bản củа công dân trоng điều đầu tiên đã nêu rõ:

1. Ở nước Cộng hòа Xã hội Chủ nghĩа Việt Nаm, các quyền cоn người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóа, xã hội được công nhân, tôn trọng, bảо vệ, bảо đảm theо Hiến pháp và phsp luật.

2. Quyền cоn người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theо quy định củа luật trоng trường hớp cần thiết vì lí dо quốc phòng, аn ninh quốc giа, trật tự аn tоàn xã hội, đạо đức xã hội, sức khỏe cộng đồng.

Trường hợp khẩn cấp như tình hình dịch bệnh Cоvid ảnh hưởng tới tоàn xã hội thì quyền cоn người, quyền công dân phải bị hạn chế một số quyền để phục vụ lợi ích chung, sức khỏe chung củа cả cộng đồng và tоàn xã hội. Nếu để mọi người được thực hiện quyền củа mình tự dо đi lại khi dịch bệnh có thể tiềm tàng ở bất cứ đâu, những phát ngôn gây hоаng mаng dư luận và đưа những thông tin sаi lệch tới người dân sẽ dẫn đến hậu quả vô cùng nghiêm trọng: lòng dân hоаng mаng,kinh tế suy giảm, y tế không đủ phục vụ nhu cầu người bệnh, giáо dục thì bị đình trệ, đời sống văn hóа củа người dân bị kìm hãm trоng một khоảng thời giаn chо đến khi dịch bệnh kết thúc và không аi biết được khi nàо dịch bệnh sẽ kết thúc. Chúng tа chỉ có thể phòng ngừа, Nhà nước chỉ có thể đưа rа những biện pháp mаng tính đảm bảо аn tоàn xã hội tốt nhất. Một trоng những biện pháp đó chính là nơi có tình hình dịch bệnh phức tạp, các cа nhiễm tăng mạnh thì nên được cách ly xã hội từ 15-30 ngày tùy theо điều kiện hоàn cảnh cụ thể.

Trоng lịch sử lập hiến củа Việt Nаm, quyền củа cоn người luôn được cụ thể hóа bằng những quyền cơ bản củа công dân (dо được ghi nhận trоng hiến pháp) và bао giờ cũng được xem là một chế định pháp luật rất quаn trọng – đây là một trоng những chế định thể hiện bản chất dân chủ, tiến bộ củа một nhà nước, thể hiện mối quаn hệ giữа Nhà nước với công dân cùng với các cá nhân trоng xã hội. Thông quа đó, có thể xác định được mức độ dân chủ củа một nhà nước, một xã hội.

Vì vậy, những nhà lập pháp Việt Nаm luôn hоàn thiện chế định pháp luật về quyền cơ bản củа công dân trоng đạо luật cơ bản củа Nhà nước là Hiến pháp và luôn gắn liền với nghĩа vụ củа công dân. Bởi xét chо cùng, Nhà nước được lập lên cũng để phục vụ nguyện vọng, ý chí củа giаi cấp cầm quyền và tоàn dân. Mọi người dân đều được đối xử “ Công bằng-bình đẳng” thì họ mới có thể yên tâm sản xuất từ đó chất lượng cuộc sống mọi người đi lên, xã hội mới có thể phát triển và ổn định.

TÀI LIỆU THАM KHẢО

1. Giáо trình Luật Hiến pháp năm 2019;

2. Hiến pháp nước Cộng hòа Xã hộ Chủ nghĩа Việt Nаm 2013;

3. Hiến pháp nước Cộng hòа Xã hộ Chủ nghĩа Việt Nаm 1992;

4. Hiến pháp nước Cộng hòа Xã hộ Chủ nghĩа Việt Nаm 1980;

5. https://pbgdpl.mоj.gоv.vn/qt/tintuc/Pаges/trао-dоi-kinh-nghiem.аspx?ItemID=112 trách nhiệm củа Nhà nước về quyền cоn người, quyền công dân trоng Đại dịch Cоvid;

Giải quyết tranh chấp về giao hàng theo Hợp đồng

Giải quyết tranh chấp về giao hàng theo Hợp đồng.

PHÁN QUYẾT

TRANH CHẤP VỀ GIAO HÀNG THEO HỢP ĐỒNG

Các bên:

– Nguyên đơn: Người bán – Công ty JICA (Việt Nam)

– Bị đơn: Người mua – Công ty POCA (Hoa Kỳ)

Tóm tắt vụ việc:

Ngày 29/12/2014, nguyên đơn ký Hợp đồng số 01/12/2014 JICA-POCA, sản xuất và bán một container túi nhựa, bao gồm 6 loại hàng hóa khác nhau cho bị đơn.

Ngày 02/02/2015, nguyên đơn gửi các túi mẫu rút từ lô hàng sản xuất theo hợp đồng cho bị đơn bằng EMS, nhưng phía bị đơn không có bất kỳ phản hồi nào.

Ngày 13/02/2015, tàu chở hàng do nguyên đơn thuê chở hàng tới cảng Los Angeles (Hoa Kỳ). Nhưng ngày 16/02/2015, bị đơn gửi email thông báo cho nguyên đơn từ chối nhận 2 trong số 6 loại túi là Túi mua hàng HDPE và Túi T-shirt HDPE với lí do màu in không giống với màu của mẫu túi mà bị đơn đã gửi; đồng thời yêu cầu nguyên đơn chuyển trả về Việt Nam đối với 2 loại hàng này và chuyển bộ chứng từ gốc để bị đơn đi nhận những loại hàng đạt yêu cầu còn lại.

Ngày 23/02/2015, nguyên đơn gửi email tới bị đơn khẳng định chất lượng giao hàng đúng theo hợp đồng và yêu cầu bị đơn nhận hàng và thanh toán theo thỏa thuận, nguyên đơn sẽ chuyển bộ chứng từ sau khi bị đơn thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thanh toán. Sau nhiều lần thương lượng không thành, ngày 02/03/2015, bị đơn tuyên bố hủy hợp đồng với lý do nguyên đơn giao hàng không đúng thỏa thuận và yêu cầu nguyên đơn hoàn trả các khoản tiền bị đơn đã thanh toán.

Ngày 05/03/2015, nguyên đơn khởi kiện ra trọng tài yêu cầu bị đơn:

– Thanh toán 100% giá trị lô hàng;

– Thanh toán toàn bộ chi phí lưu kho tại cảng Los Angeles.

1. Quan điểm của trọng tài về thẩm quyền và lựa chọn luật áp dụng để giải quyết vụ việc

1.1. Thẩm quyền giải quyết vụ việc của trọng tài

Căn cứ theo đơn khởi kiện của công ty JICA ngày 05/03/2015,  Điều 6 Hợp đồng số 01/12/2014 JICA-POCA và Điều 5 Quy tắc tố tụng trọng tài của Trung tâm trọng tài quốc tế V (tương tự Quy tắc tố tụng trọng tài của Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam có hiệu lực từ ngày 01/01/2012), Trung tâm trọng tài quốc tế V có thẩm quyền để giải quyết đơn khởi kiện của Công ty JICA.

1.2. Về việc lựa chọn luật áp dụng

Căn cứ khoản 2 Điều 22 Quy tắc tố tụng trọng tài của Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam[1], do giữa Công ty JICA và Công ty POCA không có thỏa thuận gì về việc lựa chọn luật áp dụng nên luật áp dụng để giải quyết vụ việc này do Hội đồng Trọng tài quyết định. Qua đó, Hội đồng Trọng tài lựa chọn Công ước Viên về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG) là luật áp dụng.

Lý do chọn CISG là luật áp dụng:

Trong vụ việc này, nguyên đơn và bị đơn dù có trụ sở ở quốc gia đã là thành viên hay chưa là thành viên của CISG đều có quyền lựa chọn CISG làm luật điều chỉnh khi xảy ra tranh chấp, các bên trong hợp đồng lựa chọn CISG là luật áp dụng cho hợp đồng của mình; hoặc cơ quan giải quyết tranh chấp lựa chọn CISG là luật áp dụng hay là nguồn luật bổ sung nhằm bù đắp những thiếu sót của luật quốc gia hay của tập quán thương mại quốc tế.

Hơn nữa, CISG chỉ điều chỉnh các hợp đồng mua bán mà đối tượng là hàng hóa chứ không điều chỉnh những hợp đồng mà đối tượng của hợp đồng là dịch vụ. Đồng thời CISG cũng không điều chỉnh những hợp đồng mua bán hàng hóa theo quy định tại Điều 2 CISG. Trong vụ việc này, đối tượng hợp đồng là túi, bao gồm 6 loại túi khác nhau đã liệt kê rõ trong Hợp đồng số 01/12/2014 JICA-POCA. Loại hàng hóa này không thuộc những hàng hóa quy định tại Điều 2 CISG.

2. Quan điểm của trọng tài giải quyết tranh chấp giữa hai bên

2.1. Về việc Công ty POCA không phản hồi khi Công ty JICA gửi túi mẫu vào ngày 02/02/2015

Trong tình huống có tình tiết “Ngày 02/02/2015, Công ty JICA đã gửi các túi mẫu rút từ lô hàng mà JICA sản xuất theo hợp đồng số 01/12/2014 JICA-POCA cho Công ty POCA bằng EMS và phía Công ty POCA không có bất kì phản hồi nào những mẫu túi này”. Như vậy, việc Công ty POCA không có bất kì phản hồi nào những mẫu túi này có thể tồn tại hai khả năng: một là, công ty đã nhận được nhưng không có bất kỳ phản hồi nào hoặc; hai là, vì một lý do nào đó mà phía công ty không nhận được nên không có bất cứ phản hồi nào.

Tuy nhiên, do Công ty JICA đã gửi hàng mẫu rút từ lô hàng mà JICA sản xuất theo hợp đồng số 01/12/2014 JICA-POCA cho Công ty POCA bằng EMS, và trong quá trình Hội đồng Trọng tài tìm hiểu về EMS thì: “EMS (express mail service) là loại dịch vụ nhận gửi, vận chuyển và phát các loại thư, tài liệu, vật phẩm hàng hoá (bưu gửi) theo chỉ tiêu thời gian được Tổng Công ty Bưu chính – Viễn thông Việt Nam công bố trước[2]”, và gói dịch vụ mà Công ty JICA sử dụng để chuyển phát lô hàng mẫu cho phía Công ty POCA là “Chuyển phát nhanh quốc tế”. Trong khi đó, chuyển phát nhanh luôn kèm với “chuyển phát đảm bảo”, nghĩa là nếu địa chỉ nhận không có gì trục trặc thì bưu phẩm phải đến nơi và có chữ ký, họ tên của người đã nhận hàng và thời gian nhận hàng[3]. Bên cạnh đó, dịch vụ EMS là một trong những dịch vụ bưu chính thuộc sự điều chỉnh của Công ước Bưu chính thế giới, mà tại Khoản 7 Điều 10 Chương 1 Phần thứ 2 Công ước này có quy định: “Theo quy định chung, các bưu kiện sẽ được phát tới người nhận với mức độ nhanh nhất có thể được và tuân thủ theo các quy định hiện hành của nước nhận. Khi bưu kiện không phát được đến địa chỉ người nhận, trừ trường hợp bất khả kháng, thì người nhận sẽ được thông báo ngay là bưu kiện đã tới”, và mức độ nhanh nhất có thể được xác định đối với Hoa Kỳ thuộc vùng 3 (zone 3) theo bảng giá dịch vụ hiện hành thì tối đa là 3-4 ngày[4], kể cả trong mọi trường hợp vì những lý do khác nhau cũng không quá 7-10 ngày[5]. Trong khi đó, suốt khoảng thời gian từ ngày 02/02/2015 từ khi bưu phẩm được Công ty JICA chuyển đi bằng EMS đến ngày 13/02/2015, Công ty POCA cũng không có bất kỳ phản hồi gì.

Do vậy, Hội đồng Trọng tài loại trừ trường hợp Công ty POCA không nhận được hàng mẫu do Công ty JICA gửi vào ngày 02/02/2015 qua EMS. Theo đó, việc “không có bất kỳ phản hồi nào về mẫu túi này” sẽ được hiểu là Công ty POCA đã nhận được bưu kiện hàng mẫu và đã biết về hàng không phù hợp vào lúc ký kết (theo như lý do mà Công ty POCA đưa ra) nhưng không có bất kỳ phản hồi nào. Do đó, chiếu theo quy định tại khoản 3 Điều 35 CISG[6], kể cả trong trường hợp Công ty JICA giao hàng không đúng hợp đồng thì Công ty JICA (người bán) cũng không phải chịu trách nhiệm về việc này.

2.2. Về quyền khiếu nại và tuyên bố hủy hợp đồng của Công ty POCA

Giả sử, việc Công ty JICA giao hàng không đúng hợp đồng là đúng như Công ty POCA đã đưa ra, căn cứ khoản 1 Điều 39 CISG[7], Công ty POCA bị mất quyền khiếu nại về việc hàng hóa không phù hợp với hợp đồng.

Như đã phân tích ở trên và lý do không nhận hai loại Túi mua hàng HDPE, mã sản phẩm JOIA và Túi T-shirt HDPE, mã sản phẩm General Discount mà Công ty POCA đưa ra trong email gửi cho công ty JICA ngày 16/02/2015 thì Công ty POCA phải biết về việc màu các túi mẫu do Công ty JICA gửi ngày 02/02/2015 là không giống với màu các túi mẫu mà Công ty POCA đã gửi cho Công ty JICA như một phần thỏa thuận không thể tách rời của hợp đồng. Tuy nhiên, Công ty POCA không có phản hồi nào về những túi mẫu này kể từ khi phát hiện ra sự không phù hợp đó. Mặt khác, ngày 13/02/2015, tàu chở hàng của công ty vận tải SIMA do Công ty POCA thuê vẫn sang Việt Nam và chở hàng về cảng Los Angeles (Hoa Kỳ).

Như vậy, theo khoản 1 Điều 39 CISG thì Công ty POCA bị mất quyền khiếu nại về việc hàng hóa không phù hợp với hợp đồng do đã không thông báo cho Công ty JICA trong một khoảng thời gian hợp lí và có thể thấy rằng, Công ty POCA đã chấp nhận mẫu túi do Công ty JICA gửi.

Từ những phân tích ở trên và căn cứ khoản 1 Điều 49 CISG[8], việc Công ty POCA tuyên bố hủy hợp đồng với lý do công ty JICA giao hàng không đúng thỏa thuận như trong hợp đồng là không có căn cứ. Công ty POCA (người mua) chỉ có thể tuyên bố hủy hợp đồng nếu thuộc các trường hợp mà điều luật này quy định. Ở đây, Công ty JICA đã làm theo đúng thỏa thuận như trong hợp đồng và không có hành vi nào thuộc một trong các trường hợp đã nêu trong điều luật.

2.3. Về chi phí lưu kho

Theo Điều 1 Hợp đồng số 01/12/2014 JICA-POCA, Công ty JICA và Công ty POCA đã thống nhất sử dụng giá FOB tại cảng Hải Phòng, Việt Nam. Mà giá FOB là một thuật ngữ viết tắt trong tiếng Anh của cụm từ Free On Board, nghĩa là Miễn trách nhiệm trên boong tàu nơi đi còn gọi là “Giao lên tàu”[9]. Các khoản chi phí khác như cước vận tải, phí bảo hiểm thuộc về trách nhiệm của bên mua hàng. Như vậy, kể từ khi hàng hóa chuyển lên tàu vận tải của công ty SIMA do Công ty POCA thuê tại cảng Hải Phòng, trách nhiệm về chi phí phát sinh từ hàng hóa không còn thuộc về Công ty JICA mà chuyển sang cho Công ty POCA, mặc dù lúc này Công ty JICA vẫn là chủ sở hữu đối với lô hàng hóa đó (do chưa chuyển giao chứng từ gốc đối với lô hàng).

Tuy nhiên, tại cảng Los Angeles (Hoa Kỳ), Công ty POCA đã không nhận hai loại túi hàng như đã nói trên. Do trong tình huống đưa ra, một trong những yêu cầu Công ty POCA gửi qua email cho Công ty JICA ngày 16/02/2015 là “chuyển bộ chứng từ gốc để POCA đi nhận những loại hàng đạt yêu cầu còn lại” và trong email Công ty JICA gửi lại cho Công ty POCA ngày 23/02/2015, Công ty JICA yêu cầu Công ty POCA nhận hàng và thanh toán theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng, Công ty JICA chỉ chuyển bộ chứng từ để Công ty POCA đi nhận hàng nếu Công ty POCA thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thanh toán. Do vậy, có thể hiểu rằng, Công ty POCA chưa nhận bất cứ loại hàng nào từ Công ty JICA theo hợp đồng và công ty JICA đã lưu kho toàn bộ hàng hóa tại cảng Los Angeles với chi phí 175 đô la Mỹ/ngày. Việc lưu kho này là đúng trách nhiệm bảo quản hàng hóa của Công ty JICA (toàn bộ hàng hóa vẫn thuộc quyền định đoạt của người bán là Công ty JICA), phù hợp với quy định tại Điều 85 CISG[10]. Do vậy, Công ty JICA yêu cầu Công ty POCA thanh toán toàn bộ chi phí lưu kho tại cảng Los Angeles là hợp lý.

2.4. Phán quyết của Hội đồng Trọng tài

Trên cơ sở Công ước Viên năm 1980 về Hợp đồng mua bán hàng hòa quốc tế (CISG), các quy định, tài liệu khác có liên quan và những phân tích trên, Hội đồng Trọng tài đưa ra phán quyết như sau:

  • Công ty POCA không có phản hồi khi Công ty JICA gửi hàng mẫu rút từ lô hàng mà Công ty JICA sản xuất theo Hợp đồng số 01/12/2014 JICA-POCA cho Công ty POCA ngày 02/02/2015 được hiểu là Công ty POCA đã chấp nhận mẫu hàng này.
  • Lý do Công ty JICA giao hàng không đúng thỏa thuận như hợp đồng mà Công ty POCA đưa ra là không có căn cứ đúng đắn. Công ty POCA không có quyền khiếu nại và tuyên bố hủy hợp đồng về việc hàng hóa không phù hợp với hợp đồng.
  • Công ty POCA phải thanh toán 100% giá trị hàng hóa và chi phí lưu kho tại cảng Los Angeles với chi phí 175 đô la Mỹ/ngày cho Công ty JICA.

Việc giải quyết vụ việc của nhóm hoàn toàn dựa trên các quy định của pháp luật và các thông tin tìm hiểu được. Với vai trò là trọng tài, phán quyết cuối cùng sẽ được đưa ra sau khi nguyên đơn và bị đơn trình bày.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Công ước Viên năm 1980 về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG);
  2. Công ước Bưu chính thế giới;
  3. Quy tắc tố tụng trọng tài của Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam;
  4. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật thương mại quốc tế, Nxb.CAND, Hà Nội – 2015;
  5. http://ems.com.vn/products/119-ems-quc-t.aspx

[1] Khoản 2 Điều 22 Quy tắc tố tụng trọng tài của Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam: “Đối với vụ tranh chấp có yếu tố nước ngoài, Hội đồng Trọng tài áp dụng pháp luật do các bên thỏa thuận, trong trường hợp các bên không có thỏa thuận về pháp luật áp dụng thì Hội đồng Trọng tài quyết định áp dụng pháp luật mà Hội đồng Trọng tài cho là phù hợp nhất.”

[2]https://vi.wikipedia.org/wiki/EMS#Tham_kh.E1.BA.A3o

[3]http://chuyenphatnhanhquocte.biz/

[4]http://chuyenphatnhanhquocte.biz/

[5]http://ems.com.vn/products/119-ems-quc-t.aspx

[6]Khoản 3 Điều 35 CISG: “Người bán không chịu trách nhiệm về việc giao hàng không đúng hợp đồng như đã nêu trong các điểm từ a đến d của khoản trên nếu như người mua đã biết hoặc không thể không biết về việc hàng không phù hợp vào lúc ký kết hợp đồng”

[7] Khoản 1 Điều 39 CISG: “Người mua bị mất quyền khiếu nại về việc hàng hóa không phù hợp hợp đồng nếu người mua không thông báo cho người bán những tin tức về việc không phù hợp đó trong một thời hạn hợp lý kể từ lúc người mua đã phát hiện ra sự không phù hợp đó”

[8] Khoản 1 Điều 49 CISG: “Người mua có thể tuyên bố hủy hợp đồng: a. Nếu việc người bán không thực hiện một nghĩa vụ nào đó của họ phát sinh từ hợp đồng hay từ Công ước này cấu thành một vi phạm chủ yếu đến hợp đồng, hoặc; b. Trong trường hợp không giao hàng: Nếu người bán không giao hàng trong thời gian đã được người mua gia hạn thêm cho họ chiếu theo khoản 1 điều 47 hoặc nếu người bán tuyên bố sẽ không giao hàng trong thời gian được gia hạn này”

[9] https://vi.wikipedia.org/wiki/FOB_(Incoterm)

[10]Ðiều 85CISG: “Khi người mua chậm trễ nhận hàng hay không trả tiền, hoặc trong những trường hợp khi việc trả tiền và việc giao hàng phải được tiến hành cùng một lúc, nếu hàng hóa còn ở dưới quyền định đoạt hay kiểm soát của người bán thì người bán phải thực hiện những biện pháp hợp lý trong những tình huống như vậy để bảo quản hàng hóa. Người bán có quyền giữ lại hàng hóa cho tới khi nào người mua hoàn trả cho họ các chi phí hợp lý.”

Bán phá giá – Vận dụng các quy định và thực tiễn giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ WTO

Bán phá giá – Vận dụng các quy định và thực tiễn giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ WTO.

Bán phá giá hàng xuất khẩu là hiện tượng gắn liền với kỷ nguyên công nghiệp hóa diễn ra ở châu Âu ngay từ thế kỷ 17 và sau đó nhanh chóng trở thành một hiện tượng phổ biến của thế giới. Ngay từ khi xuất hiện, hiện tượng này đã được xem như là mối đe dọa đối với nền kinh tế của nước nhập khẩu. Do vậy, em chọn đề bài số 8 để làm bài tập học kỳ của mình: “Vận dụng các quy định và thực tiễn giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ WTO để phân tích những vấn đề pháp lý sau đây:

  • Khái niệm một sản phẩm bị coi là bán phá giá
  •  Các điều kiện và thủ tục để áp dụng thuế chống bán phá giá

1. Khái niệm một sản phẩm bị coi là bán phá giá

Trước hết, hiểu thế nào là bán phá giá (BPG)? Theo TS.Vũ Thị Phương Lan, “bán phá giá trong thương mại quốc tế là hiện tượng xảy ra khi một hàng hóa được bán ở thị trường nước nhập khẩu với mức giá thấp hơn mức giá bán của hàng hóa đó ở thị trường nước xuất khẩu”[1].

Hiệp định Marakesh thành lập WTO (The World Trade Organization – WTO) với phần Phụ lục bao gồm các Hiệp định thương mại đa biên trong khuôn khổ WTO, trong đó có Hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch (GATT 1994) và Hiệp định về việc thực thi Điều VI của GATT 1994 (thường được gọi là Hiệp định về chống BPG 1994 hay ADA 1994). Khái niệm BPG được thể hiện rõ nét tại khoản 1 Điều VI GATT 1994: “Các bên ký kết công nhận rằng BPG, theo đó hàng hóa của một nước được đưa vào kinh doanh thương mại ở một nước khác với giá trị thấp hơn giá trị thông thường của hàng hóa đó, phải bị lên án nếu như nó gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại lớn đối với một ngành công nghiệp đã được thiết lập trên lãnh thổ của một nước ký kết hoặc cản trở nghiêm trọng việc thiết lập một ngành sản xuất nội địa”. Hay tại khoản 2.1 Điều 2 ADA 1994 quy định: “Trong phạm vi Hiệp định này, một hàng hóa được coi là BPG (tức là được đưa vào lưu thông thương mại ở một nước khác với giá thấp hơn giá trị thông thường của hàng hóa đó) nếu như giá xuất khẩu của hàng hóa được xuất khẩu từ một nước này sang một nước khác thấp hơn mức giá có thể so sánh được của hàng hóa tương tự được tiêu dùng tại nước xuất khẩu theo các điều kiện thương mại thông thường”.

Như vậy, hiểu theo một cách đơn giản là nếu giá xuất khẩu của một mặt hàng thấp hơn giá nội địa (giá thông thường) của nó thì sản phẩm đó được coi là BPG tại thị trường nước nhập khẩu sản phẩm đó. Ví dụ: Một người sản xuất tivi lâu năm bán một mặt hàng tivi với giá 300USD/chiếc, nếu người đó xuất khẩu tivi cùng loại tới nước khác và bán với giá 230USD/chiếc thì người đó đã thực hiện hành động BPG, hay xảy ra hiện tượng BPG đối với loại tivi đó xuất khẩu sang nước khác.

Trong đó, giá trị thông thường của hàng hóa được xác định là giá của hàng hóa trong điều kiện thương mại thông thường khi đưa ra tiêu thụ tại thị trường. ADA 1994 không đưa ra định nghĩa về điều kiện thương mại thông thường nhưng có nêu trong một trường hợp có thể coi là không được bán trong điều kiện thương mại thông thường. Đó là khi sản phẩm được bán tại thị trường nước nội địa của nước xuất khẩu hoặc bán sang một nước thứ ba với giá thấp hơn giá sản xuất theo đơn vị sản phẩm (Điều 2.2.1 ADA 1994). Còn giá xuất khẩu là giá giao dịch sản phẩm mà người bán ở nước xuất khẩu bán hàng cho nhà nhập khẩu ở nước nhập khẩu.

BPG hàng hóa không đồng nghĩa với hàng hóa bán rẻ. Một nước có thể xuất khẩu hàng hóa sang nước khác, bán với giá rẻ hơn hàng hóa cùng loại đang bán trên thị trường nước nhập khẩu, nếu giá bán không thấp hơn giá bán của hàng hóa đó trên thị trường nước xuất khẩu thì hành động đó không phải là BPG.

2. Các điều kiện và thủ tục áp dụng thuế chống bán phá giá

Thực tiễn chống Bán phá giá (BPG) trong thương mại quốc tế cho thấy, trong số các biện pháp chống BPG, thuế chống BPG, hay còn gọi là thuế chống BPG chính thức là biện pháp được áp dụng phổ biến nhất. Về bản chất, đây là khoản thuế bổ sung (ngoài khoản thuế nhập khẩu thông thường) đánh vào sản phẩm nước ngoài nhập khẩu là đối tượng của quyết định áp dụng biện pháp chống BPG. Trong khi đó, biện pháp tạm thời chưa phải là một biện pháp chống BPG chính thức và cam kết về giá chỉ được áp dụng trong một tỷ lệ rất nhỏ các vụ kiện chống BPG. Thuế chống BPG là biện pháp cuối cùng và có hiệu lực ngay kể từ khi được ban hành.

2.1. Điều kiện áp dụng thuế chống bán phá giá

Không phải cứ có hiện tượng hàng hóa nước ngoài BPG là nước nhập khẩu có thể áp dụng các biện pháp chống BPG đối với hàng hóa đó. Theo quy định của WTO thì việc áp dụng thuế chống BPG chỉ được thực hiện nếu cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu, sau khi đã tiến hành điều tra chống BPG, ra kết luận khẳng định sự tồn tại đồng thời của cả 3 điều kiện sau:

+ Hàng hóa nhập khẩu bị BPG (với biên độ phá giá không thấp hơn 2%);

+ Ngành sản xuất sản phẩm tương tự của nước nhập khẩu bị thiệt hại đáng kể hoặc bị đe dọa thiệt hại đáng kể hoặc ngăn cản đáng kể sự hình thành của ngành sản xuất trong nước (gọi chung là yếu tố thiệt hại);

+ Có mối quan hệ nhân quả giữa việc hàng nhập khẩu BPG và thiệt hại nói trên.

Ngành sản xuất sản phẩm tương tự của nước nhập khẩu có thể bao gồm các doanh nghiệp có khả năng sản xuất ra các sản phẩm tương tự hoặc chỉ bao gồm các doanh nghiệp chiếm đa phần trên thị trường sản xuất sản phẩm tương tự ở nước nhập khẩu.

Thông thường có ba loại thiệt hại được nhắc đến có khả năng dẫn đến việc bị áp thuế chống BPG: (i) Đã có thiệt hại vật chất xảy ra với ngành công nghiệp liên quan; (ii) Có mối đe dọa gây thiệt hại vật chất với ngành công nghiệp liên quan; (iii) Có sự phá hủy vật chất với ngành công nghiệp liên quan. Tuy không có một tiêu chuẩn cụ thể nào để xác định mức độ thiệt hại nhưng theo các quy định của WTO cũng nhấn mạnh việc xác định thực tế chứ không phải là sự quy kết, suy đoán hoặc khả năng xa.

Nếu có thiệt hại vật chất cho ngành công nghiệp liên quan nhưng không phải do tác động của BPG mà do nhu cầu, thị hiếu hay hoàn cảnh quốc tế chi phối thì không thể áp thuế chống BPG với hàng hóa của nước xuất khẩu đang bị điều tra được. Để xác định được có mối quan hệ nhân quả giữa việc BPG và thiệt hại vật chất cho ngành công nghiệp liên quan, cơ quan điều tra phải xem xét các chứng cứ liên quan. Hiện nay, việc thu thập chứng cứ và xem xét chứng cứ vẫn do các quốc gia tự mình thực hiện theo các phương thức khác nhau nên không tránh được việc cảm tính, chung chung, gây thiệt hại cho các quốc gia bị điều tra phá giá.

Cuộc điều tra phá giá sẽ bị chấm dứt ngay lập tức nếu cơ quan điều tra xác định rằng: (i) Biên độ phá giá nhỏ hơn 2% giá xuất khẩu hoặc (ii) Số lượng nhập khẩu hàng bị nghi ngờ BPG từ một nước nhỏ hơn 3% tổng nhập khẩu sản phẩm tương tự ở nước nhập khẩu, trừ trường hợp từng nước xuất khẩu có lượng hàng nhập khẩu dưới 3% nhưng lượng hàng nhập khẩu của tất cả các nước xuất khẩu chiếm trên 7% tổng nhập khẩu sản phẩm tương tự ở nước nhập khẩu. Ví dụ thực tế về việc mặt hàng của một số nước dù có thị phần nhỏ nhưng do việc cộng dồn cùng với thị trường tương tự của nước khác nên vẫn là đối tượng bị kiện của nước nhập khẩu, đó là vụ kiện bật lửa gas mà EU kiện Việt Nam (2002). EU muốn kiện chống BPG hàng của Trung Quốc lan tràn trên thị trường châu Âu và chiếm đến 80% số lượng hàng trong đơn hàng bị kiện, trong khi đó bật lửa gas của Việt Nam tuy có số lượng rất ít nhưng cũng bị kiện để tránh tiền lệ.

2.2. Thủ tục để áp dụng thuế chống bán phá giá

Theo WTO, việc áp dụng thuế chống BPG phải được tiến hành theo trình tự theo quy định khung của GATT 1994 và ADA 1994. Đây thực chất là tổng hợp các bước điều tra xác minh các yêu cầu trong đơn kiện để kết luận có đủ điều kiện áp dụng các biện pháp chống BPG đối với hàng hóa bị kiện hay không. Có thể tóm tắt thành các bước như sau:

Bước 1: Ngành sản xuất trong nước hoặc đại diện cho ngành sản xuất trong nước của sản phẩm tương tự của nước nhập khẩu nộp đơn kiện;

Cơ quan điều tra sẽ không tiến hành điều tra phá giá trừ khi xác định được rằng đơn xin điều tra được nộp bởi ngành sản xuất trong nước hoặc đại diện cho ngành sản xuất trong nước của sản phẩm tương tự, tức: (i) Sản phẩm tương tự của các nhà sản xuất trong nước ủng hộ việc nộp đơn phải lớn hơn sản lượng của các nhà sản xuất trong nước phản đối việc nộp đơn và (ii) Sản lượng của các nhà sản xuất trong nước ủng hộ việc nộp đơn phải chiếm ít nhất 25% tổng sản lượng sản phẩm tương tự của ngành sản xuất trong nước.

Bước 2: Cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi xướng điều tra hoặc từ chối đơn kiện, không điều tra;

Cơ quan điều tra sẽ xác minh tính chính xác và đầy đủ các bằng chứng nêu trong đơn để xác định xem đã có đủ lý do để tiến hành điều tra chưa. Trong trường hợp không có đơn kiện của các chủ thể trên, cơ quan điều tra có thể tự mình điều tra khi có đầy đủ bằng chứng về việc BPG, thiệt hại và mối quan hệ nhân quả giữa hai yếu tố này.

Bước 3: Tiến hành điều tra;

Các cơ quan điều tra sẽ gửi bằng văn bản thông báo cho tất cả các bên liên quan đề nghị cung cấp bằng văn bản mọi chứng từ liên quan đến cuộc điều tra. Thời hạn trả lời câu hỏi điều tra là 30 ngày và có thể gia hạn thêm 30 ngày hoặc lâu hơn nếu thấy cần thiết, gửi nguyên văn đơn đề nghị điều tra cho các nhà xuất khẩu và cơ quan có liên quan ở nước xuất khẩu và các bên liên quan nếu có yêu cầu.

Sau khi cơ quan điều tra đã thực hiện đúng các thủ tục bắt đầu và quá trình điều tra tiếp theo và kết luận ban đầu nhận thấy rằng có dẫn đến tổn hại cho ngành sản xuất trong nước, cơ quan có thẩm quyền có thể áp dụng các biện pháp tạm thời, bao gồm: thuế tạm thời, đặt cọc các khoản tiền tương đương với khoản thuế chống BPG dự kiến; cho thông quan nhưng bảo lưu quyền đánh thuế và nêu rõ mực thuế nhập khẩu thông thường và mức thuế chống BPG dự kiến (Điều 7 ADA 1994) để ngăn chặn tổn hại đang xảy ra trong quá trình điều tra.

Bước 4: Kết luận cuối cùng;

Bước 5: Quyết định áp dụng biện pháp chống BPG (nếu kết luận cuối cùng khẳng định có việc BPG gây thiệt hại);

Việc quyết định có đánh thuế chống bán phá giá hay không và đánh thuế tương đương hay nhỏ hơn biên độ phá giá sẽ do cơ quan điều tra của nước nhập khẩu quyết định. Đối với một sản phẩm bị bán phá giá, cơ quan chức năng sẽ xác định biên độ phá giá riêng cho từng nhà sản xuất. Thuế chống BPG sẽ được áp dụng cho từng trường hợp, trên cơ sở không phân biệt đối xử đối với hàng nhập khẩu liên quan từ tất cả các nguồn được coi là gây thiệt hại trừ trường hợp đã cam kết giá, mức thuế chống BPG không được cao hơn biên độ phá giá. Mọi mức thuế cao hơn biên độ phá giá là không cần thiết và vượt quá ranh giới chính đáng của thuế này (Điều 9.3, ADA 1994). WTO cũng khuyến nghị rằng mức thuế chống BPG chính thức chỉ nên dừng lại ở một mức vừa đủ để loại trừ được thiệt hại đã gây ra.

Bước 6: Rà soát lại biện pháp chống BPG;

Sau khi áp dụng thuế chống BPG một thời gian, cơ quan chức năng sẽ tự tiến hành rà soát việc tiếp tục đánh thuế hoặc theo đề nghị của bất kỳ bên liên quan nào về vấn đề: có cần tiếp tục đánh thuế không hoặc nếu ngừng đánh thuế hoặc thay đổi mức thuế thì có dẫn đến thiệt hại hay không. Cơ quan có thẩm quyền sẽ quyết định ngừng đánh thuế nếu, sau khi rà soát, xác định được rằng không cần tiếp tục đánh thuế nữa.

Bước 9: Rà soát hoàng hôn.

Về nguyên tắc, thuế chống bán phá giá chỉ được áp dụng tối đa trong 5 năm. Trước khi hết thời hạn trên, cơ quan chức năng sẽ tự tiến hành rà soát hoặc theo đề nghị của đại diện ngành sản xuất trong nước. Nếu như sau khi rà soát (thường trong 12 tháng), cơ quan có thẩm quyền xác định được hiện tượng BPG vẫn còn và tiếp tục gây thiệt hại thì thuế chống BPG vẫn có thể được tiếp tục áp dụng (Điều 11.3 ADA 1994).

Thuế chống BPG chỉ có hiệu lực đối với hàng hóa nhập khẩu sau thời điểm quyết định áp thuế được ban hành. Tuy nhiên, nếu chỉ áp thuế vào thời điểm sau khi nó được ban hành thì sẽ không khắc phục được những thiệt hại mà sản phẩm BPG đã gây ra trong thời gian trước khi có quyết định áp thuế chống BPG. Do đó, WTO cho rằng trong những trường hợp nhất định có thể cho phép quyết định áp thuế chống BPG có hiệu lực hồi tố (Điều 10 ADA 1994).

Pháp luật chống BPG ra đời từ lâu đời và ngày càng khẳng định được chỗ đứng của mình trong hệ thống pháp luật các nước trên thế giới. Và đặc biệt từ khi các quy định về chống BPG nói chung và thuế chống BPG nói riêng được cụ thể hóa trong các văn bản pháp luật của WTO thì nó đã trở thành cơ sở pháp lý giúp các nước giải quyết các vấn đề về chống BPG. Trước hoàn cảng hàng hóa nước ngoài phá giá thô bạo ở thị trường Việt Nam, các doanh nghiệp Việt Nam liên  tục bị khởi kiện chống BPG ở các thị trường lớn nhỏ khác nhau. Do vây, Việt Nam cần có các đối sách hợp lý phù hợp với pháp luật của WTO, phù hợp với vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch (GATT 1994);
  2. Hiệp định về việc thực thi Điều VI của GATT 1994 (ADA 1994);
  3. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Thương mại quốc tế, Nxb.Công an nhân dân, Hà Nội – 2015;
  4. Hà Thị Thu Trang, Quy định mở về chống bán phá giá của WTO – Công cụ bảo hộ mậu dịch, Khóa luận tốt nghiệp, Hà Nội – 2010;
  5. Nguyễn Thị Thu Hiền, Giải quyết tranh chấp về chống bán phá giá trong khuôn khổ WTO và sự tham gia của các nước đang phát triển và Việt Nam những vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận án tiến sĩ luật học, Hà Nội – 2014;
  6. Nguyễn Thị Thu Thảo, Pháp luật chống bán phá giá của Tổ chức Thương mại thế giới WTO và những vấn đề đặt ra với Việt Nam trong quá trình hội nhập, Khóa luận tốt nghiệp; Hà Nội – 2011;
  7. Vũ Thị Phương Lan, Pháp luật về chống bán phá giá trong thương mại quốc tế và những vấn đề đặt ra với Việt Nam, Luận án Tiến sĩ luật học, Hà Nội – 2011;

[1]  Vũ Thị Phương Lan, Pháp luật về chống bán giá trong thương mại quốc tế và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam, Luận án tiến sĩ luật học, Hà Nội – 2011

Các biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự theo Luật Thi hành án dân sự năm 2014

Các biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự theo Luật Thi hành án dân sự năm 2014.

Trong quá trình tổ chức thi hành án dân sự, để ngăn chặn các hành vi nhằm trốn tránh, tẩu tán, hủy hoại tài sản dẫn đến không còn điều kiện thi hành án của người phải thi hành án, kể từ khi Luật Thi hành án dân sự năm 2008 ra đời, qua lần sửa đổi, bổ sung năm 2014 đã dành không ít điều khoản quy định về các biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự và những nội dung có liên quan. Những quy định này đã kịp thời khắc phục những bất cập và tạo hành lang pháp lý cho Chấp hành viên thực thi nhiệm vụ, bào đảm các bản án, quyết định của Tòa án và cơ quan có thẩm quyền được thi hành một cách triệt để và hiệu quả. Để tìm hiểu sâu hơn về vấn đề này, em chọn đề bài số 6: “Biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự” làm bài tập học kỳ của mình.

1. Một số vấn đề khái quát về biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự

  • Khái niệm

Biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự là biện pháp pháp lí đặt tài sản của người phải thi hành án trong tình trạng bị hạn chế hoặc cấm sử dụng, định đoạt nhằm ngăn chặn việc người phải thi hành án tẩu tán, định đoạt tài sản trốn tránh việc thi hành án và đôn đốc họ tự nguyện thực hiện nghĩa vụ thi hành án của mình do chấp hành viên áp dụng trước khi áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự[1]”.

  • Ý nghĩa của biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự

Thứ nhất, ngăn chặn người phải thi hành án tẩu tán, hủy hoại tài sản, trốn tránh việc thi hành án nên bảo đảm được hiệu lực của bản án, quyết định, quyền, lợi ích hợp pháp của người được thi hành án và bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật.

Thứ hai, đốc thúc người phải thi hành tự nguyện thi hành nghĩa vụ của mình.

Thứ ba, việc áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự là tiền đề, cơ sở cho việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự sau này, bảo đảm hiệu quả của việc thi hành án dân sự.

2. Các biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự theo pháp luật thi hành án dân sự hiện hành

Căn cứ vào nội dung bản án, quyết định; quyết định thi hành án; tính chất, mức độ, nghĩa vụ thi hành án; điều kiện của người phải thi hành án; yêu cầu bằng văn bản của đương sự và tình hình thực tế của địa phương, Chấp hành viên được lựa chọn việc áp dụng biện pháp bảo đảm thích hợp theo Điều 13 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/07/2015 của Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự (Nghị định số 62/2015/NĐ-CP). Theo đó, các biện pháp bảo đảm mà Chấp hành viên có thể lựa chọn bao gồm:

2.1. Biện pháp phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ

  • Bản chất của biện pháp phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ

Biện pháp phong tỏa tài khoản, tài sản tại ở gửi giữ là biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự được Chấp hành viên áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án phải thi hành nghĩa vụ trả tiền và họ có tiền gửi trong tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác hoặc người thứ ba khác. Với góc nhìn này, biện pháp này không thể áp dụng đối với việc thi hành nghĩa vụ phải làm một công việc.

Việc áp dụng biện pháp phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ nhằm cô lập, đặt tài khoản, tài sản của người phải thi hành án trong tình trạng bị phong tỏa, không thể sử dụng được, ngăn chặn việc tẩu tán tiền trong tài khoản. Thông thường, biện pháp bảo đảm này có thể được chuyển tiếp thành biện pháp cưỡng chế khấu trừ tiền trong tài khoản của người phải thi hành án để thi hành nghĩa vụ trả tiền của người phải thi hành án nếu người phải thi hành án không tự nguyện áp dụng.

Biện pháp phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ được quy định tại Điều 67 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014 và được hướng dẫn chi tiết tại Nghị định số 62/2015/NĐ-CP. Trước đây, theo quy định tại Điều 67 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 và Điều 11 Nghị định số 58/2008/NĐ-CP ngày 13/07/2008 của Chính phủ quy định biện pháp bảo đảm là “phong tỏa tài sản” mà không quy định là biện pháp “phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ”. Sự thay đổi này xuất phát từ thực tế hoạt động thi hành án dân sự trong thời gian qua cho thấy nhiều trường hợp người phải thi hành án có tài sản không phải là tiền mà còn là các loại tài ản khác như kim khí quý, đá quý…đang gửi người khác giữ (ngân hàng, các tổ chức tín dụng, người thứ ba…) nhưng Luật Thi hành án dân sự năm 2008 không quy định Chấp hành viên được quyền áp dụng biện pháp bảo đảm phong tỏa đối với trường hợp này dẫn đến người phải thi hành án dễ dàng tẩu thoát, trốn tránh nghĩa vụ. Sự thay đổi này nhằm tạo điều kiện tốt hơn để bảo vệ quyền lợi của người được thi hành án.

  • Điều kiện áp dụng biện pháp phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ

Chấp hành viên áp dụng biện pháp này trong trường hợp có căn cứ khẳng định người phải thi hành án đang có tiền trong tài khoản nhất định (thông tin về tài khoản, về số tiền trong tài khoản có thể do đương sự cung cấp hoặc do Chấp hành viên xác định). Với mục đích nhằm ngăn chặn việc tẩu tán tiền trong tài khoản của người phải thi hành án thì Chấp hành viên có thể quyết định áp dụng biện pháp phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ của người phải thi hành án ở bất kỳ giai đoạn nào của quá trình thi hành án. Khi ra quyết định phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ, Chấp hành viên cần thông báo trước cho đương sự để tránh việc đương sự rút hết tiền trong tài khoản nhằm trốn tránh việc thi hành án. Khi tiến hành phong tỏa tài khoản, Chấp hành viên phải giao quyết định phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ cho cơ quan, tổ chức đang quản lý tài khoản của người phải thi hành án (khoản 2 Điều 67 Luật thi hành án năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014). Cơ quan, tổ chức đang quản lý tài khoản của người phải thi hành án phải thực hiện ngay quyết định của Chấp hành viên về phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ.

Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ, Chấp hành viên phải áp dụng biện pháp cưỡng chế hoặc ra quyết định chấm dứt việc phong tỏa theo quy định (khoản 3 Điều 67 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014). Đây là một quy định mới so với Luật Thi hành án dân sự năm 2008, nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người phải thi hành án tự nguyện thi hành án và tương thích với quy định về thời hạn tự nguyện thi hành án là 10 ngày, kể từ ngày đương sự nhận được quyết định thi hành án hoặc được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án theo Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014.

  • Thủ tục áp dụng biện pháp phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ

Căn cứ Điều 20 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP, thủ tục phong tỏa tiền trong tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ được thực hiện như sau:

Quyết định phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ phải xác định rõ số tiền, tài sản bị phong tỏa. Chấp hành viên giao quyết định phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ cho người đại diện theo pháp luật của Kho bạc Nhà nước, tổ chức tín dụng, cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ hoặc người có trách nhiệm nhận văn bản của cơ quan, tổ chức đó và lập biên bản về việc giao quyết định. Biên bản phải có chữ ký của Chấp hành viên, người nhận quyết định phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ. Trường hợp người nhận quyết định phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ không ký thì phải có chữ ký của người chứng kiến. Quyết định phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ được ban hành sau khi Chấp hành viên lập biên bản phong tỏa phải được gửi ngay cho cơ quan, tổ chức, cá nhân nơi có tài khoản, tài sản bị phong tỏa.

Trường hợp người đại diện theo pháp luật hoặc người có trách nhiệm nhận văn bản của cơ quan, tổ chức không nhận quyết định phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ thì Chấp hành viên lập biên bản về việc không nhận quyết định, có chữ ký của người làm chứng hoặc chứng kiến và tiến hành niêm yết quyết định phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ của người phải thi hành án tại trụ sở, cơ quan, tổ chức đó. Người đại diện theo pháp luật hoặc người có trách nhiệm nhận văn bản của cơ quan, tổ chức không nhận quyết định phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật và phải bồi thường nếu có thiệt hại xảy ra.

Chấp hành viên có trách nhiệm bảo mật các thông tin về tài khoản, tài sản của người phải thi hành án bị áp dụng biện pháp bảo đảm được Kho bạc Nhà nước, tổ chức tín dụng, cơ quan, tổ chức, cá nhân nơi có tài khoản cung cấp.

2.2. Biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự

  • Bản chất và điều kiện áp dụng biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự

Biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự là biện pháp bảo đảm thi hành án được tiến hành trên các động sản, các động sản phải đăng ký quyền sở hữu, giấy tờ có giá hoặc bất động sản của người phải thi hành án; đặt những động sản, giấy tờ đăng ký của động sản trong tình trạng hạn chế quyền sử dụng nhằm ngăn chặn việc người phải thi hành án tẩu tán, hủy hoại tài sản để trốn tránh việc phải thi hành án[2]. Biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự được quy định tại Điều 68 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014. Theo Điều luật này, Chấp hành viên có thể áp dụng một cách độc lập hoặc đồng thời áp dụng cả hai biện pháp: tạm giữ tài sản của đương sự và tạm giữ giấy tờ của đương sự.

Biện pháp này khác biện pháp phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ ở chỗ: Đối tượng để bảo đảm thi hành án không phải là tiền mà là tài sản hoặc giấy tờ có liên quan đến việc thi hành án như giấy đăng ký xe mô tô, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất… hoặc các tài sản có thể xử lý được để thi hành án. Nếu như biện pháp phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ chỉ được áp dụng khi Chấp hành viên đã xác định được số dư trong tài khoản của người phải thi hành án hoặc khi đương sự yêu cầu thì biện pháp này được áp dụng ngay cả trong trường hợp chưa xác định được chủ sở hữu của tài sản, giấy tờ bị tạm giữ.

  • Thủ tục áp dụng biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự

Theo quy định tại Điều 68 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014, Chấp hành viên đang thực hiện nhiệm vụ thi hành án có quyền tạm giữ tài sản, giấy tờ liên quan đến việc thi hành án mà đương sự, tổ chức, cá nhân khác đang quản lý, sử dụng. Cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan có trách nhiệm phối hợp, hỗ trợ, thực hiện yêu cầu của Chấp hành viên trong việc tạm giữ tài sản, giấy tờ. (Đây là quy định mới theo Luật sửa đổi, bổ sung nhằm nhấn mạnh trách nhiệm phối hợp của cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan mà không chỉ là việc tham gia hỗ trợ).

Quyết định tạm giữ tài sản, giấy tờ phải xác định rõ loại tài sản, giấy tờ bị tạm giữ và Chấp hành viên phải giao quyết định này cho đương sự hoặc tổ chức, cá nhân đang quản lý, sử dụng.

Trường hợp cần tạm giữ ngay tài sản, giấy tờ mà chưa ban hành quyết định tạm giữ tài sản, giấy tờ thì Chấp hành viên yêu cầu giao tài sản, giấy tờ và lập biên bản về việc tạm giữ. Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi lập biên bản, Chấp hành viên phải ban hành quyết định tạm giữ tài sản, giấy tờ. Biên bản, quyết định tạm giữ tài sản, giấy tờ phải được gửi ngay cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp.

Khi tạm giữ tài sản, giấy tờ phải lập biên bản có chữ ký của Chấp hành viên và người đang quản lý, sử dụng tài sản, giấy tờ. Trường hợp người đang quản lý, sử dụng tài sản, giấy tờ không ký thì phải có chữ ký của người làm chứng. Biên bản tạm giữ tài sản, giấy tờ phải được giao cho người quản lý, sử dụng tài sản, giấy tờ.

Chấp hành viên yêu cầu đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp các giấy tờ, tài liệu cần thiết để chứng minh quyền sở hữu, sử dụng; thông báo cho đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan về quyền khởi kiện yêu cầu xác định quyền sở hữu, sử dụng đối với tài sản, giấy tờ tạm giữ. Trường hợp cần thiết, Chấp hành viên phải xác minh, làm rõ hoặc yêu cầu Tòa án, cơ quan có thẩm quyền xác định người có quyền sở hữu, sử dụng đối với tài sản, giấy tờ tạm giữ. Quy định này tạo thêm điều kiện cho Chấp hành viên xác định đúng đắn hơn quyền sở hữu, sử dụng tài sản, giấy tờ để xử lý theo đúng quy định.

Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày có căn cứ xác định tài sản, giấy tờ tạm giữ thuộc quyền sở hữu, sử dụng của người phải thi hành án, Chấp hành viên phải ra quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế theo quy định; trường hợp có căn cứ xác định tài sản, giấy tờ không thuộc quyền sở hữu, sử dụng của người phải thi hành án hoặc thuộc quyền sở hữu, sử dụng của người phải thi hành án nhưng đã thực hiện xong nghĩa vụ của mình thì Chấp hành viên phải ra quyết định trả lại tài sản, giấy tờ cho người co quyền sở hữu, sử dụng. (Luật Thi hành án dân sự năm 2008 quy định thời hạn này là 15 ngày).

2.3. Biện pháp tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản

  • Bản chất và điều kiện áp dụng biện pháp tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản

Ngoài biện pháp phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ, tạm giữ giấy tờ, tài sản mà đương sự, tổ chức, cá nhân khác đang quản lý, sử dụng thì biện pháp bảo đảm thi hành án cũng có thể được tiến hành trên các động sản, bất động sản của người phải thi hành án thông qua việc quyết định tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản của người phải thi hành án nhằm ngăn chặn hoặc tạm dừng các hành vi của người phải thi hành án như chuyển quyền sở hữu, sử dụng, tẩu tán, hủy hoại, thay đổi hiện trạng tài sản. Biện pháp này được áp dụng đối với các động sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản của người phải thi hành án và là tiền đề cho việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án như kê biên, xử lý tài sản (quyền sở hữu trí tuệ, động sản, bất động sản) của người phải thi hành án; cưỡng chế trả vật, chuyển quyền sử dụng đất.

Hiện nay, có rất nhiều tài sản, quyền tài sản mà việc chuyển dịch quyền sở hữu, sử dụng phải đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền như vốn góp của tổ chức, cá nhân tại doanh nghiệp; quyền sử dụng đất; phương tiện cơ giới… Đối với những tài sản này, để thực hiện mua bán, chuyển nhượng, các bên tham gia quan hệ mua bán, chuyển nhượng phải thực hiện thông quan việc đăng ký tại phòng đăng ký kinh doanh, văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, nhưng trong trường hợp nhất định quyền sở hữu, sử dụng của bên mua, bên nhận chuyển nhượng chỉ được xác lập khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký.

  • Thủ tục áp dụng biện pháp tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản

Theo quy định Điều 69 Luật Thi hành án năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014 và Điều 19 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP thì trường hợp cần ngăn chặn hoặc phát hiện đương sự có hành vi chuyển quyền sở hữu, sử dụng, tẩu tán, hủy hoại, thay đổi hiện trạng tài sản, trốn tránh việc thi hành án, Chấp hành viên ra quyết định tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản của người phải thi hành án, tài sản chung của người phải thi hành án với người khác.

Quyết định tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản phải được gửi ngay cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan (như Phòng đăng ký kinh doanh, Văn phòng đăng ký quyền sở hữu nhà và sử dụng đất, một số cơ quan khác và người phải thi hành án) để tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản đó.

Chấp hành viên yêu cầu đương sự, cơ quan, tổ chức, cả nhân có liên quan cung cấp các giấy tờ, tài liệu cần thiết để chứng minh quyền sở hữu, sử dụng; thông báo cho đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan về quyền khởi kiện yêu cầu xác định quyền sở hữu, sử dụng đối với tài sản. Trường hợp cần thiết, Chấp hành viên phải xác minh, làm rõ hoặc yêu cầu Tòa án, cơ quan có thẩm quyền xác định quyền sở hữu, sử dụng tài sản để thi hành án, giải quyết tranh chấp tài sản, yêu cầu hủy giấy tờ, giao dịch có liên quan đến tài sản theo quy định của pháp luật. Quy định này nhằm tạo điều kiện cho Chấp hành viên có cơ sở chắc chắn trong việc ra các quyết định tiếp theo để thi hành án. Đây cũng là một điểm mới trong Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày có căn cứ xác định tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng của người phải thi hành án, Chấp hành viên phải ra quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế theo quy định; trường hợp có căn cứ xác định tài sản không thuộc quyền sở hữu, sử dụng của người phải thi hành án thì Chấp hành viên phải ra quyết định chấm dứt việc tạm dừng đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản. Điều 69 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 quy định trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày ra quyết định tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản, Chấp hành viên phải thực hiện việc kê biên tài sản hoặc chấm dứt việc tạm dừng, việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản. Tuy nhiên, đối với những tài sản có giá trị lớn, phải đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì thời gian để xác minh theo Luật Thi hành án dân sự năm 2008 là quá ngắn, không khả thi. Do vậy, Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014 đã có sự thay đổi hợp lý hơn về thời hạn tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản là 10 ngày, kể từ ngày có căn cứ xác định tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng của người phải thi hành án.

3. Thực trạng áp dụng các biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự và một số kiến nghị

3.1. Thực trạng áp dụng các biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự

Quy chế số 01/QCLN/NHNNVN-BTP ngày 18/03/2015 về phối hợp giữa Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tư pháp trong công tác thi hành án dân sự đã phát huy vai trò quan trọng trong công tác phối hợp, góp phần tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, bảo đảm sự thống nhất trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ của từng ngành, tạo chuyển biến tích cực trong công tác thi hành án dân sự liên quan đến tín dụng, ngân hàng. Tuy nhiên, còn một số tồn tại, hạn chế như: việc phối hợp có lúc, có nơi còn chưa đáp ứng yêu cầu, thể hiện ở việc cơ quan thi hành án dân sự còn chậm thụ lý vụ việc thi hành án của các tổ chức tín dụng; các tổ chức tín dụng không thực hiện yêu cầu của Chấp hành viên và cơ quan thi hành án dân sự trong việc phong tỏa hoặc khấu trừ tiền trong tài khoản…[3]

Cơ chế quản lý tài sản ở nước ta hiện nay còn thiếu minh bạch, các giao dịch kinh tế, dân sự hiện nay vẫn chủ yếu được thực hiện bằng hình thức thanh toán tiền mặt, do đó kiểm soát được thu nhập, tài sản của tổ chức, cá nhân và cũng gây khó khăn cho việc áp dụng biện pháp phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ.

Công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành ở một số địa phương, đơn vị có lúc, có việc còn chưa quyết liệt, thiếu sâu sát; việc nghiên cứu các quy định của pháp luật về thi hành án dân sự chưa sâu, nên khi áp dụng còn lúng túng, sai sót; một số Chấp hành viên chưa kiên quyết áp dụng biện pháp bảo đảm và cưỡng chế để tổ chức thi hành dứt điểm việc thi hành án[4].

3.2. Một số kiến nghị

– Về pháp lý, theo ý kiến cá nhân, không nên quy định Chấp hành viên phải thông báo trước cho đương sự về việc phong tỏa tài khoản, việc thông báo có thể diễn ra sau khi đã tiến hành phong tỏa. Bởi hiện nay, việc thực hiện các giao dịch thông qua Ngân hàng, các tổ chức tín dụng diễn ra rất nhanh chóng, chẳng hạn như giao dịch rút tiền trong tài khoản tại ATM chỉ diễn ra trong thời gian rất ngắn.

– Về tổ chức

+ Cơ quan thi hành án cần phối hợp chặt chẽ hơn với các cơ quan công an, Tòa án, Viện kiểm sát, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nhằm tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong quá trình áp dụng các biện pháp thi hành án dân sự cũng như trong toàn bộ quá trình thi hành án dân sự.

+ Tăng cường công tác chỉ đạo, điều hành, kiểm tra, hướng dẫn xây dựng chương trình công tác, tổ chức rút kinh nghiệm. Việc rút kinh nghiệm cần được xây dựng dựa trên báo cáo, đánh giá của từng chấp hành viên trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình và phải được tổ chức hàng năm. Trong đó, các chấp hành viên cần chỉ rõ những khó khăn, bất cập tại sao không thể thi hành được để có hướng dẫn cụ thể trong từng trường hợp. Thường xuyên tổ chức các buổi gặp gỡ, trao đổi, rút kinh nghiệm về công tác phối hợp với các cơ quan, ban, ngành hữu quan đã tham gia quá trình hỗ trợ thi hành án.

Các biện pháp bảo đảm thi hành án có vai trò quan trọng, làm cơ sở cho việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án trong những trường hợp cần thiết. Các biện pháp này hỗ trợ cho việc thi hành các bản án, quyết định, góp phần đảm bảo hiệu lực thi hành bản án, quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền, bảo vệ quyền và nghĩa vụ dân sự được ghi nhận trong bản án, quyết định cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tập thể, cá nhân.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Luật Thi hành án dân sự năm 2008;
  2. Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014;
  3. Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/07/2015 của Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự;
  4. Nghị định số 58/2008/NĐ-CP ngày 13/07/2008 của Chính phủ;
  5. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật thi hành án dân sự Việt Nam, Hà Nội – 2011;
  6. Phạm Thi Minh Hằng, Biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự, Khóa luận tốt nghiệp, Hà Nội – 2012;
  7. TS. Trần Anh Tuấn, Một số điểm mới của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 về biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự (Trường Đại học Luật Hà Nội, Những điểm mới của Luật Thi hành án dân sự năm 2008, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, Chủ nhiệm đề tài: TS. Bùi Thị Huyền, Hà Nội – 2011);

[1] Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật thi hành án dân sự Việt Nam,  Hà Nội – 2011, trang 187

[2] Phạm Thi Minh Hằng, Biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự, Khóa luận tốt nghiệp, Hà Nội – 2012, trang 25

[3] http://thads.moj.gov.vn/noidung/tintuc/Lists/TuThucTien/View_Detail.aspx?ItemID=295

[4] http://www.noichinh.vn/tin-tuc-su-kien/tin-dia-phuong/201512/lai-chau-ket-qua-cong-tac-thi-hanh-an-dan-su-nam-2015-299447/

Đăng ký nhãn hiệu bị trùng, tranh chấp và cách giải quyết

Đăng ký nhãn hiệu bị trùng, tranh chấp và cách giải quyết.

TÌNH HUỐNG

Đề 23:

Công ty cổ phần du lịch lữ hành KATA đã được thành lập và đăng ký kinh doanh dịch vụ du lịch từ tháng 5/2007. Từ khi thành lập, công ty đã sử dụng liên tục nhãn hiệu KATA trong hoạt động kinh doanh của mình (sử dụng nhãn hiệu trên bảng hiệu của các văn phòng giao dịch, trên giấy tờ giao dịch; in nhãn hiệu trên mũ, áo của nhân viên; trên mũ, khăn lạnh, nước uống… phát cho khách; quảng cáo trên báo chí và trên chính website của công ty www.katatravel.com.vn. Ngày 24/05/2009, Công ty muốn nộp đơn đăng ký nhãn hiệu KATA cho dịch vụ du lịch. Qua thông tin trên Công báo Sở hữu công nghiệp, công ty cổ phần du lịch lữ hành KATA được biết đã có công ty khác là Công ty thương mại dịch vụ Vạn Xuân đã nộp đơn đăng ký nhãn hiệu KATA cho các dịch vụ: bán lẻ hàng hóa, dịch vụ nhà hàng, khách sạn… và dịch vụ du lịch ngày 10/03/2009.

Anh (chị) hãy đánh giá khả năng đăng ký nhãn hiệu KATA của Công ty cổ phần du lịch lữ hành KATA và tư vấn cách giải quyết cụ thể tình huống nêu trên (nếu có thể)

GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG

1. Một số vấn đề lý luận về nhãn hiệu

Khái niệm nhãn hiệu theo Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2009 (Luật SHTT) được quy định cụ thể tại khoản 16 Điều 4 Giải thích từ ngữ như sau: “Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau”.

Nhãn hiệu có các chức năng cơ bản sau:

+ Chức năng phân biệt: Chức năng này được hiểu là nhãn hiệu giúp phân biệt hàng hóa, dịch vụ của chủ thể này với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể khác. Có thể nói đây là chức năng cơ bản và quan trọng nhất của nhãn hiệu. Ngay từ khi hình thành, nhãn hiệu đã được coi như một hình thức cô đọng và khái quát truyền đạt các thông tin về hàng hóa, dịch vụ; là dấu hiệu đầu tiên và dễ dàng nhất để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các cơ sở kinh doanh khác nhau.

+ Chức năng quảng cáo hoặc tiếp thị: Nhãn hiệu được coi như một công cụ marketing quan trọng truyền đạt đến người tiêu dùng uy tín của hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu. Nhãn hiệu truyền tải thông điệp về hàng hóa, dịch vụ từ nhà sản xuất tới người tiêu dùng, giúp người tiêu dùng giảm chi phí tìm kiếm.

+ Chức năng bảo đảm chất lượng hàng hóa, dịch vụ: Do người tiêu dùng có xu hướng sử dụng nhãn hiệu để nhận biết loại hàng hóa, dịch vụ sẽ thỏa mãn nhu cầu của họ nên đã tạo động lực cho các nhà sản xuất và phân phối nhằm đáp ứng nguyện vọng chính đáng của người tiêu dùng về chất lượng sản phẩm, Có thể khẳng định rằng, cách thức cổ điển, an toàn và phổ biến nhất để giành được sự trung thành của người tiêu dùng đối với một nhãn hiệu cụ thể thông qua việc duy trì chất lượng ổn định của hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu. Do đó, việc sử dụng nhãn hiệu có khuynh hướng khuyến khích chủ sở hữu nhãn hiệu duy trì chất lượng ổn định cho hàng hóa, dịch vụ được chào bán dưới nhãn hiệu của họ.

Để một dấu hiệu được bảo hộ là một nhãn hiệu, Điều 72 Luật SHTT đã quy định cụ thể về điều kiện bảo hộ nhãn hiệu như sau: “Nhãn hiệu được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:

  • Là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, cả cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hay nhiều màu sắc;
  • Có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể khác”.

2. Khả năng đăng ký nhãn hiệu KATA của Công ty cổ phần du lịch lữ hành KATA và tư vấn cách giải quyết

Trước hết, xét về dấu hiệu “KATA”, dấu hiệu này đảm bảo được điều kiện là dấu hiệu phù hợp với quy định của pháp luật để làm nhãn hiệu.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 72 Luật SHTT, “dấu hiệu” phải nhìn thấy được, bao gồm: Từ ngữ, chữ số, chữ cái, hình vẽ, hình ảnh, hình ảnh ba chiều, sự kết hợp của các yếu tố trên được thể hiện bằng một hay nhiều màu sắc. Khoản 1 Điều 74 Luật SHTT quy định: Nhãn hiệu được coi là có khả năng phân biệt khi được thành từ một hoặc một số yếu tố dễ nhận biết, dễ ghi nhớ hoặc từ nhiều yếu tố kết hợp thành một tổng thể dễ nhận biết, dễ ghi nhớ và không thuộc các trường hợp không có khả năng phân biệt quy định tại khoản 2 Điều 74 Luật SHTT.

“KATA” là đối tượng đăng ký bảo hộ trong tình huống trên là một từ ngữ. Từ này được viết bởi ba chữ cái thuộc ngôn ngữ La tinh: A, K, T và kết hợp với nhau tạo thành từ KATA; không phải thuộc ngôn ngữ khó ghi nhớ như chữ Trung Quốc, chữ Phạn…., được thể hiện bằng màu sắc và được nhận biết bằng thị giác của người tiêu dùng.  Sự kết hợp ba chữ cái này được phát âm thành hai tiếng “ca – ta”, rất ngắn gọn nên người tiêu dùng có thể dễ dàng ghi nhớ được. Và dấu hiệu “KATA” không trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với: “tên viết tắt, tên đầy đủ của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp của Việt Nam và tổ chức quốc tế, nếu không được cơ quan, tổ chức đố cho phép”; “tên thật, biệt hiệu, bút danh, hình ảnh của lãnh tụ, anh hùng dân tộc, danh nhân Việt Nam, của nước ngoài”; “dấu chứng nhận, dấu kiểm tra, dấu bảo hành của tổ chức quốc tế mà tổ chức đó có yêu cầu không được sử dụng, trừ trường hợp chính tổ chức này đăng ký các dấu đó làm nhãn hiệu chứng nhận” (Điều 73 Luật SHTT).

Xét về khả năng phân biệt, dấu hiệu “KATA” không trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của người khác (giả sử xét từ trước khi công ty thương mại dịch vụ Vạn Xuân (Công ty Vạn Xuân) nộp đơn đăng ký nhãn hiệu tới Cục Sở hữu trí tuệ).

Từ những phân tích trên, dấu hiệu “KATA” nói chung có thể được đăng ký làm nhãn hiệu.

3. Cách để Công ty cổ phần du lịch lữ hành KATA đăng ký được nhãn hiệu KATA

Công ty cổ phần du lịch lữ hành KATA (Công ty KATA) có khả năng đăng kí được nhãn hiệu KATA cho mình bởi những lý do sau:

Thứ nhất, dấu hiệu “KATA” có thể đăng ký làm nhãn hiệu như đã phân tích ở trên.

Thứ hai, về quyền đăng ký nhãn hiệu, Công ty KATA có quyền đăng ký nhãn hiệu “KATA” cho dịch vụ du lịch của mình dựa trên quy định tại khoản 1 Điều 87 Luật SHTT: “Tổ chức, cá nhân có quyền đăng ký nhãn hiệu cho hàng hóa do mình sản xuất hoặc dịch vụ do mình cung cấp.”

Thứ ba, để Công ty KATA đăng ký được thành công dấu hiệu “KATA” làm nhãn hiệu cho dịch vụ du lịch của mình thì có thể áp dụng một trong các cách sau:

Cách thứ nhất: Công ty KATA nộp đơn đăng ký nhãn hiệu bình thường tới Cục Sở hữu trí tuệ, với những lập luận sau:

Một là, như đã phân tích ở trên, dấu hiệu “KATA” đáp ứng được điều kiện tại khoản 1 Điều 72 Luật SHTT.

Hai là, về khả năng phân biệt: Việc đánh giá khả năng phân biệt của nhãn hiệu trong nghiên cứu dựa trên các tiêu chí: cấu trúc, cách phát âm, cách trình bày và ý nghĩa. Rõ ràng dấu hiệu “KATA” mà Công ty KATA và Công ty Vạn Xuân muốn đăng ký nhãn hiệu đều có cùng cấu trúc (sự sắp xếp các chữ cái giống nhau), cách phát âm giống nhau là hai âm “ca – ta”. Cả hai công ty này đều muốn đăng ký nhãn hiệu này cho các dịch vụ tương tự nhau (đều liên quan đến du lịch). Việc đăng ký nhãn hiệu “KATA” của Công ty KATA rất có thể sẽ bị Cục sở hữu trí tuệ từ chối do Công ty Vạn Xuân đã nộp đơn đăng ký nhãn hiệu trước (ngày 10/03/2009) và đơn đăng ký này là hợp lệ đã được đăng trên Công báo Sở hữu công nghiệp. Hơn nữa, dấu hiệu “KATA” mà Công ty KATA muốn đăng ký có thể trùng hoàn toàn với dấu hiệu mà Công ty Vạn Xuân đã thể hiện trong đơn đăng ký. Do vậy, để tránh trường hợp này có thể xảy ra và việc đăng ký nhãn hiệu của Công ty KATA không ảnh hưởng đến Công ty Vạn Xuân, thì dấu hiệu “KATA” mà công ty KATA muốn đăng ký nhãn hiệu phải có sự khác biệt rõ rệt với dấu hiệu “KATA” của Công ty Vạn Xuân đã nộp đơn đăng ký. Sự khác biệt này phải được thể hiện ở cách trình bày, chẳng hạn, kích cỡ mỗi chữ cái khác nhau, sắp xếp các chữ cái theo cách khác (“KA” ở trên và “TA” ở dưới),…

Với cách làm này, khả năng đăng ký được thành công nhãn hiệu là không cao, bởi dù công ty KATA có thay đổi các yếu tố của dấu hiệu “KATA” vẫn có khả năng gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng, và có thể dẫn đến Cục SHTT sẽ không chấp nhận đơn đăng ký nhãn hiệu của công ty này.

Cách thứ hai: Công ty KATA chứng minh dấu hiệu “KATA” đã được mình sử dụng và thừa nhận rộng rãi cho dịch vụ du lịch của mình.

Dựa trên quy định tại điểm g khoản 2 Điều 74 Luật SHTT về đánh giá khả năng phân biệt của nhãn hiệu, theo đó, nhãn hiệu bị coi là không có khả năng phân biệt nếu nhãn hiệu đó là “dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của người khác đã được sử dụng và thừa nhận rộng rãi cho hàng hóa, dịch vụ trùng hoặc tương tự từ trước ngày nộp đơn…”.

Công ty KATA có thể ý kiến bằng văn bản tới Cục Sở hữu trí tuệ về dấu hiệu “KATA” mà Công ty Vạn Xuân đã nộp đơn đăng ký bảo hộ để Cục Sở hữu trí tuệ xem xét về việc cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu cho công ty này (Công ty KATA đóng vai trò là người thứ ba) (Điều 112 Luật SHTT). Các công việc mà Công ty KATA cần làm gồm:

+ Chứng minh dấu hiệu “KATA” mà Công ty Vạn Xuân đăng ký trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với dấu hiệu “KATA” mà Công ty KATA dự định đăng ký, tức chỉ rõ là dấu hiệu “KATA” có cùng cấu tạo, cách trình bày (kể cả màu sắc) hoặc có một số đặc điểm trùn nhau hoặc tương tự đến mức không dễ dàng phân biệt với nhau về cấu tạo, cách phát âm, phiên âm đối với dấu hiệu, chữ, ý nghĩa, cách trình bày, màu sắc và gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng (điểm a khoản 3 Điều 11 Nghị định số 105/2006/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ, đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 119/2010/NĐ-CP – Nghị định số 105/2006)

+ Chứng minh dấu hiệu đăng ký cho dịch vụ mà cả hai công ty này cùng kinh doanh trùng hoặc tương tự nhau, tức trùng hoặc tương tự về bản chất hoặc có liên hệ về chức năng, công dụng và có cùng kênh tiêu thụ (điểm b khoản 3 Điều 11 Nghị định số 105/2006)

+ Chứng minh dấu hiệu “KATA” đã được công ty này sử dụng và thừa nhận rộng rãi cho dịch vụ du lịch của mình qua các bằng chứng về việc công ty này đã sử dụng liên tục dấu hiệu “KATA” trên bảng hiệu của các văn phòng giao dịch, trên giấy tờ giao dịch; in nhãn hiệu trên mũ, áo của nhân viên; trên mũ, khăn lạnh, nước uống… phát cho khách; quảng cáo trên báo chí và trên chính website của công ty …từ tháng 5/2007 cho đến nay. Việc chứng minh này là tương đối dễ dàng. Sau khi chứng minh được các vấn đề trên, khả năng cao Cục Sở hữu trí tuệ sẽ không cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu cho Công ty Vạn Xuân. Để đảm bảo quyền lợi cho mình, tránh những tranh chấp có thể xảy ra sau này, Công ty KATA nên đăng ký ngay nhãn hiệu “KATA” cho mình. Cách giải quyết này có khả năng thành công cao nhất.

Cách thứ ba: Công ty KATA chứng minh “KATA” là tên thương mại của mình, và việc sử dụng dấu hiệu này của công ty Vạn Xuân sẽ gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốc của dịch vụ du lịch.

Căn cứ của cách giải quyết này là điểm k khoản 2 Điều 74 Luật SHTT, theo đó, nhãn hiệu bị coi là không có khả năng phân biệt nếu nhãn hiệu đó là “dấu hiệu trùng hoặc tượng tự với tên thương mại đang được sử dụng của người khác, nếu việc sử dụng dấu hiệu đó có thể gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốc của hàng hóa, dịch vụ”. Tương tự cách thứ hai, Công ty KATA gửi ý kiến tới Cục Sở hữu trí tuệ về dấu hiệu “KATA” mà Công ty Vạn Xuân đăng ký. Để sử dụng điều khoản này làm căn cứ pháp lý, Công ty KATA phải chứng minh được:

+ Dấu hiệu “KATA” mà Công ty Vạn Xuân đăng ký bảo hộ trùng hoặc tương tự với tên thương mại của Công ty KATA. Trước hết, Công ty KATA phải chứng minh “KATA” là tên thương mại của mình. Theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 6 Luật SHTT: “Quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại được xác lập trên cơ sở sử dụng hợp pháp tên thương mại đó”, công ty phải chứng minh dấu hiệu “KATA” được sử dụng trong hoạt động kinh doanh của mình như các giấy tờ giao dịch, quảng cáo trên báo chí…từ khi thành lập từ tháng 5/2007, bởi tên thương mại không bắt buộc phải đăng ký mà quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại được xác lập dựa trên thực tiễn sử dụng. Cũng như cách thứ hai, việc chứng minh này là khá dễ dàng. Tiếp đó, chứng minh dấu hiệu “KATA” mà Công ty Vạn Xuân sử dụng trùng (giống hệt) hay tương tự như đã trình bày ở cách trên.

+ Việc sử dụng dấu hiệu “KATA” có thể gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốc của dịch vụ du lịch. Cả hai Công ty KATA và Công ty Vạn Xuân có sự tương tự nhau về lĩnh vực kinh doanh (đều liên quan đến lĩnh vực du lịch). Việc Công ty Vạn Xuân sử dụng dấu hiệu “KATA” trong hoạt động kinh doanh của mình sẽ rất dễ khiến người tiêu dùng nhầm lẫn rằng, Công ty KATA và Công ty Vạn Xuân là một hoặc có liên quan với nhau (công ty mẹ – con, chi nhánh…), mà trên thực tế hai công ty này hoàn toàn độc lập.

Sau khi đã chứng minh được những vấn đề trên, có khả năng Cục Sở hữu trí tuệ sẽ từ chối cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu đối với dấu hiệu “KATA” cho Công ty Vạn Xuân. Để tránh những vụ việc khác có thể xảy ra sau này, Công ty KATA cũng nên đăng ký ngay dấu hiệu này làm nhãn hiệu cho mình.

Cách này có hiệu quả khá cao, bởi chứng minh tên thương mại của Công ty KATA là khá dễ dàng. Tuy nhiên, việc đánh giá khả năng gây nhầm lẫn lại phụ thuộc nhiều vào người tiêu dùng. Công ty KATA sẽ mất thêm chi phí và thời gian để điều tra, thu thập thông tin, số liệu từ phía khách hàng.

Cách thứ tư: Công ty KATA chứng minh dấu hiệu “KATA” là nhãn hiệu nổi tiếng cho dịch vụ du lịch của mình.

Cơ sở pháp lý của cách này là điểm I khoản 2 Điều 74 Luật SHTT: “Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu nổi tiếng của người khác đăng ký cho hàng hóa, dịch vụ trùng hoặc tương tự với hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu nổi tiếng hoặc đăng ký cho hàng hóa, dịch vụ không tương tự, nếu việc sử dụng dấu hiệu đó có thể làm ảnh hưởng đến khả năng phân biệt của nhãn hiệu nổi tiếng hoặc đăng ký nhãn hiệu nhằm lợi dụng uy tín của nhãn hiệu nổi tiếng”.

Để chứng minh “KATA” là nhãn hiệu nổi tiếng, Công ty KATA phải tiến hành đánh giá ít nhất một trong các tiêu chí được quy định tại Điều 75 Luật SHTT như: Số lượng người tiêu dùng liên quan đã biết đến nhãn hiệu thông qua việc sử dụng dịch vụ mang nhãn hiệu hoặc thông qua quảng cáo; phạm vi lãnh thổ mà dịch vụ mang nhãn hiệu đã được lưu hành; thời gian sử dụng liên tục của nhãn hiệu…

Còn các vấn đề liên quan đến dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn thì chứng minh tương tự như cách thứ hai và thứ ba. Theo quy định của pháp luật SHTT, hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu trùng hay tương tự không xem xét đến, nên theo cách này, không xét đến dịch vụ mà cả hai công ty này đang kinh doanh.

Cách làm này có khả năng thành công rất thấp. Việc chứng minh một nhãn hiệu nổi tiếng là không dễ dàng, hơn nữa có thể lộ các thông tin bí mật của công ty. Cách này chỉ khả thi đối với những công ty được đông đảo người tiêu dùng biết đến, chất lượng và uy tín tốt.   

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2009;
  2. Nghị định số 105/2006/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ, đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 119/2010/NĐ-CP;
  3. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật sở hữu trí tuệ, Nxb.CAND, Hà Nội – 2009;
  4. Đỗ Thị Hồng, Xác định khả năng phân biệt của nhãn hiệu theo quy định của pháp luật Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, Hà Nội – 2008.

Công chứng viên là người thực hiện hoạt động nghề nghiệp chuyên trách

Công chứng viên là người thực hiện hoạt động nghề nghiệp chuyên trách.

Khi đất nước chuyển sang mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, các thành phần kinh tế trong xã hội phát triển mạnh mẽ và kèm theo đó là một số lượng lớn các giao dịch, hợp đồng cũng như bản dịch được thực hiện trên phạm vi quốc gia cũng như quốc tế. Thực tế khách quan trên yêu cầu Nhà nước cần phải có những công cụ hữu hiệu để quản lý, điều phối các mối quan hệ trên, tạo môi trường pháp lý trong sạch nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Các quy định về công chứng là một trong những công cụ đó. Cùng với sự ra đời của hoạt động công chứng là sự xuất hiện của một nghề nghiệp mới, một chức danh tư pháp mới, đó là công chứng viên. Để tìm hiểu rõ hơn về vấn đề này, em chọn đề bài số 4: “Chứng minh rằng: công chứng viên là người thực hiện hoạt động nghề nghiệp chuyên trách” làm bài tập lớn của mình.

1. Một số khái niệm về công chứng viên

Theo quy định tại Điều 2 Luật Công chứng năm 2014 thì “Công chứng viên là người có đủ tiêu chuẩn theo quy định của Luật này, được Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm để hành nghề công chứng” (khoản 2). Từ khái niệm này, có thể rút ra một số đặc điểm của công chứng viên như sau: Một là, công chứng viên là tên gọi của một chức danh nghề nghiệp của những người hành nghề công chứng. Hai là, công chứng viên phải có đủ tiêu chuẩn do pháp luật quy định về phẩm chất, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Ba là, công chứng viên phải được bổ nhiệm bởi Bộ trưởng Bộ Tư pháp, người đứng đầu cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành đối với các dịch vụ pháp lý. Bốn là, công chứng viên phải hoạt động nghề nghiệp trong tổ chức hành nghề công chứng.

Từ quy định tại khoản 2 Điều 2 Luật Công chứng năm 2014, có thể thấy rằng công chứng viên là người hành nghề công chứng. Theo đó, “Công chứng là việc công chứng viên của một tổ chức hành nghề công chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản (sau đây gọi là hợp đồng , giao dịch), tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt (sau đây gọi là bản dịch) mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng” (khoản 1 Điều 2 Luật Công chứng năm 2014).

2. Công chứng viên là người thực hiện hoạt động nghề nghiệp chuyên trách

Để chứng minh công chứng viên là người thực hiện hoạt động nghề nghiệp chuyên trách, người viết dựa trên hai vấn đề lớn sau:

2.1. Công chứng viên là người thực hiện hoạt động nghề nghiệp

“Nghề nghiệp”, theo Từ điển giải thích thuật ngữ luật học, là “công việc chuyên làm theo sự phân công hoặc theo ý thích của chủ thể”[1]. Hoạt động nghề nghiệp của công chứng viên chính là hoạt động công chứng, đã được ghi nhận rõ tại khoản 2 Điều 2 Luật Công chứng năm 2014. Tính nghề nghiệp này thể hiện ở việc công chứng viên thực hiện hoạt động công chứng một cách chuyên nghiệp, dựa trên những kiến thức, kĩ năng chuyên môn của mình đã được đào tạo, bồi dưỡng một cách bài bản, chuyên sâu. Hiện nay việc đào tạo, bồi dưỡng nghề công chứng do Học viện Tư pháp chủ trì.

Để trở thành công chứng viên, phải đáp ứng các tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định của pháp luật. Điều 8 Luật Công chứng năm 2014 quy định tiêu chuẩn công chứng viên bao gồm: “Công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt và có các tiêu chuẩn sau đây thì được xem xét, bổ nhiệm công chứng viên:

  1. Có bằng cử nhân luật;
  2. Có thời gian công tác pháp luật từ 05 năm trở lên tại các cơ quan, tổ chức sau khi đã có bằng cử nhân luật;
  3. Tốt nghiệp khóa đào tạo hành nghề công chứng quy định tại Điều 9 của Luật này hoặc hoàn thành khóa bồi dưỡng hành nghề công chứng theo quy định tại khoản 2 Điều 10 của Luật này;
  4. Đạt yêu cầu kiểm tra kết quả tập sự hành nghề công chứng;
  5. Bảo đảm sức khỏe để hành nghề công chứng.”

Bên cạnh những tiêu chuẩn về nhân thân, để trở thành công chứng viên cần phải đáp ứng các tiêu chuẩn về kiến thức và kinh nghiệm. Việc quy định mặt bằng kiến thức pháp lý chung (ví dụ là cử nhân luật) cũng như kiến thức chuyên sâu (ví dụ chứng chỉ tốt nghiệp đào tạo nghề công chứng) cho những công chứng viên tương lai là điều tối cần thiết. Chỉ khi nào được trang bị một lượng kiến thức nhất định thì công chứng viên mới có thể đáp ứng yêu cầu của công việc. Một tiêu chuẩn nữa là tiêu chuẩn về kinh nghiệm công tác. Trước khi được bổ nhiệm làm công chứng viên, các ứng viên phải có thâm niên công tác pháp luật ít nhất 5 năm.

Không chỉ phải đáp ứng những tiêu chuẩn trên, sau khi có giấy chứng nhận tốt nghiệp khóa đào tạo nghề công chứng hoặc giấy chứng nhận bồi dưỡng nghề công chứng, người đó cần phải đăng ký tập sự tại tổ chức hành nghề công chứng theo quy định tại Điều 11 Luật Công chứng năm 2014.

Việc pháp luật xác định chặt chẽ tiêu chuẩn cho chức danh công chứng viên xuất phát từ những nét đặc thù của công chứng, có thể kể đến như:

+ Phạm vi hoạt động chuyên môn công chứng rất rộng lớn, liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau, do đó đòi hỏi công chứng viên phải có một trình độ pháp luật sâu rộng cũng như kinh nghiệm thực tiễn phong phú, đa dạng. Ví dụ, trong tình huống công chứng viên là người trực tiếp soạn thảo hợp đồng cho người yêu cầu công chứng khi họ đề nghị. Do yêu cầu công chứng loại này rất phong phú và đa dạng về chủng loại, thỏa thuận của các bên đương sự cũng rất phức tạp… nên yếu tố kinh nghiệm và năng lực của công chứng viên được đặt lên hàng đầu. Đặc biệt, việc cho phép nhiều chức danh tư pháp và bổ trợ tư pháp cũng như một số học hàm, học vị nhất định miễn đào tạo nghề công chứng không những tiết kiệm được chi phí đào tạo, giảm thiểu thời gian xây dựng đội ngũ công chứng viên mà còn tận dụng được kiến thức, kinh nghiệm quý báu của những cán bộ từng trải trong lĩnh vực luật pháp nói chung và trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp nói riêng.

+ Do áp lực công việc cao nên công chứng viên phải có một khả năng quyết đoán, có thể xử lý, đưa ra quyết định chính xác đối với các yêu cầu công chứng phức tạp trong một thời gian ngắn. Có thể lấy ví dụ đối với hợp đồng, giao dịch do đương sự tự nguyện yêu cầu công chứng. Sau khi tìm hiểu ý chí chủ quan của người yêu cầu công chứng, công chứng viên căn cứ quy định của pháp luật có liên quan, giấy tờ, tài liệu mà đương sự xuất trình… quyết định có giải quyết hay không yêu cầu công chứng đó.

Để thực hiện được hoạt động nghề nghiệp này, công chứng viên phải hành nghề tại Phòng công chứng hoặc Văn phòng công chứng (Điều 34 Luật Công chứng năm 2014), được tổ chức hành nghề công chứng đăng ký hành nghề tại Sở Tư pháp nơi tổ chức hành nghề tư pháp hoạt động (Điều 35 Luật Công chứng năm 2014) và được cấp Thẻ công chứng viên, “Thẻ công chứng viên là căn cứ chứng minh tư cách hành nghề công chứng của công chứng viên” (Điều 36 Luật Công chứng năm 2014). Các thủ tục đề nghị bổ nhiệm công chứng viên, đăng ký hành nghề công chứng, cấp thẻ công chứng viên được hướng dẫn cụ thể tại Thông tư số 06/2015/TT-BTP Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công chứng của Bộ Tư pháp ngày 15/06/2015.

2.2. Hoạt động nghề nghiệp của công chứng viên là chuyên trách

Dù công chứng viên hoạt động tại Phòng công chứng với tư cách là công chức, viên chức hay Văn phòng công chứng với tư cách là công chứng viên hợp danh hay theo chế độ hợp đồng thì công chứng viên phải hoạt động chuyên trách. “Chuyên trách” có nghĩa là “chuyên chỉ làm và chỉ chịu trách nhiệm một việc nào đó”[2]. Theo cách hiểu như trên, hoạt động nghề nghiệp chuyên trách của công chứng viên được thể hiện ở các mặt sau:

  • Công chứng viên không kiêm nhiệm công việc thường xuyên khác

Một số quốc gia cho phép công chứng viên được kiêm nhiệm, ví dụ như tại Cộng hòa Ba Lan, công chứng viên có thể kiêm nhiệm một số công việc nhất định với sự đồng ý của cơ quan có thẩm quyền, pháp luật công chứng của Cộng hòa Liên bang Đức cho phép công chứng viên chỉ có thể hành nghề công chứng kiêm luật sư thì ở Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, công chứng viên không những chỉ được phép hành nghề luật sư mà còn có thể kiêm nhiệm rất nhiều công việc khác, thậm chí cả những công việc không có bất kỳ mối liên hệ nào đến lĩnh vực luật pháp.[3]

Tuy nhiên, pháp luật công chứng Việt Nam hiện nay quy định công chứng viên không được kiêm nhiệm công việc thường xuyên khác, được quy định tại điểm k khoản 1 Điều 7 Luật Công chứng năm 2014, cụ thể, nghiêm cấm công chứng viên “…kiêm nhiệm công việc thường xuyên khác”. Quy định này của Luật Công chứng năm 2014 có khác biệt với quy định tại Điều 2 Nghị định số 04/2013/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công chứng năm 2006 của Chính phủ ngày 07/01/2013 (đã hết hiệu lực): “Công chứng viên phải hành nghề chuyên trách; không được đồng thời hành nghề khác, không được kiêm nhiệm các chức danh tư pháp như luật sư, đấu giá viên, trọng tài viên, thừa phát lại hoặc các chức danh tư pháp khác”. Như vậy, pháp luật công chứng hiện nay đã mở rộng hơn phạm vi các công việc mà công chứng viên không được kiêm nhiệm. Theo đó, không chỉ là các ngành nghề khác, các chức danh tư pháp khác như luật sư, đấu giá viên, trọng tài viên, thừa phát lại… mà hiện nay, pháp luật không cho phép công chứng viên kiêm nhiệm các công việc có tính thường xuyên nói chung. Tuy nhiên, cũng theo pháp luật hiện hành có thể hiểu rằng, công chứng viên được kiêm nhiệm các công việc không có tính thường xuyên. Quy định này xuất phát từ tính chất của hoạt động công chứng, đòi hỏi công chứng viên phải chuyên tâm vào hoạt động nghề nghiệp của mình, không bị ảnh hưởng, chi phối bởi các công việc khác, từ đó nâng cao trách nhiệm của công chứng viên đối với hoạt động công chứng.

Mặc dù công chứng viên là người hành nghề công chứng, tuy nhiên, không có nghĩa là hoạt động công chứng chỉ do công chứng viên thực hiện. Theo quy định tại khoản 3 Điều 69 Luật Công chứng năm 2014, viên chức lãnh sự, viên chức ngoại giao cũng được thực hiện công chứng ở nước ngoài, tức những chủ thể này được kiêm nhiệm. Đây là một ngoại lệ của hoạt động công chứng, phù hợp với điều kiện xã hội và tương thích với quy định của pháp luật quốc tế.

  • Tự chịu trách nhiệm về hoạt động nghề nghiệp của mình

Mặc dù pháp luật yêu cầu công chứng viên phải hành nghề tại Phòng công chứng hoặc Văn phòng công chứng, tuy nhiên chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động công chứng không phải là tổ chức hành nghề công chứng mà công chứng viên đang làm việc mà chính là bản thân công chứng viên. Theo điểm g khoản 2 Điều 17 Luật Công chứng năm 2014, một trong những nghĩa vụ của công chứng viên là: “Chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước người yêu cầu công chứng về văn bản công chứng của mình; chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động của Văn phòng công chứng mà mình là công chứng viên hợp danh”. Điều 71 Luật Công chứng năm 2014 quy định: “Công chứng viên vi phạm quy định của Luật này thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý ký luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật”. Quy định như vậy là hợp lý, bởi lẽ, công chứng viên là người trực tiếp thực hiện hoạt động công chứng, từ khi tiếp nhận yêu cầu công chứng cho tới khi hoàn thành việc công chứng; trong việc đánh giá, kiểm tra năng lực hành vi của người yêu cầu công chứng, hướng dẫn người yêu cầu công chứng thực hiện thủ tục, trong việc ghi lời chứng…

3. Thực tiễn hoạt động nghề nghiệp của công chứng viên hiện nay

Nghề công chứng đã trở thành nghề xã hội hóa từ khi Luật Công chứng năm 2006 ra đời và vẫn được Luật Công chứng năm 2014 giữ nguyên tinh thần. Thực hiện chủ trương xã hội hóa hoạt động công chứng mà nguồn nhân lực tham gia hoạt động công chứng đã tăng lên nhanh chóng, đáp ứng kịp thời nhu cầu công chứng của người dân, hạn chế tình trạng quá tải, ùn tắc hoặc đi lại xa. Tuy nhiên, nghề công chứng cũng có những mặt trái khi không ít những rủi ro, sai phạm trong khi hành nghề xảy ra, xuất phát từ cả nguyên nhân khách quan và chủ quan. Có thể kể đến như nạn gian dối, lừa đảo, giả mạo giấy tờ, giả mạo người yêu cầu công chứng mà công chứng viên do sơ suất trong nghiệp vụ không phát hiện ra; hay như vụ việc “Dịch vụ người chết sống lại… giá 70 triệu đồng” xuất phát từ sự vi phạm đạo đức nghề nghiệp, vi phạm pháp luật của công chứng viên… Thiết nghĩ, quy định hiện hành của pháp luật nước ta còn nhẹ, chưa có tính răn đe, nghiêm khắc mà còn xảy ra những hiện tượng trên?

Luật Công chứng năm 2014 đã mở rộng phạm vi công chứng so với trước kia, theo đó, bên cạnh hợp đồng, giao dịch, công chứng viên còn được giao nhiệm vụ và phải chịu trách nhiệm về tính chính xác của nội dung bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài và ngược lại. Quy định này không chỉ giúp giảm tải công việc cho các Phòng Tư pháp vốn đang thiếu biên chế mà còn thể hiện tính chuyên nghiệp của công chứng viên. Tuy nhiên, thực tế là các công chứng viên thường e ngại khi chứng nhận nội dung vì không nắm được nội dung bản dịch có chuẩn xác hay không, trong khi theo quy định, công chứng viên không được từ chối yêu cầu công chứng mà không có lý do chính đáng. Trong khi đó, theo quy định, việc dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc ngược lại để công chứng do người phiên dịch là cộng tác viên của tổ chức hành nghề công chứng thực hiện, tức cần phải có một đội ngũ cộng tác viên dịch thuật trình độ cao, nhiều kinh nghiệm. Đây là điều không dễ đáp ứng được.

Từ thực tế hoạt động nghề nghiệp của công chứng viên như đã trình bày, người viết có một số kiến nghị như sau:

+ Tăng cường hơn nữa công tác đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên cho công chứng viên, nhằm nâng cao năng lực, trình độ cho công chứng viên.

+ Siết chặt quy định của pháp luật về xử lý vi phạm trong hoạt động công chứng như tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra; tăng mức độ xử lý vi phạm hành chính, hình sự…

+ Nhà nước cần hỗ trợ các văn phòng công chứng trong việc cộng tác với người dịch nhằm phục vụ cho hoạt động công chứng bản dịch, có thể thành lập hoặc cho phép thành lập tổ chức chuyên thực hiện việc dịch văn bản, giấy tờ; hoặc cho phép các tổ chức hành nghề công chứng liên kết với các cơ sở đào tạo về ngôn ngữ…

Cụm từ “công chứng” giờ đã trở nên quen thuộc với người dân. Tuy nhiên, một số bất cập từ hoạt động công chứng đã và đang làm xấu đi hình ảnh của công chứng viên. Do vậy, tăng cường quản lý, thiết chặt các quy định của pháp luật là việc làm rất cần thiết hiện nay.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Luật Công chứng năm 2014;
  2. Thông tư số 06/2015/TT-BTP Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công chứng của Bộ Tư pháp ngày 15/06/2015;
  3. Lê Thị Thu Hiền, Hoạt động công chứng ở nước ta hiện nay, Khóa luận tốt nghiệp, Hà Nội – 2011;
  4. Tuấn Đạo Thanh, Nghiên cứu so sánh pháp luật về công chứng một số nước trên thế giới nhằm góp phần xây dựng luận cứ khoa học cho việc hoàn thiện pháp luật về công chứng ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ luật học, Hà Nội – 2008;

[1] Trường Đại học Luật Hà Nội, Từ điển giải thích thuật ngữ luật học, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội – 1999, trang 83

[2] Đại từ điển tiếng Việt, Nguyễn Như Ý (Chủ biên), Nxb.Văn hóa thông tin, năm 1999, trang 406

[3] Tuấn Đạo Thanh, Nghiên cứu so sánh pháp luật về công chứng một số nước trên thế giới nhằm góp phần xây dựng luận cứ khoa học cho việc hoàn thiện pháp luật về công chứng ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ luật học, Hà Nội – 2008, trang 56

Nêu những sai sót thường gặp của người tư vấn khi thỏa thuận, soạn thảo ký kết hợp đồng tư vấn pháp luật và đưa ra những giải pháp khắc phục. Minh họa bằng các tình huống thực tiễn

Nêu những sai sót thường gặp của người tư vấn khi thỏa thuận, soạn thảo ký kết hợp đồng tư vấn pháp luật và đưa ra những giải pháp khắc phục. Minh họa bằng các tình huống thực tiễn.

Người ta thường nghĩ người tư vấn là một nhà hùng biện mà hiếm khi cho rằng họ cũng là người soạn thảo văn bản giỏi. Tuy nhiên, những kỹ năng của người tư vấn để soạn thảo văn bản, đặc biệt là hợp đồng tư vấn pháp luật, là một trong những kỹ năng căn bản nhất mà bất kỳ người tư vấn nào cũng phải nắm vững. Do đó, em xin chọn đề bài 11 làm bài tập học kỳ của mình: Nêu những sai sót thường gặp của người tư vấn khi thỏa thuận, soạn thảo ký kết hợp đồng tư vấn pháp luật và đưa ra những giải pháp khắc phục. Minh họa bằng các tình huống thực tiễn”.

1. Khái quát về thỏa thuận, soạn thảo ký kết hợp đồng tư vấn pháp luật

  • Tư vấn pháp luật là gì

Tư vấn pháp luật là việc giải đáp pháp luật, hướng dẫn ứng xử đúng pháp luật, cung cấp dịch vụ pháp lý nhằm giúp khách hàng thực hiện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ[1].

Người tư vấn pháp luật có thể là trợ giúp viên pháp lý, cộng tác viên, Luật sư, Tư vấn viên pháp luật. Các chủ thể này phải đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật về hoạt động tư vấn pháp luật.

  • Thỏa thuận, soạn thảo hợp đồng tư vấn pháp luật

Hợp đồng tư vấn pháp luật là một loại hợp đồng dịch vụ pháp lý. Không phải tất cả các buổi tiếp xúc khách hàng đều có thể đi đến giai đoạn thỏa thuận hợp đồng tư vấn pháp luật. Đối với những vụ việc không phức tạp, có quy trình rõ ràng và biểu phí ấn định trọn gói thì khách hàng và người tư vấn có thể thỏa thuận và ký kết hợp đồng ngay trong buổi tiếp xúc khách hàng. Ngoài ra có rất nhiều vụ việc mà người tư vấn cần nghiên cứu hồ sơ trước khi trao đổi với khách hàng những nội dung của hợp đồng. Trước khi thỏa thuận về hợp đồng tư vấn, với những lý do riêng phát sinh từ mỗi vụ việc thì người tư vấn có thể đề nghị khách hàng cung cấp thêm các thông tin, tài liệu liên quan đến vụ việc hay khách hàng đề nghị người tư vấn cung cấp bảng chào dịch vụ trước khi khách hàng trao đổi cụ thể hơn về các nội dung của hợp đồng tư vấn pháp luật.

Việc soạn thảo hợp đồng tư vấn pháp luật diễn ra sau khi người tư vấn và khách hàng thỏa thuận về hợp đồng này. Trong hoạt động tư vấn pháp luật, người tư vấn phải soạn thảo rất nhiều văn bản khác nhau như thư chào phí, thư tư vấn, thư yêu cầu cung cấp thông tin bổ sung, thư yêu cầu tính phí, bảng kê thời gian, hợp đồng tư vấn pháp luật…

2. Một số sai sót thường gặp của người tư vấn khi thỏa thuận, soạn thảo ký kết hợp đồng tư vấn pháp luật và giải pháp khắc phục

2.1. Một số sai sót thường gặp của người tư vấn khi thỏa thuận, soạn thảo ký kết hợp đồng tư vấn pháp luật

  • Không chuẩn bị hoặc chuẩn bị không chu đáo về hợp đồng tư vấn pháp lý và các tài liệu liên quan

Không ít người tư vấn đã không chuẩn bị trước hoặc chuẩn bị không đầy đủ về hợp đồng tư vấn pháp luật và những tài liệu liên quan. Đến khi khách hàng và người tư vấn đi đến thỏa thuận về hợp đồng tư vấn pháp luật, người tư vấn mới đi in, lục tìm hay soạn thảo… Việc này tuy không mất quá nhiều thời gian nhưng ảnh hưởng không nhỏ đến hình ảnh của người tư vấn trong mắt khách hàng.

  • Không suy xét kỹ lưỡng các điều khoản của hợp đồng tư vấn pháp luật

Về thời hạn thực hiện hợp đồng tư vấn pháp luật

Việc xác định thời hạn tư vấn pháp lý đòi hỏi người tư vấn phải có sự tính toán kỹ lưỡng những vấn đề sau: tính chất vụ việc đơn giản hay phức tạp, thời gian sử dụng để thực hiện nội dung tư vấn, những yếu tố khách quan có thể ảnh hưởng đến quá trình thực hiện công việc tư vấn pháp luật, thời điểm bắt đầu thời hạn thực hiện hợp đồng tư vấn pháp lý. Việc không suy xét kỹ lưỡng những vấn đề trên sẽ dẫn đến việc không hoàn thành hoạt động tư vấn đúng thời hạn cho khách hàng hoặc có thể khách hàng sẽ có sự so sánh với những người tư vấn khác cũng thực hiện hoạt động tư vấn.

  • Phương thức thanh toán và mức thù lao, các khoản chi phí (nếu có)

Việc xác định mức thù lao đối với hoạt động tư vấn pháp luật cho khách hàng, người tư vấn thường dựa vào các căn cứ: tính chất vụ việc tư vấn; thời gian, công sức của người tư vấn sử dụng để tư vấn; trình độ học vấn của người tư vấn; kinh nghiệm, uy tín của người tư vấn. Dựa vào các căn cứ trên, người tư vấn có thể thống nhất với khách hàng về các phương thức tính phí sau: giờ làm việc của người tư vấn; vụ, việc với mức thù lao trọn gói; vụ, việc với mức thù lao tính theo tỷ lệ phần trăm của giá ngạch vụ kiện hoặc giá trị hợp đồng, giá dự án. Trong hoạt động tư vấn pháp luật, có thể người tư vấn sẽ không căn cứ hoặc căn cứ không đúng để xác định mức thù lao và phương thức thanh toán phù hợp. Khi đưa ra mức thù lao, người tư vấn có thể sẽ không giải thích hoặc giải thích không rõ ràng cũng như ghi nhận không cụ thể trong hợp đồng tư vấn pháp luật rằng mức phí đó đã bao gồm những cho phí gì và chưa bao gồm chi phí gì (ví dụ như thuế VAT, các phí và lệ phí Nhà nước,…). Từ đó, có thể dẫn đến việc khách hàng không hiểu đúng về các điều khoản hợp đồng mà không ký kết hợp đồng hoặc phát sinh tranh chấp giữa người tư vấn và khách hàng khi thực hiện hợp đồng tư vấn pháp luật.

  • Không dự tính các khả năng phát sinh

Trong quá trình thực hiện tư vấn pháp luật, có thể xảy ra những tình huống mà cả người tư vấn và khách hàng đều không mong muốn. Đó có thể là các sự kiện bất khả kháng; một bên vi phạm hợp đồng; chấm dứt nửa chừng việc thực hiện hợp đồng; thay thế người tư vấn bằng người tư vấn khác trong cùng một tổ chức hành nghề đối với một công việc cụ thể; khi công việc đã hoàn tất mà khách hàng không muốn thực hiện cam kết trong hợp đồng về nghĩa vụ thanh toán (nhất là vấn đề thưởng khi đạt được mục tiêu trong vụ việc dân sự, kinh tế)… Đây là những vướng mắc thực tế thường gặp trong quan hệ luật sư với khách hàng[2].

  • Mắc lỗi kỹ thuật trong hợp đồng tư vấn pháp luật và tài liệu liên quan

Tất cả các văn bản do người tư vấn soạn thảo phải đảm bảo tính logic; súc tích; ngôn từ chính xác, thích hợp; văn phong rõ ràng, dễ hiểu; trình bày cẩn thận, sáng sủa. Khi soạn thảo văn bản, người tư vấn có thể mắc các lỗi như: diễn đạt dài dòng hoặc lạm dụng sự súc tích, diễn đạt quá ngắn gọn đến mức khách hàng không hiểu được (ví dụ: không thể viết cho khách hàng rằng hợp đồng của họ bị vô hiệu vì trái với Điều 122 Bộ luật dân sự năm 2005 mà không giải thích lý do cụ thể nào khiến cho hợp đồng bị xem là vô hiệu); sử dụng từ ngữ có thể hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau hay sử dụng từ ngữ chuyên môn hay thuật ngữ pháp lý cổ nay không còn được sử dụng như bãi nại, khế ước… mà khách hàng không thể hiểu được; hay những sai sót trong trình bày văn bản như lỗi chính tả, lỗi ngữ pháp, ý bị lặp lại, font chữ…

2.2. Giải pháp khắc phục

– Để chuẩn bị cho việc thỏa thuận ký kết hợp đồng tư vấn pháp lý diễn ra thuận lợi, người tư vấn nên chuẩn bị trước mẫu hợp đồng dịch vụ tư vấn pháp lý với những điều khoản cơ bản, biểu giá… sẽ giúp khách hàng hiểu rõ hơn về các hoạt động mà người tư vấn sẽ tiến hành, thể hiện được sự chuyên nghiệp, góp phần nâng cao uy tín của người tư vấn.

– Suy xét kỹ lưỡng mọi vấn đề trước khi thỏa thuận, soạn thảo hợp đồng tư vấn pháp luật. Đặc biệt, người tư vấn cần phải đảm bảo mình có đủ năng lực để thực hiện việc tư vấn cho khách hàng. Bởi lẽ mọi khách hàng đều có quyền đòi hỏi một dịch vụ tư vấn pháp lý được cung cấp bởi người tư vấn có trình độ. Trên thực tế có nhiều người tư vấn để đảm bảo an toàn nghề nghiệp đã đưa ra thời hạn thực hiện việc tư vấn dài hơn dự tính. Về thời điểm bắt đầu thời hạn tư vấn pháp lý, có thể dựa trên các mốc thời gian mà các tổ chức hành nghề luật sư thường quy định về cung cấp dịch vụ pháp lý nói chung sau: (i) kể từ ngày ký; (ii) kể từ ngày khách hàng cung cấp đầy đủ hồ sơ, tài liệu, chứng cứ và thông tin theo yêu cầu bằng văn bản của luật sư; (iii) kể từ ngày khách hàng thanh toán một phần hoặc toàn bộ phí dịch vụ pháp lý; (iv) kể từ ngày cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận tiếp nhận hồ sơ; (v) kế hoạch công việc của luật sư.

– Mô tả, giải thích rõ ràng, đầy đủ các vấn đề trong hợp đồng, hỏi lại khách hàng còn vấn đề nào mà khách hàng chưa hiểu rõ, cần biết thêm những thông tin gì nữa không…

– Dự kiến các tình huống có thể phát sinh cũng như các nguyên tắc, giải pháp cụ thể để có thể khắc phục, giải quyết tốt các tình huống đó. Có thể thỏa thuận thêm các điều khoản khác không trái quy định của pháp luật và đạo đức như: luật áp dụng hợp đồng (trường hợp tư vấn cho người nước ngoài); điều khoản về chấm dứt hợp đồng trước thời hạn; điều khoản ghi nhận các cam đoan, bảo đảm của mỗi bên…

3. Tình huống thực tiễn

Một trường hợp xảy ra cách đây vài năm: một tổ chức hành nghề kết hợp với vài chủ thể khác (do tổ chức hành nghề đứng tên ký hợp đồng dich vụ pháp lý với khách hàng) trong việc đề nghị Ủy ban nhân dân tỉnh trả hết phần tiền do thu hồi đất của nhiều hộ dân trong phạm vi một số xã, với tổng số tiền khoảng 18 tỷ đồng. Vấn đề này Ủy ban nhân dân tỉnh đã có văn bản khẳng định việc tỉnh giữ lại số tiền này là cần thiết và đúng quy định của pháp luật. Số lượng họ rất đông tới hàng trăm hộ, đã làm giấy ủy quyền cho một nhóm người ký kết hợp đồng với một tổ chức hành nghề luật sư, nội dung là tổ chức hành nghề được hưởng 50% giá trị đòi được. Sau đó, Ủy ban nhân dân tỉnh đã có quyết định trả lại số tiền này cho người dân. Khi các hộ dân này nhận được tiền và trả cho tổ chức hành nghề được khoảng vài tỷ đồng thì trong cuộc tiếp xúc cử tri, lãnh đạo tỉnh tuyên bố người dân đương nhiên được nhận số tiền này, luật sư không có vai trò gì nên các hộ dân đã không tiếp tục trả tiền cho luật sư nữa. Khi đó cũng xuất hiện vướng mắc, không thống nhất giữa tổ chức hành nghề với vài chủ thể khác đã tham gia cùng giải quyết dịch vụ này. Vướng mắc và tranh chấp nhiều bên đã xảy ra.

Như vậy, để tránh tranh chấp xảy ra, phải thiết lập hợp đồng đầy đủ, rõ ràng, dự kiến các tình huống có thể xảy ra và các nguyên tắc giải quyết tranh chấp nhằm đảm bảo quyền lợi cho cả người tư vấn và khách hàng. Trong trường hợp cần thiết, yêu cầu các chủ thể làm giấy ủy quyền cho người đại diện đúng theo quy định của pháp luật. Nếu không xác định được rõ, có thể phát sinh tranh chấp khi những người này không thống nhất về quan điểm xem xét giải quyết vụ việc.

Bên cạnh kiến thức chuyên môn, kinh nghiệm, người tư vấn cần phải thành thục nhiều kỹ năng, trong đó có kỹ năng về thỏa thuận, soạn thảo hợp đồng tư vấn pháp luật. Những kỹ năng này cần được rèn luyện một cách cẩn thận, thường xuyên, nghiêm túc.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. TS. Phan Chí Hiếu, ThS. Nguyễn Thị Hằng Nga, Giáo trình Kỹ năng tư vấn pháp luật, Nxb.Công an nhân dân, Hà Nội – 2012;
  2. Ths. LS Đào Ngọc Lý, Những vướng mắc thường gặp trong thực tiễn hành nghề luật sư, Tạp chí Luật sư Việt Nam, số 1+2 Tháng 1+2/2016;

[1] TS. Phan Chí Hiếu, ThS. Nguyễn Thị Hằng Nga, Giáo trình Kỹ năng tư vấn pháp luật, Nxb.Công an nhân dân, Hà Nội – 2012, trang 10

[2]  Ths.LS Đào Ngọc Lý, Những vướng mắc thường gặp trong thực tiễn hành nghề luật sư, Tạp chí Luật sư Việt Nam, số 1+2/Tháng 1+2/2016, trang 61

Tranh chấp về xác định quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng

Tranh chấp về xác định quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng.

Nội dung vụ việc

Vụ việc dựa trên Bản án số 44/DSST ngày 15/11/2004 Tòa án nhân dân thành phố TN; Bản án dân sự phúc thẩm số 07/DSPT ngày 09/03/2005 Tòa án nhân dân thành phố TN và Quyết định số 102/2008/DS-GĐT ngày 27/05/2008 của Tòa án nhân dân tối cao (có thay đổi một số tình tiết để phù hợp với yêu cầu của đề bài). Vụ việc như sau:

Theo đơn khởi kiện và lời khai của bà Đỗ Thị Trông (sinh năm 1937), khu đất hiện gia đình bà đang quản lý, sử dụng là do bà và chồng là ông Bùi Văn Đăng (hai ông bà kết hôn năm 1961) mua từ năm 1968 (trong thời kỳ hôn nhân) với diện tích khoảng 1000 m². Do kinh tế khó khăn nên bà đã bán bớt. Năm 2008, ông Đăng chết, bà bán căn nhà hai tầng trên diện tích 115, 5 m² để lấy tiền trả nợ và xây một căn nhà cấp 4 trên phần còn lại để ở từ đó đến nay. Đầu năm 2010, anh Trí (sinh năm 1976, con trai của ông Đăng và bà Trông) mời bà ra khỏi nhà vì anh Trí đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 146 m² đất trên phần đất mà bà đang sử dụng. Bà cho biết việc ông Đăng tặng cho vợ chồng anh Trí diện tích đất trên là không có ý kiến của bà.

Anh Trí, chị Nguyễn Thị Hằng (vợ anh Trí) thừa nhận diện tích bà Trông đang quản lý, sử dụng là tài sản của bà Trông và ông Đăng. Việc anh đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là do ông Đăng làm hợp đồng tặng cho cho vợ chồng anh chị từ tháng 12/2005 (có xác nhận đồng ý của phòng xây dựng nhà đất thành phố TN). Anh chị hoàn tất thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2007. Khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bà Trông cũng biết nên không chấp nhận việc bà Trông đòi quyền sử dụng đất. Anh Trí, chị Hằng đồng ý vẫn để bà Trông ở nhưng không đồng ý trả quyền sử dụng đất cho bà Trông vì sợ bà sẽ bán đất.

GIẢI QUYẾT YÊU CẦU ĐỀ BÀI

1. Phân tích vụ việc tranh chấp về xác định quyền sử dụng đất là tài sản chung

(Vụ việc được phân tích theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 (BLDS năm 2015) và các văn bản pháp luật khác phù hợp với vụ việc).

  • Hình thức sở hữu đối với tài sản chung của vợ chồng

Hình thức sở hữu đối với tài sản chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia. “Sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia” (khoản 1 Điều 213 BLDS năm 2015), “Các chủ sở hữu chung hợp nhất có quyền, nghĩa vụ ngang nhau đối với tài sản thuộc sở hữu chung” (khoản 2 Điều 210 BLDS năm 2015). Do đó, trong vụ việc này, đối với mọi tài sản thuộc sở hữu chung của ông Đăng và bà Trông, hai ông bà đều có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình phát sinh từ các giao dịch dân sự.

  • Xác định quyền sử dụng đất đối với phần đất mà bà Trông đang quản lý, sử dụng là tài sản chung của bà Trông và ông Đăng

Trước hết, tại thời điểm ông Đăng và bà Trông kết hôn, Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 được áp dụng, do hai ông bà kết hôn năm 1961, căn cứ theo khoản 1 Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: “Quan hệ hôn nhân và gia đình được xác lập trước ngày Luật này có hiệu lực thì áp dụng pháp luật về hôn nhân và gia đình tại thời điểm xác lập để giải quyết”. Theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959, chế độ tài sản của vợ chồng là chế độ cộng đồng toàn sản, tức mọi tài sản vợ chồng có trước và trong thời kỳ hôn nhân đều thuộc sở hữu chung của vợ chồng: “Vợ và chồng đều có quyền sở hữu, hưởng thụ và sử dụng ngang nhau đối với tài sản có trước và sau khi cưới” (Điều 15). Do vậy, mọi tài sản mà ông Đăng và bà Trông có được từ trước và trong thời kỳ hôn nhân của ông bà là tài sản chung của ông bà. Trong đó, “tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản” (Điều 105 BLDS năm 2015),

Đối với quyền sử dụng đất mảnh đất mà bà Trông đang quản lý, sử dụng được bà Trông và ông Đăng mua trong thời kỳ hôn nhân hợp pháp, cho nên, xác định đây là tài sản chung của hai ông bà. Trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình, “vợ chồng thỏa thuận hoặc ủy quyền cho nhau chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung” (khoản 3 Điều 213 BLDS năm 2015). Theo khoản 2 Điều 218 BLDS năm 2015: “việc định đoạt tài sản chung hợp nhất được thực hiện theo thỏa thuận của các sở hữu chung hoặc theo quy định của pháp luật.” Do đó, trong mọi giao dịch thực hiện việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với mọi tài sản thuộc sở hữu chung của ông Đăng và bà Trông, nhất thiết phải có sự thỏa thuận của hai ông bà, nếu một trong hai bên không có điều kiện trực tiếp thực hiện giao dịch thì phải ủy quyền cho nhau.

Tuy nhiên, theo lời trình bày của bà Trông, việc ông Đăng tặng cho anh Trí diện tích đất 146 m² mà không có ý kiến của bà. Phía vợ chồng anh Trí cũng không có bằng chứng về sự đồng ý của bà Trông về việc tặng cho này, bản thân anh Trí cũng cho hay, anh Trí có được quyền sử dụng đất này là do ông Đăng thực hiện hợp đồng tặng cho (không có sự tham gia của bà Trông). Như vậy, việc ông Đăng tặng cho vợ chồng anh Trí diện tích đất nói trên là không có sự thỏa thuận bằng văn bản giữa bà Trông và ông Đăng, hay nói một cách khác ông Đăng không có quyền tự định đoạt đối với 146 m² đất mà anh Trí đang đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Căn cứ khoản 1 Điều 142 BLDS năm 2015: “Giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện, trừ một trong các trường hợp sau đây: a) Người được đại diện đã công nhận giao dịch; b) Người được đại diện biết mà không phản đối trong thời hạn hợp lý; c) Người được đại diện có lỗi dẫn đến việc người đã giao dịch không biết hoặc không thể biết về việc người đã xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với mình không có quyền đại diện”, theo đó, dù ông Đăng có thực hiện hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất mà không có sự ủy quyền của bà Trông nhưng nếu thuộc một trong các trường hợp trên thì vẫn phát sinh quyền và nghĩa vụ của bà Trông trong giao dịch này. Dẫn đến việc hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất trong vụ việc này sẽ không vi phạm điều kiện về chủ thể giao kết hợp đồng.

  • Về hợp đồng tặng cho quyền sử dụng 146 m² đất của ông Đăng cho anh Trí

Trước hết, việc tặng cho quyền sử dụng đất là một giao dịch dân sự, trong đó giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự (Điều 116 BLDS năm 2015).“Hợp đồng tặng cho tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên tặng cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, bên được tặng cho đồng ý nhận” (Điều 457 BLDS năm 2015). Việc tặng cho tài sản giữa ông Đăng và anh Trí là quyền sử dụng 146 m² đất, dẫn chiếu tới Mục 7 Hợp đồng về quyền sử dụng đất BLDS năm 2015. “Hợp đồng về quyền sử dụng đất là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó người sử dụng đất chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất hoặc thực hiện quyền khác theo quy định của Luật đất đai cho bên kia; bên kia thực hiện quyền, nghĩa vụ theo hợp đồng với người sử dụng đất” (Điều 500 BLDS năm 2015).

Tuy nhiên, hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Đăng và anh Trí được xác lập tại thời điểm Luật Đất đai năm 2003 có hiệu lực. Theo đó, “Hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân phải có chứng thực của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất hoặc chứng nhận của công chứng nhà nước” (khoản 1 Điều 126 Luật Đất đai năm 2003). Từ những quy định trên, có thể thấy rằng hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Đăng và anh Trí không những vi phạm điều kiện về chủ thể của hợp đồng (ông Đăng không có quyền định đoạt đối với quyền sử dụng mảnh đất) mà còn vi phạm về hình thức của hợp đồng là phải có chứng thực hoặc công chứng theo quy định (mà không phải là xác nhận đồng ý của phòng xây dựng nhà đất thành phố TN). Do vậy, dẫn đến việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng 146 m² đất cũng không hợp pháp và sẽ bị thu hồi theo quy định của pháp luật.

2. Yêu cầu tư vấn của khách hàng và văn bản tư vấn cho khách hàng

  • Yêu cầu tư vấn của khách hàng

Anh Trí (khách hàng) yêu cầu giải đáp về việc bà Trông đòi lại 146 m² đất mà anh đang đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có cơ sở pháp lý không? Nếu có, anh Trí cần làm gì để được tiếp tục sử dụng diện tích đó phù hợp với quy định của pháp luật?

  • Văn bản tư vấn cho khách hàng

Trước hết, cảm ơn anh đã tin tưởng và gửi câu hỏi tư vấn cho chúng tôi.

Trước khi trả lời các câu hỏi của anh, chúng tôi làm rõ các vấn đề sau:

Thứ nhất, đối với mảnh đất mà bà Trông (mẹ anh) đang quản lý, sử dụng là tài sản thuộc sở hữu chung của bà Trông và ông Đăng. Do hai ông bà kết hôn năm 1961, thời điểm này Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 đang có hiệu lực nên các vấn đề phát sinh trong quan hệ hôn nhân giữa ông Đăng và bà Trông được giải quyết theo quy định của luật này. Theo đó, “Vợ và chồng đều có quyền sở hữu, hưởng thụ và sử dụng ngang nhau đối với tài sản có trước và sau khi cưới” (Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959), có nghĩa là mọi tài sản (gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản) đều thuộc sở hữu chung của hai ông bà. Ông bà có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc thực hiện các giao dịch.

Thứ hai, theo quy định tại Điều 213 BLDS năm 2015, “Sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia” (khoản 1), “vợ chồng thỏa thuận hoặc ủy quyền cho nhau chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung” (khoản 3). Theo đó, trong các giao dịch dân sự về chiếm hữu, sử dụng và định đoạt các tài sản thuộc sở hữu chung của hai vợ chồng, nhất thiết phải có sự đồng ý của cả hai vợ chồng. Sự đồng ý này thể hiện ở việc có sự thỏa thuận của cả hai vợ chồng, nếu một trong hai bên không có điều kiện trực tiếp tham gia giao dịch thì phải có ủy quyền cho người còn lại.

Đối với vụ việc của anh, bản thân anh cũng thừa nhận hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất đối với 146 m² đất được thực hiện giữa ông Đăng (bố anh) và anh, mà không có sự tham gia của bà Trông, trong khi đó, pháp luật quy định phải có sự thỏa thuận đồng ý việc tặng cho này của bà Trông.

Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 1 Điều 142 BLDS năm 2015: “Giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện, trừ một trong các trường hợp sau đây:

a) Người được đại diện đã công nhận giao dịch;

b) Người được đại diện biết mà không phản đối trong thời hạn hợp lý;

c) Người được đại diện có lỗi dẫn đến việc người đã giao dịch không biết hoặc không thể biết về việc người đã xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với mình không có quyền đại diện”.

Trong vụ việc của anh, nếu anh chứng minh được bà Trông đã công nhận hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Đăng và anh hoặc bà Trông đã biết nhưng không phản đối trong thời hạn hợp lý thì vẫn phát sinh quyền và nghĩa vụ của bà Trông trong hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất với anh.

Hơn nữa, hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất phải được công chứng hoặc chứng thực, căn cứ theo khoản 1 Điều 126 Luật Đất đai năm 2003: “Hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân phải có chứng thực của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất hoặc chứng nhận của công chứng nhà nước” (tại thời điểm xác lập hợp đồng Luật Đất đai năm 2003 có hiệu lực), mà không phải là có xác nhận đồng ý của phòng xây dựng nhà đất thành phố. Do vậy, theo quy định của pháp luật, hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất này không đúng về mặt hình thức của văn bản và nội dung xác nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Đăng và anh Trí bị vô hiệu theo quy định tại Điều 129 BLDS năm 2015: “Giao dịch dân sự vi phạm điều kiện có hiệu lực về hình thức thì vô hiệu”. Theo đó, “Khi giao dịch vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả” (khoản 2 Điều 131 BLDS năm 2015).  

Dựa trên những phân tích trên, chúng tôi tư vấn cho anh như sau:

+ Việc bà Trông đòi lại quyền sử dụng 146 m² đất mà anh đang đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là có cơ sở pháp lý, bởi lẽ trước khi ông Đăng chuyển quyền sử dụng đất cho anh, mảnh đất mà bà Trông đang sử dụng, quản lý bao gồm diện tích đất trên là tài sản chung của ông Đăng và bà Trông. Cho nên, trong mọi giao dịch đối với mảnh đất đó, phải có sự đồng ý của cả ông Đăng và bà Trông.

+ Để anh được tiếp tục được đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với 146 m² đất thì trước hết, anh nên thỏa thuận, thuyết phục bà Trông đồng ý với hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất mà ông Đăng và anh đã xác lập. Dựa trên tình cảm yêu thương, gắn bó nên việc thỏa thuận này là một giải pháp tích cực để giữ gìn mối quan hệ trong gia đình. Nếu anh không muốn hoặc không thỏa thuận được với bà Trông, anh có thể chứng minh bà Trông đã công nhận hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Đăng và anh hoặc bà Trông đã biết nhưng không phản đối trong thời hạn hợp lý.

Còn về hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, rõ ràng hợp đồng này là không hợp pháp do vi phạm điều kiện về hình thức của hợp đồng. Sau khi thuyết phục được bà Trông hoặc đã chứng minh được như trên, anh cần thực hiện thủ tục công chứng hoặc chứng thực đối với hợp đồng này theo đúng quy định của pháp luật.

Hi vọng sự tư vấn của chúng tôi sẽ giúp anh lựa chọn được phương án thích hợp nhất để giải quyết những vướng mắc của anh. Tư vấn nêu trên chỉ là tài liệu tham khảo. Chúng tôi rất mong nhận được mọi ý kiến phản hồi của quý khách hàng. Trân trọng!

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Bộ luật dân sự năm 2015;
  2. Luật Đất đai năm 2003;
  3. Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959;
  4. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
  5. TS. Đỗ Văn Đại, Tuyển tập các bản án, quyết định của Tòa án Việt Nam về quyền sử dụng đất, Nxb. Lao động, trang 259

DS1HK06: Sưu tầm một vụ việc có tranh chấp về xác định quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng (phân tích vụ việc, nêu yêu cầu tư vấn của khách hàng và viết văn bản tư vấn cho khách hàng)

Các biện pháp xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ (đề 6)

Đề 6: Hội nông dân xã La Bằng – huyện Đại Từ – Tỉnh Thái Nguyên là chủ sở hữu của nhãn hiệu tập thể Chè La Bằng và hình. Nhãn hiệu này có thời hạn bảo hộ đến năm 2020. Hội nông dân xã La Bằng có 20 thành viên, trong đó có gia đình bà Nguyễn Thị A. Gia đình bà A đã sản xuất chè nhiều năm và có danh tiếng trong vùng. Bà A mất năm 2014. Bà A có một người con gái là chị B lấy chồng và sinh sống ở Bắc Cạn. Chị B có trồng chè tại gia đình, đóng gói và dán nhãn Chè La Bằng và hình giống nhãn hiệu tập thể của mẹ chị ở La Bằng – Thái Nguyên để bán ra thị trường.

Theo ý kiến của anh chị, việc sử dụng nhãn hiệu tập thể Chè La Bằng và hình của chị B trên sản phẩm chè của mình có xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ không? Nếu có thì biện pháp xử lý trong trường hợp này là gì.

NỘI DUNG

1. Xác định hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ

Theo quan điểm của người viết, việc sử dụng nhãn hiệu tập thể Chè La Bằng và hình của chị B trên sản phẩm chè của mình là xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.

Trước hết, xác định quyền của chủ sở hữu của nhãn hiệu tập thể Chè La Bằng – Hội nông dân xã La Bằng và các thành viên của hội

Căn cứ Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2009 (Luật Sở hữu trí tuệ): “Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau” (khoản 16 Điều 4), “Nhãn hiệu tập thể là nhãn hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các thành viên của tổ chức là chủ sở hữu nhãn hiệu đó với hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của tổ chức đó” (khoản 17 Điều 4) và khoản 1 Điều 121: “Chủ sở hữu nhãn hiệu là tổ chức, cá nhân được cơ quan có thẩm quyền cấp văn bằng bảo hộ nhãn hiệu hoặc có nhãn hiệu đã đăng ký quốc tế được cơ quan có thẩm quyền công nhận hoặc có nhãn hiệu nổi tiếng”. Như vậy, theo các quy định trên, chủ sở hữu nhãn hiệu tập thể chè La Bằng là Hội nông dân xã La Bằng (không phải là các thành viên của hội) là tổ chức được Cục sở hữu trí tuệ cấp văn bằng bảo hộ cho nhãn hiệu Chè La Bằng.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 123 Luật Sở hữu trí tuệ, chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp nói chung, cũng như chủ sở hữu nhãn hiệu nói riêng có các quyền sau:

a) Sử dụng, cho phép người khác sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp theo quy định tại Điều 124 và Chương X của Luật này;

b) Ngăn cấm người khác sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp theo quy định tại Điều 125 của Luật này;

c) Định đoạt đối tượng sở hữu công nghiệp theo quy định tại Chương X của Luật này.”

Dẫn chiếu tới khoản 5 Điều 125 Luật Sở hữu trí tuệ quy định: “Sử dụng nhãn hiệu là việc thực hiện các hành vi sau đây:

Gắn nhãn hiệu được bảo hộ lên hàng hóa, bao bì hàng hóa, phương tiện kinh doanh, phương tiện dịch vụ, giấy tờ giao dịch trong hoạt động kinh doanh;

Lưu thông, chào bán, quảng cáo để bán, tàng trữ để bán hàng hóa mang nhãn hiệu đươc bảo hộ;

Nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu được bảo hộ.

Với tư cách là chủ sở hữu nhãn hiệu tập thể, Hội nông dân xã La Bằng có các quyền của chủ sở hữu theo quy định tại khoản 1 Điều 123 Luật Sở hữu trí tuệ như đã trích dẫn ở trên. Hội nông dân xã La Bằng có 20 thành viên và các thành viên này có quyền sử dụng nhãn hiệu Chè La Bằng. Việc sử dụng nhãn hiệu này đã được quy định tại khoản 5 Điều 125 Luật Sở hữu trí tuệ và quy chế sử dụng nhãn hiệu Chè La Bằng. Nói một cách rõ ràng hơn, thì các thành viên của Hội nông dân xã La Bằng chỉ có quyền sử dụng nhãn hiệu Chè La Bằng, mà không có đầy đủ các quyền của chủ sở hữu là Hội nông dân xã La Bằng.

Gia đình bà Nguyễn Thị A là thành viên của Hội nông dân xã La Bằng, nên gia đình bà có quyền sử dụng nhãn hiệu Chè La Bằng như gắn nhãn hiệu Chè La Bằng lên các sản phẩm chè do gia đình bà sản xuất, bán các sản phẩm này ra thị trường…

Thứ hai, vấn đề chuyển giao nhãn hiệu tập thể

Việc chị B đóng gói và dãn nhãn hiệu Chè La Bằng và hình giống nhãn hiệu tập thể của mẹ chị là bà A ở La Bằng – Thái Nguyên và bán sản phẩm này ra thị trường rõ ràng là hành vi sử dụng nhãn hiệu tập thể. Vậy hành vi này của chị B có hợp pháp hay không? Nếu hợp pháp thì dựa trên căn cứ nào? Người viết đặt ra hai giả thiết:

Một là, giả thiết về việc chị B được chuyển nhượng quyền sở hữu nhãn hiệu tập thể Chè La Bằng

Theo quy định tại khoản 4 Điều 139 Luật Sở hữu trí tuệ: “Việc chuyển nhượng quyền đối với nhãn hiệu không được gây ra sự nhầm lẫn về đặc tính, nguồn gốc của hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu”. Trong khi đó, nhãn hiệu tập thể Chè La Bằng có chứa dấu hiệu “La Bằng” là nơi trồng, sản xuất ra loại chè này. Mặc dù pháp luật cho phép chuyển nhượng nhãn hiệu tập thể, tuy nhiên trong trường hợp này, nếu chuyển nhượng nhãn hiệu tập thể Chè La Bằng thì sẽ gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốc của sản phẩm chè La Bằng. Hay nói cách khác, đây thuộc trường hợp hạn chế chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp theo quy định tại Điều 139 Luật Sở hữu trí tuệ. Như vậy, một mặt, bản thân bà A không được chuyển nhượng quyền đối với nhãn hiệu tập thể Chè La Bằng do bà không phải là chủ sở hữu; mặt khác, kể cả đối với Hội nông dân xã La Bằng, họ cũng không được chuyển nhượng quyền sở hữu đối với nhãn hiệu Chè La Bằng. Do vậy, sẽ không xảy ra trường hợp chị B, trồng chè tại Bắc Cạn được chuyển nhượng quyền sở hữu đối với nhãn hiệu Chè La Bằng, do sản phẩm chè mà chị B sản xuất không phải được trồng tại xã La Bằng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

Hai là, giả thiết chị B được chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu tập thể Chè La Bằng

Với quyền sử dụng nhãn hiệu tập thể, bên cạnh các quyền như đã trích dẫn ở trên thì Hợp tác xã La Bẳng và gia đình bà A có quyền chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu tập thể không? Khoản 2 Điều 142 Luật Sở hữu trí tuệ quy định: “Quyền sử dụng nhãn hiệu tập thể không được chuyển giao cho tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của chủ sở hữu nhãn hiệu tập thể đó”. Theo đó, chỉ thành viên của chủ sở hữu nhãn hiệu tập thể mới được chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu tập thể.

Áp dụng vào tình huống, gia đình bà Nguyễn Thị A là thành viên của Hội nông dân xã La Bằng – chủ sở hữu nhãn hiệu tập thể Chè La Bằng. Theo quy định trên, chỉ cả gia đình bà Nguyễn Thị A được quyền sử dụng nhãn hiệu tập thể Chè La Bằng, mà không phải là mỗi người trong gia đình bà được chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu này. Do vậy, bà A mất, dù chị B là con gái bà A nhưng đã lập gia đình riêng và bản thân chị B không phải là thành viên của Hội nông dân xã La Bằng nên không có quyền sử dụng nhãn hiệu tập thể Chè La Bằng cho sản phẩm do mình sản xuất ra. Như vậy, nếu có giả thiết bà A trước khi mất có chuyển quyền thì chị B cũng không có quyền sử dụng nhãn hiệu tập thể Chè La Bằng cho sản phẩm chè của mình. Hội nông dân xã La Bằng cũng không được chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu tập thể Chè La Bằng cho tổ chức, cá nhân khác ngoài thành viên của Hội nông dân xã La Bằng.

Như vậy, chị B không được sử dụng nhãn hiệu tập thể Chè La Bằng thông qua việc chuyển nhượng nhãn hiệu tập thể hay chuyền quyền sử dụng đối với nhãn hiệu này.

Thứ ba, xác định hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của chị B

Việc chị B dán nhãn chè La Bằng và hình giống với nhãn hiệu tập thể Chè La Bằng lên sản phẩm chè do chị trồng và đóng gói, bán các sản phẩm này là hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu. Cụ thể, theo điểm a khoản 1 Điều 129 Luật Sở hữu trí tuệ: “Các hành vi sau đây được thực hiện mà không được phép của chủ sở hữu nhãn hiệu thì bị coi là xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu: a) Sử dụng dấu hiệu trùng với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hóa, dịch vụ trùng với hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó”. Trong tình huống đưa ra, không có dữ kiện nào cho thấy chị B trước khi sử dụng nhãn hiệu Chè La Bằng trên sản phẩm của mình được sự cho phép của Hội nông dân xã La Bằng. Dấu hiệu mà chị B sử dụng trên sản phẩm của mình giống với nhãn hiệu Chè La Bằng và hình, hay nói cách khác là sử dụng trùng dấu hiệu. Đối tượng hàng hóa mang nhãn hiệu ở đây đều là chè (cùng bản chất, cùng chức năng, mục đích sử dụng). Do vậy, việc sử dụng nhãn hiệu tập thể Chè La Bằng và hình của chị B trên sản phẩm chè của mình là xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.

2. Biện pháp xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong tình huống

Căn cứ Điều 199 Luật Sở hữu trí tuệ: “Tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của tổ chức, cá nhân khác thì tùy theo tính chất, mức độ xâm phạm, có thể bị xử lý bằng biện pháp dân sự, hành chính hoặc dân sự”, đối với hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của chị B, các biện pháp xử lý trong trường hợp này có thể là:

2.1. Biện pháp dân sự

Khi bị xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc các chủ thể có quyền liên quan khác có quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền của mình. Theo yêu cầu của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ hoặc tổ chức, cá nhân bị thiệt hại do hành vi xâm phạm gây ra, kể cả khi hành vi đó đã hoặc đang bị xử lý bằng biện pháp hành chính, biện pháp dân sự sẽ được áp dụng khi có đủ căn cứ chứng minh hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.

Các biện pháp dân sự được áp dụng để xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ được quy định tại Điều 202 Luật Sở hữu trí tuệ. Theo quy định này, biện pháp dân sự có thể được áp dụng đối với hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của chị B trong tình huống đưa ra bao gồm:

+ Buộc chấm dứt hành vi xâm phạm;

+ Buộc xin lỗi, cải chính công khai;

+ Buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự;

+ Buộc tiêu hủy hoặc buộc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại đối với sản phẩm chè, nguyên liệu, vật liệu và phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh sản phẩm chè xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ với điều kiện không làm ảnh hưởng đến khả năng khai thác quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu là Hội nông dân xã La Bằng hay các thành viên của hội.

Hội nông dân xã La Bằng có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trước hoặc sau khi khởi kiện.

Biện pháp dân sự được áp dụng trong trường hợp này có một số ưu điểm có thể kể đến như: xử lý triệt để hành vi xâm phạm, đòi được bồi thường thiệt hại, khắc phục được thiệt hại về vật chất và tinh thần; có thể áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để bảo vệ chứng cứ và ngăn ngừa thiệt hại… Tuy nhiên, khi áp dụng biện pháp này có một số nhược điểm như tốn nhiều thời gian, chi phí; trình tự, thủ tục phức tạp; nhiều khó khăn trong quá trình thu thập chứng cứ để chứng minh; tình trạng giải quyết kéo dài, xét xử nhiều lần, nhiều cấp do trình độ của thẩm phán trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ còn hạn chế…

2.2. Biện pháp hành chính

Đối với hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự và chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ là Hội nông dân xã La Bằng không có yêu cầu bồi thường thiệt hại mà chỉ muốn ngăn chặn kịp thời hành vi xâm phạm của chị B, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể áp dụng các biện pháp hành chính để xử lý.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 213 Luật Sở hữu trí tuệ: “Hàng hóa giả mạo nhãn hiệu là hàng hóa, bao bì của hàng hóa có gắn nhãn hiệu, dấu hiệu trùng hoặc khó phân biệt với nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ dùng cho chính mặt hàng đó mà không được phép của chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc của tổ chức quản lý chỉ dẫn địa lý”, xác định sản phẩm chè do chị B sản xuất có gắn nhãn hiệu Chè La Bằng là hàng hóa giả mạo nhãn hiệu.

Căn cứ Điều 211, 213, 214, 215 Luật Sở hữu trí tuệ và Nghị định số 99/2013/NĐ-CP Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp của Chính phủ ngày 29/08/2013, có thể áp dụng một hoặc tất cả các biện pháp hành chính sau để xử lý hành vi xâm phạm của chị B bao gồm: áp dụng các hình thức xử phạt (hình thức xử phạt chính và hình thức phạt bổ sung); áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả; áp dụng các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử phạt hành chính. Mỗi hành vi xâm phạm chỉ phải chịu một hình thức xử phạt chính: cảnh cáo hoặc phạt tiền, không thể áp dụng cả hai hình thức này cho một hành vi. Mức xử phạt tiền được áp dụng tương ứng với giá trị hàng hóa, nhưng tối đa là 250.000.000 đồng đối với cá nhân (chị B). Bên cạnh đó có thể áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung như: tịch thu hàng hóa giả mạo, nguyên liệu, vật liệu, phương tiện được sử dụng để sản xuất, kinh doanh hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ; đình chỉ có thời hạn hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực đã xảy ra vi phạm.

So với các biện pháp khác, biện pháp hành chính có nhiều ưu điểm hơn như: trình tự, thủ tục đơn giản; tiết kiệm thời gian, chi phí; chấm dứt ngay hành vi xâm phạm để bảo vệ lợi ích người tiêu dùng, lợi ích kinh tế, cạnh tranh lành mạnh trong xã hội. Tuy nhiên, biện pháp này chỉ có tác dụng giáo dục, răn đe; không đòi được bồi thường thiệt hại, không bảo mật được thông tin…

2.3. Biện pháp hình sự

Với những ưu điểm như xử lý triệt để hành vi xâm phạm; có tác dụng giáo dục, răn đe mạnh mẽ nhất, có cơ chế đảm bảo thi hành án thì biện pháp hình sự có thể được áp dụng trong tình huống. Đây là biện pháp xử lý nghiêm khắc nhất đối với hành vi xâm phạm quyền sở hữu nhãn hiệu, chỉ được áp dụng khi hành vi xâm phạm đã cấu thành tội phạm theo quy định của Bộ luật hình sự. Biện pháp này cũng có một số hạn chế như trình tự, thủ tục rườm rà, phức tạp, mất nhiều thời gian, chi phí; không bảo mật được thông tin…

Căn cứ Điều 212 Luật Sở hữu trí tuệ và Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009, hành vi xâm phạm của chị B có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Các hình phạt có thể áp dụng là phạt tiền hoặc cải tạo không giam giữ tùy theo mức độ, và còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

  • Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009;
  • Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2009;
  • Nghị định số 99/2013/NĐ-CP Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp của Chính phủ ngày 29/08/2013;
  • Dương Thị Cẩm Vân, Thực tiễn bảo hộ quyền sở hữu nhãn hiệu hàng hóa ở Việt Nam, Khóa luận tốt nghiệp, Hà Nội – 2009.

Người tư vấn các vụ việc hôn nhân và gia đình cần phải có đáp ứng được những điều kiện gì

Người tư vấn các vụ việc hôn nhân và gia đình cần phải có đáp ứng được những điều kiện gì.

Gia đình là tế bào của xã hội. Gia đình có hạnh phúc thì xã hội mới vững mạnh. Tuy nhiên, cuộc sống hôn nhân và gia đình không phải lúc nào cũng yên ấm, cũng có những trắc trở, mâu thuẫn khó tránh khỏi. Những lúc như vậy, họ thường có xu hướng tìm đến người tư vấn với mong muốn tìm được những giải pháp hữu ích, kiến thức pháp luật để hóa giải được những vấn đề trên. Vậy người tư vấn cần có những điều kiện gì để có thể giúp đỡ được khách hàng của mình. Vì vậy, em chọn đề bài tập số 3: “Người tư vấn các vụ việc hôn nhân và gia đình cần phải có đáp ứng được những điều kiện gì?” làm bài tập học kì của mình.

1. Một số vấn đề chung về tư vấn trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình

1.1. Khái niệm tư vấn pháp luật trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình

Tư vấn pháp luật trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình là việc giải đáp pháp luật hôn nhân và gia đình; đưa ra ý kiến, hướng dẫn cá nhân, tổ chức xử sự đúng pháp luật hôn nhân và gia đình. Đây cũng là việc cung cấp thông tin pháp luật hoặc dịch vụ pháp lý giúp cho cá nhân, tổ chức thực hiện và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình.

1.2. Đặc điểm tư vấn pháp luật trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình

  • Tư vấn pháp luật về hôn nhân và gia đình không tách rời tư vấn về tâm lý, tình cảm.
  • Mục tiêu tư vấn thường không rõ ràng.
  • Khách hàng thường mang nặng suy nghĩ chủ quan, bảo thủ.
  • Khách hàng có thể chỉ có nhu cầu chia sẻ.
  • Khách hàng thường yêu cầu tư vấn đề họ đạt được ý định của mình.
  • Khách hàng thường yêu cầu người tư vấn giúp bảo vệ quyền lợi cho họ tại Tòa bằng mối quen biết cá nhân.
  • Tư vấn pháp luật với công tác phổ biến, giáo dục pháp luật có mối liên hệ tự nhiên và gắn bó chặt chẽ với nhau.
  • Người tư vấn pháp luật trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình cần phải hiểu biết pháp luật, trung thực, kiên nhẫn, giàu kinh nghiệm sống, có kiến thức tâm lý sâu, có khả năng phản ứng nhanh với các tình huống.

Bài luận Người tư vấn các vụ việc hôn nhân và gia đình cần phải có đáp ứng được những điều kiện gì.

2. Điều kiện của người tư vấn các vụ việc hôn nhân và gia đình

Xuất phát từ những đặc điểm của hoạt động tư vấn pháp luật trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, đòi hỏi người tư vấn phải đáp ứng những điều kiện đặc thù, không giống như tư vấn trong các lĩnh vực khác.

2.1. Điều kiện chung của người tư vấn pháp luật

Trước hết, trong lĩnh vực tư vấn pháp luật nói chung, người tư vấn phải thỏa mãn những điều kiện cơ bản sau:

  • Có bản lĩnh chính trị

Đây là điều kiện quan trọng đối với người tư vấn. Bởi lẽ, tư vấn pháp luật là nghề lấy pháp luật làm công cụ. Mỗi lời tư vấn đều trực tiếp hoặc gián tiếp góp phần hướng dẫn dư luận xã hội, định hướng tư tưởng và hành vi của con người. Do vậy, mỗi người tư vấn cần ý thức đầy đủ nghĩa vụ công dân và trách nhiệm xã hội trong từng hoạt động tư vấn pháp luật của mình.

  • Có kiến thức chuyên môn

Đây là điều kiện cần, một đòi hỏi tất yếu đối với mỗi người tư vấn. Xã hội là một tổng hợp các mối quan hệ đan xen phức tạp. Một người tư vấn pháp luật trước hết phải là người có kiến thức về pháp luật nói chung. Nhưng tầm hiểu biết của con người cũng có giới hạn. Một người tư vấn khó mà có thể am hiểu sâu sắc tất thảy mọi lĩnh vực của đời sống. Do đó, họ thường chỉ có thể thông thạo, hiểu biết trong một hay một số lĩnh vực nhất định. Có như vậy việc tư vấn pháp luật mới đảm bảo được độ chuyên sâu, đúng đắn.

  • Có kiến thức thực tiễn

Một trong những điều kiện đủ để trở thành một người tư vấn chuyên nghiệp đó là một vốn sống phong phú. Điều này được tích lũy từ kinh nghiệm sống của bản thân cũng như từ hoạt động tư vấn pháp luật. Pháp luật là sản phẩm trí tuệ của con người. Trong thực tiễn của đời sống, không phải lúc nào nhà làm luật cũng dự liệu được hết các khả năng có thể xảy ra để đưa vào quy định trong luật. Nhiều quy định của pháp luật đôi khi chưa rõ ràng, nhiều cách hiểu dẫn đến việc áp dụng gặp nhiều khó khăn. Do vậy, người tư vấn không chỉ cần phải nắm chắc các quy định của pháp luật mà còn phải có kiến thức thực tiễn để người tư vấn đánh giá được mức độ, tính chất của các vụ việc, từ đó đưa ra những lời khuyên, định hướng các giải pháp cho khách hàng một cách đúng đắn, hiệu quả.

Bài luận Người tư vấn các vụ việc hôn nhân và gia đình cần phải có đáp ứng được những điều kiện gì.

  • Có kĩ năng nghề nghiệp

Để trở thành một người tư vấn chuyên nghiệp, các kĩ năng nghề nghiệp cũng hết sức quan trọng. Đó là các kĩ năng tiếp xúc khách hàng, kĩ năng nghiên cứu hồ sơ, kĩ năng soạn thảo văn bản… Thực hiện thành thạo các kĩ năng này, hoạt động tư vấn của người tư vấn sẽ dễ dàng hơn, góp phần tạo được niềm tin đối với khách hàng.

  • Tuân thủ các quy tắc đạo đức nghề nghiệp và trách nhiệm xã hội

Tư vấn pháp luật là một nghề trong xã hội, đây cũng là một nghề cao quý. “Nghề luật sư ở Việt Nam là một nghề cao quý, bởi hoạt động nghề nghiệp của luật sư nhằm mục đích góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ; góp phần phát triển kinh tế, vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”[1]. Bởi những lẽ trên, người luật sư nói riêng hay người tư vấn pháp luật nói chung cần phải tuân thủ các quy tắc đạo đức nghề nghiệp, nhận thức được trách nhiệm của mình đối với xã hội mà hoàn thành công việc tư vấn của mình.

2.2. Điều kiện riêng của người tư vấn các vụ việc hôn nhân và gia đình

2.2.1. Người tư vấn phải hiểu biết trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình và lĩnh vực có liên quan

Yêu cầu chung đối với mọi lĩnh vực tư vấn là người tư vấn phải có kiến thức chuyên môn về lĩnh vực đó. Người tư vấn pháp luật có thể là luật sư, tư vấn viên pháp luật, cộng tác viên pháp luật, trợ giúp viên pháp lý. Điều kiện thể hiện sự hiểu biết, phản ánh trình độ kiến thức của người tư vấn được pháp luật quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật như Luật Luật sư năm 2006, Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006, Nghị định số 77/2008/NĐ-CP về tư vấn pháp luật ngày 16/07/2008 của Chính phủ… Trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, người tư vấn trước hết nhất là phải có kiến thức, am hiểu pháp luật hôn nhân và gia đình. Những kiến thức này không chỉ là pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam hiện hành mà kể cả pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam trước kia, hay thậm chí là pháp luật hôn nhân và gia đình nước ngoài. Bởi lẽ, hôn nhân giữa vợ và chồng là mối quan hệ yêu thương, gắn bó lâu dài, bền vững từ khi cuộc sống hôn nhân bắt đầu bởi sự kiện kết hôn cho tới khi chấm dứt bởi ly hôn hay cái chết. Đó còn là mối quan hệ giữa cha, mẹ với các con; ông, bà với các cháu, trải dài qua nhiều thế hệ, được gắn kết với nhau bởi huyết thống, nuôi dưỡng mà không giống như các quan hệ trong kinh doanh, thương mại chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian xác định. Sự phát triển của xã hội cũng hình thành nên các quan hệ có yếu tố nước ngoài như kết hôn với người nước ngoài, nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài (người Việt Nam nhận nuôi con nuôi nước ngoài, người nước ngoài nhận nuôi con nuôi Việt Nam)…

Hơn nữa, đối với các vụ việc hôn nhân và gia đình, người tư vấn cũng cần phải có kiến thức trong các lĩnh vực có liên quan như pháp luật về tố tụng, dân sự, hình sự, thương mại… Các vụ việc hôn nhân và gia đình thường không chỉ bao gồm các vấn đề thuộc lĩnh vực hôn nhân và gia đình, mà thường liên quan đến nhiều lĩnh vực khác. Có thể lấy ví dụ về vấn đề ly hôn, hai vợ chồng đồng ý ly hôn nhưng không thỏa thuận được với nhau về vấn đề chia tài sản, ai cũng muốn phần nhiều hơn thuộc về mình. Phần tài sản chung của họ gồm có mảnh đất, ngôi nhà trên đất và một số lượng cổ phần trong công ty. Lúc này, vụ việc không chỉ liên quan đến pháp luật hôn nhân và gia đình mà còn liên quan đến pháp luật về đất đai, pháp luật về thương mại. Khách hàng còn có thể hỏi thủ tục ly hôn tại Tòa án như thế nào, lúc này người tư vấn cần có cả kiến thức về pháp luật tố tụng để giải đáp cho khách hàng.

Đối với những vụ việc đơn giản, không phức tạp người tư vấn lượng khả năng của mình để giải quyết vấn đề cho khách hàng, có thể trực tiếp trả lời ngay cho khách hàng. Còn nếu vụ việc trở nên phức tạp, nhiều tình tiết, liên quan đến nhiều lĩnh vực thì người tư vấn nên có sự tham khảo từ các chuyên gia, có thể hẹn khách hàng trả lời sau hoặc bằng văn bản để có thêm thời gian tìm hiểu vụ việc. Điều này không hoàn toàn thể hiện sự kém cỏi, năng lực hạn chế của người tư vấn, mà còn thể hiện được sự coi trọng của người tư vấn đối với khách hàng. Vụ việc mà khách hàng đưa ra sẽ được xem xét thấu đáo, kĩ càng, người tư vấn có thể đưa ra được nhiều giải pháp cho khách hàng, càng thể hiện được sự chuyên nghiệp của người tư vấn. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là người tư vấn lấy lý do này để biện bạch cho những thiếu sót của mình. Bản thân người tư vấn pháp luật cần không ngừng trau dồi kiến thức cho bản thân mình.

2.2.2. Người tư vấn là một nhà tâm lý

Các thành viên trong gia đình yêu thương, chăm sóc, đùm bọc lẫn nhau dựa trên tình cảm, xác lập trên cơ sở hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng. Bên cạnh các vấn đề pháp lý, khách hàng đôi khi tìm đến người tư vấn với mong muốn giải tỏa được những vướng bận trong lòng, mong tìm được sự cảm thông, chia sẻ. Người tư vấn lúc này như một nhà tâm lý, thấu hiểu và đồng cảm với tâm tư của khách hàng thể hiện qua việc lắng nghe, đưa ra những lời khuyên nhủ, có thể dựa cả trên kinh nghiệm sống của bản thân. Bởi, khi khách hàng tìm đến người tư vấn, họ thường trong trạng thái rất dễ bị kích động, mang nặng ý chí chủ quan của mình mà có thể dẫn đến việc suy xét không kỹ lưỡng các vấn đề. Tuy nhiên, sự cảm thông, chia sẻ ở đây không phải thể hiện ở việc khách hàng luôn đúng. Như đã trình bày ở trên, các vụ việc hôn nhân và gia đình thường mang nặng yếu tố tình cảm, đôi khi khách hàng vì sự nóng giận tức thời, sự bức xúc cá nhân thường áp đặt ý chí chủ quan của mình lên các vụ việc, dù biết mình sai nhưng vẫn mong muốn người tư vấn công nhận cái sai của mình. Do vậy, lúc này người tư vấn nên cư xử một cách khéo léo, lắng nghe, từ từ phân tích, giảng giải cho khách hàng bình tĩnh, hiểu rõ vấn đề, không nên vì lợi ích của bản thân mà hùa theo khách hàng theo kiểu “khách hàng là thượng đế”, “khách hàng luôn đúng”. Nguyên tắc tư vấn là không trái luật. Nếu khách hàng sai, chỉ rõ cho khách hàng thấy cái sai, đó mới là chuẩn mực của người tư vấn pháp luật.

2.2.3. Người tư vấn là người giàu kinh nghiệm sống

Trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, việc người tư vấn giàu kinh nghiệm sống đôi khi lại là điều kiện tiên quyết. Có kiến thức pháp luật, có sự đồng cảm, thấu hiểu khách hàng là chưa đủ đối với người tư vấn trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình. Một người tư vấn pháp luật về hôn nhân mà chưa từng trải qua cuộc sống hôn nhân khó mà có thể thấu hiểu được tâm trạng của khách hàng khi xảy ra mâu thuẫn giữa vợ chồng, làm sao đưa ra những giải pháp giải quyết mâu thuẫn cho khách hàng hiệu quả được. Điều này vừa là khó khăn đối với chính người tư vấn, vừa không tạo được lòng tin đối với khách hàng. Do vậy, để trở thành một người tư vấn chuyên nghiệp trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình thì cần phải có sự từng trải, học hỏi và có sự đúc rút kinh nghiệm cho bản thân thì mới có thể hoàn thành được tốt công việc tư vấn của mình.

Bài luận Người tư vấn các vụ việc hôn nhân và gia đình cần phải có đáp ứng được những điều kiện gì.

2.2.4. Người tư vấn phải có kĩ năng tư vấn

  • Lắng nghe

Trong mọi vụ việc trong tất cả các lĩnh vực, người tư vấn luôn phải lắng nghe khách hàng để hiểu thấu đáo được vấn đề cần giải quyết, từ đó mới đưa ra được các giải pháp hợp lý, đúng đắn. Trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, kĩ năng lắng nghe của người tư vấn còn quan trọng hơn gấp bội. Xuất phát từ tính chất của hôn nhân và gia đình, người tư vấn không chỉ lắng nghe để tìm cách giải quyết vấn đề của khách hàng mà còn để chia sẻ tâm tư, tình cảm của khách hàng về những bức xúc trong hôn nhân, những mâu thuẫn trong gia đình. Đôi khi khách hàng tìm đến người tư vấn không phải để tư vấn về pháp lý mà chỉ đơn thuần là mong muốn có người lắng nghe, mong tìm được sự đồng cảm, xuất phát từ niềm tin của khách hàng đối với người tư vấn. Lắng nghe thể hiện ở việc người tư vấn không chỉ là nghe bằng đôi tai, mà còn thể hiện ở việc chăm chú nghe khách hàng trình bày, thể hiện thái độ cảm thông với khách hàng. Cần lắng nghe, nếu một lần chưa đủ có thể đề nghị họ trình bày lại và yêu cầu họ cung cấp thêm tài liệu hoặc hẹn gặp để nắm bắt được cụ thể bản chất của vấn đề mà khách hàng yêu cầu. Sẽ là không tôn trọng khách hàng nếu người tư vấn không lắng nghe. Không thể có việc khách hàng vừa trình bày vấn đề của mình với tâm trạng bức xúc mà người tư vấn ngồi đối diện lại cầm điện thoại hay làm việc riêng khác, hay gương mặt lại lạnh lùng, không chút biểu cảm nào… Dù những hành vi trên là cố ý hay vô tình đều thể hiện sự không tôn trọng khách hàng, không tạo được niềm tin cho khách hàng.

  • Kiên nhẫn

Khách hàng trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình thuộc nhiều tầng lớp, trình độ khác nhau, có thể là người nông dân, công nhân, công chức, người làm kinh doanh… Mỗi người sẽ có cách trình bày vấn đề của mình khác nhau, có người nói nhanh gọn, rõ ràng; có người lại nói dài dòng, không rõ chủ ý, đôi khi trong lúc nói họ còn bị chi phối bởi tâm trạng bức xúc, phiền muộn của bản thân, ngôn từ sử dụng thiếu nhã nhặn (la lối, nói tục…) càng khiến cho việc trình bày vụ việc của khách hàng thêm khó hiểu. Trong những trường hợp như vậy, người tư vấn cần phải giữ được thái độ bình tĩnh, lịch sự, tránh tỏ thái độ sốt ruột, khó chịu, khéo léo hướng khách hàng vào nội dung của vụ việc.

  • Phản ứng nhanh với các tình huống

Kĩ năng này thường đòi hỏi trong trường hợp tư vấn trực tiếp bằng lời. Khách hàng tìm đến người tư vấn khi đang trong tâm trạng bức bối, khó chịu, mong muốn mau chóng giải quyết nhanh chóng vấn đề của mình, do vậy họ thường mong muốn người tư vấn có thể giải đáp ngay. Đáp ứng nhu cầu này của khách hàng, cũng như thấu hiểu tâm lý của khách hàng, người tư vấn cần rèn luyện cho mình khả năng phản ứng nhanh với các yêu cầu của khách hàng. Vừa thỏa mãn nhu cầu của khách hàng, vừa đảm bảo trách nhiệm, uy tín của người tư vấn.

  • Trung thực

Tư vấn pháp luật nói chung và tư vấn trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình nói riêng, không bao giờ thiết lập kiểu quan hệ mua bán với khách hàng. Phải xây dựng quan hệ với khách hàng trên cơ sở chân thực, hợp tác, bền vững và hai bên đều có lợi. Phải để khách hàng thấy rằng, người tư vấn là người làm ăn đứng đắn, đàng hoàng, không mang tính chất chộp giật, không lấy chuyện tiền bạc làm mục tiêu.

  • Tình huống

Để làm rõ hơn các vấn đề đã trình bày ở trên, trong phạm vi bài tiểu luận, xin được trích một phần một chương trình tư vấn pháp luật hôn nhân và gia đình. Chương trình có tên “10 phút tiếp dân” do Ban khoa giáo Đài truyền hình thành phố Hồ Chí Minh thực hiện[2]. Tình huống như sau: Chị Nguyễn Bình An, thường trú tại phường 25, quận Bình Thạnh. Năm 2010 chị lập gia đình, có giấy chứng nhận đăng kí kết hôn. Đến nay, do tình cảm vợ chồng không hòa thuận, chị có nguyện vọng được ly hôn. Hôm nay chị đến điểm tư vấn pháp luật tại Ủy ban Mặt trận Tổ quốc quận Bình Thạnh để nhờ tư vấn về việc ly hôn. Thủ tục ly hôn cho trường hợp trên như thế nào?

Xin tóm tắt lại cuộc trao đổi giữa người tư vấn là Luật gia Lê Văn Dũng và khách hàng là chị Nguyễn Bình An.

Chị An: Em muốn đến đây xin tư vấn thủ tục ly hôn như thế nào?

Luật gia: Hoàn cảnh chị sao mà phải ly hôn?

Chị An: Dạ, cái cuộc sống không hòa thuận với nhau thì cảm thấy sống không được nên xin đơn ly hôn.

Luật gia: Chị kết hôn bao lâu rồi?

Chị An: Dạ, năm 2010.

Luật gia: Năm 2010, mới có hai năm mà sao đã phải ly hôn ngay?

Chị An: Dạ, thấy sống không được.

Luật gia: Nhưng mà cuộc sống làm sao mà sống không được? Do bên nào?

Chị An: Dạ, do bên chồng không có hòa thuận.

Luật gia: Trong thời gian này hai người có con riêng hay chung không?

Chị An: Dạ, có con chung được 11 tháng.

Luật gia: Con có mới nhỏ, mà mình có cái gì đâu?

Chị An: Gia đình chồng khắt khe với khó khăn, thấy sống không được.

Bài luận Người tư vấn các vụ việc hôn nhân và gia đình cần phải có đáp ứng được những điều kiện gì.

Luật gia: Nhưng chị có trao đổi với ông xã chị rằng cái vấn đề đó không? Mình cũng cần phải trực tiếp trao đổi với nhau để mình tìm hiểu ra nguyên nhân, có phải do nguyên nhân từ bên ngoài hay do chính từ bản thân của ông xã chị. Tôi khuyên chị nên có một buổi, chúng ta phải cùng nhau nói chuyện để mình chia sẻ, mình đã đến với nhau như thế thì không thể vì lý do nhỏ nhặt mà chúng ta không cùng nhau chia sẻ để mà quyết định ly hôn. Nên chị có thể suy nghĩ trước khi mà chị làm đơn ly hôn.”

Sau đó, chị An có yêu cầu người tư vấn tư vấn về thủ tục ly hôn. Luật gia tiếp tục tư vấn cho chị An các quy định của pháp luật về thủ tục ly hôn. (Thời điểm này Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 có hiệu lực). Luật gia chia hai trường hợp. Đối với trường hợp thuận tình ly hôn, hai bên làm đơn thuận tình ly hôn, cùng ký vào đơn và mang đến Tòa án nhân dân quận (huyện) nơi cư trú nộp. Còn nếu chị An đơn phương ly hôn thì làm thủ tục gồm có: một đơn xin ly hôn, trong đó nội dung ghi rõ lý do ly hôn (liệt kê lấy nhau từ năm nào, có giấy đăng ký kết hôn hay không, mâu thuẫn như thế nào, có con chung hay không, con bao nhiêu tuổi kèm theo giấy khai sinh, ai nuôi con, tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân gồm những gì…) và nộp đơn đến Tòa án nhân dân quận (huyện) nơi cư trú của bị đơn kèm theo giấy tờ tùy thân và giấy đăng ký kết hôn của hai người…

  • Phân tích tình huống để làm rõ các điều kiện của người tư vấn

Trong tình huống này, người tư vấn là luật gia Lê Văn Dũng thuộc Hội luật gia quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh. Người tư vấn là người không chỉ có kiến thức chuyên sâu về pháp luật hôn nhân và gia đình (tư vấn về điều kiện ly hôn) mà còn nắm chắc cả kiến thức về tố tụng (khi tư vấn cho chị An trình tự, thủ tục tố tụng tại Tòa án như thế nào, nộp đơn ở đâu…). Như vậy, luật gia đã đáp ứng được điều kiện về kiến thức chuyên môn.

Trong cuộc trao đổi, người tư vấn đã đưa ra các giải pháp cho khách hàng. Chị An lúc này đang trong tâm trạng rất buồn rầu, nhất mực muốn ly hôn. Luật gia Dũng không tư vấn cho chị thủ tục ly hôn ngay mà khuyên chị nên suy nghĩ lại, đưa ra cách giải quyết mâu thuẫn trước là nên có cuộc nói chuyện trực tiếp với người chồng. Điều này thể hiện rằng, người tư vấn là người tâm lý, giàu kinh nghiệm sống, có kinh nghiệm thực tiễn, nắm bắt được tâm lý của khách hàng, đánh giá được vấn đề để không chỉ tư vấn về mặt pháp lý mà còn giảng giải, phân tích vấn đề; đưa ra những lời khuyên, hướng giải quyết mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân hợp lý.

Trong toàn bộ cuộc trao đổi, luật gia hết sức lắng nghe khách hàng trình bày, thể hiện thái độ cảm thông, chia sẻ với khách hàng bằng những lời hỏi han, khuyên ngăn chân tình, gần gũi; không làm việc riêng, có thái độ vội vàng, khó chịu. Luật gia đã thể hiện rằng mình là người có những kĩ năng tư vấn chuyên nghiệp. Đây là điều rất nên có ở một người tư vấn trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình.

Người tư vấn, trước hết với tư cách là “con người”, nên đồng cảm, chia sẻ với những khó khăn của người khác. Với công cụ là pháp luật trong tay, người tư vấn pháp luật cũng cần nhận thức rõ trách nhiệm của mình đối với xã hội, ứng xử phù hợp với các quy tắc đạo đức khi hành nghề. Đối với các vụ việc hôn nhân và gia đình, đòi hỏi người tư vấn càng phải có “tâm” hơn nữa với nghề. Đây cũng là những điều kiện của người tư vấn trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
  2. Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam (Ban hành kèm theo Quyết định số 68/QĐ-HĐLSTQ ngày 20 tháng 7 năm 2011 của Hội đồng luật sư toàn quốc);
  3. Học viện tư pháp, Giáo trình Kỹ năng tư vấn pháp luật, Nxb. CAND, Hà Nội – 2012;

[1] trích Lời nói đầu Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam (Ban hành kèm theo Quyết định số 68/QĐ-HĐLSTQ ngày 20 tháng 7 năm 2011 của Hội đồng luật sư toàn quốc)

[2] https://www.youtube.com/watch?v=nzPRday8Cfs

Bài luận Người tư vấn các vụ việc hôn nhân và gia đình cần phải có đáp ứng được những điều kiện gì.

Nêu và phân tích những ưu nhược điểm của các phương thức tư vấn

Nêu và phân tích những ưu nhược điểm của các phương thức tư vấn.

Xã hội ngày nay không ngừng vận động và phát triển, phát sinh ngày càng nhiều các quan hệ xã hội phức tạp và đa dạng. Với tư cách là công cụ quản lý của Nhà nước, pháp luật cũng không nằm ngoài vòng quay đó để kịp thời điều chỉnh những quan hệ đó. Bởi lẽ đó, hoạt động tư vấn pháp luật trong những năm gần đây diễn ra khá phổ biến, đem lại nhiều lợi ích thiết thực cho cả phía Nhà nước cũng như người dân. Để tìm hiểu sâu hơn về hoạt động này, em chọn đề bài tập: “Đề 2: Nêu và phân tích những ưu nhược điểm của các phương thức tư vấn” làm bài tập học kỳ của mình.

1. Khái quát về các phương thức tư vấn

1.1. Phương thức tư vấn bằng miệng

Phương thức tư vấn bằng miệng có thể áp dụng cho một hoặc nhiều đối tượng như tư vấn cộng đồng, trợ giúp pháp lý lưu động, sinh hoạt chuyên đề pháp luật… thông qua điện thoại hoặc mặt đối mặt trực tiếp giữa người tư vấn và khách hàng. Phương thức này thường được áp dụng đối với các vụ việc có tính chất đơn giản. Hoạt động tư vấn pháp luật là một hoạt động đa dạng, phức tạp đòi hỏi một quá trình lao động trí óc. Vì vậy, khi tư vấn trực tiếp bằng miệng, người tư vấn cần thiết phải tôn trọng một quy trình sau đây:

  • Lắng nghe khách hàng trình bày, ghi chép đầy đủ những nội dung chính, trên cơ sở đó đặt thêm câu hỏi để làm rõ yêu cầu tư vấn và tình huống tư vấn.
  • Tóm tắt yêu cầu của khách hàng, các tình tiết liên quan theo cách hiểu của người tư vấn.
  • Yêu cầu khách hàng cung cấp các tài liệu liên quan đến việc cần tư vấn.
  • Tra cứu tài liệu tham khảo.
  • Định hướng cho khách hàng.

Bài luận Nêu và phân tích những ưu nhược điểm của các phương thức tư vấn.

1.2. Phương thức tư vấn bằng văn bản

Thông thường, tư vấn pháp luật bằng văn bản thường được áp dụng trong trường hợp người tư vấn không trả lời cho khách hàng ngay sau khi có yêu cầu do vụ việc phức tạp hoặc chưa có đầy đủ các tài liệu, chứng cứ pháp lý hoặc người tư vấn cần phải xác minh thêm. Việc tư vấn bằng văn bản thường được tiến hành bởi những lý do sau: Khách hàng ở xa, không trực tiếp đến gặp người tư vấn để xin tư vấn bằng miệng được; khách hàng muốn khẳng định độ tin cậy của các giải pháp thông qua việc đề ra các câu hỏi để người tư vấn trả lời bằng văn bản; kết quả tư vấn bằng văn bản có thể được khách hàng sử dụng để phục vụ cho những mục đích riêng của khách hàng.

Cũng như tư vấn bằng miệng, việc tư vấn bằng văn bản yêu cầu phải quán triệt các bước sau đây:

  • Nghiên cứu kỹ yêu cầu của khách hàng.
  • Trao đổi với khách hàng về yêu cầu của họ để tái khẳng định yêu cầu của họ nếu thấy cần thiết.
  • Tra cứu các tài liệu văn bản pháp luật có liên quan để phục vụ cho việc tư vấn.
  • Người tư vấn có thể đề nghị khách hàng gặp người tư vấn khác để xin tư vấn về những vấn đề mà mình đã phát hiện nhưng không thuộc chueyen môn của mình.
  • Soạn văn bản trả lời cho khách hàng.

2. Ưu điểm và nhược điểm của các phương thức tư vấn

2.1. Ưu điểm của các phương thức tư vấn

2.1.1. Đối với phương thức tư vấn bằng miệng

  • Giải quyết các vụ việc nhanh chóng, kịp thời

Khi khách hàng tìm đến người tư vấn, họ luôn mong muốn người tư vấn có thể làm thỏa mãn những yêu cầu tư vấn của mình ngay lập tức. Đây cũng là ưu điểm lớn nhất của phương thức tư vấn bằng miệng. Thông qua việc trao đổi trực tiếp với khách hàng, người tư vấn sẽ trả lời ngay cho khách hàng, những thắc mắc, mâu thuẫn của khách hàng sẽ được giải quyết một cách nhanh chóng, không mất quá nhiều thời gian cho cả người tư vấn và khách hàng. Qua đó, người tư vấn vừa giúp đỡ, có được thêm lòng tin từ khách hàng, bản thân khách hàng cũng hài lòng về sự tư vấn của người tư vấn. Sự nhanh chóng này được thể hiện rõ nét trong quá trình tư vấn, cụ thể:

Bài luận Nêu và phân tích những ưu nhược điểm của các phương thức tư vấn.

+ Trong quá trình lắng nghe khách hàng trình bày, kết hợp với việc ghi chép, người tư vấn có thể đặt những câu hỏi để khách hàng làm rõ thêm. Thông thường, lần đầu tiên tiếp xúc với một vụ việc, người tư vấn chưa thể nắm bắt được một cách chắc chắn bản chất của sự việc đó. Trong lúc đó, người trình bày lại có tâm lý là người nghe đã nắm bắt được nội dung vụ việc như chính bản thân mình, vì vậy, khách hàng thường trình bày theo hướng chủ quan của mình và có thể bỏ qua nhiều chi tiết mà họ cho là không cần thiết. Do đó, khi tiếp xúc trực tiếp với khách hàng, người tư vấn có thể đặt ngay những câu hỏi có liên quan mà theo người tư vấn, khách hàng chưa cung cấp đầy đủ hoặc đưa những thông tin sai lệch, mâu thuẫn với nhau. Thông qua việc đặt thêm câu hỏi, khách hàng trực tiếp trả lời ngay sẽ giúp cho người tư vấn có thể đưa ra một giải pháp chính xác, đầy đủ và đúng pháp luật.

+ Trong cuộc trao đổi với khách hàng, người tư vấn có thể yêu cầu khách hàng cung cấp các tài liệu liên quan đến việc cần tư vấn ngay. Khách hàng là người trong cuộc, vì vậy phần lớn các việc mà họ yêu cầu tư vấn thường có các tài liệu, văn bản, thư từ giao dịch… liên quan đến vụ việc. Những giấy tờ này phản ánh diễn biến của quá trình tranh chấp hoặc bản chất của vụ việc. Nếu người tư vấn không có những tài liệu này sẽ dẫn đến việc tư vấn có thể không chính xác. Với tâm lý che giấu những điểm bất lợi hoặc sai sót của mình, nhiều khi khách hàng chỉ cung cấp cho người tư vấn những văn bản giấy tờ có lợi cho mình. Người tư vấn có thể động viên họ ngay để họ cung cấp đầy đủ. Sau khi khách hàng đã cung cấp đầy đủ các văn bản giấy tờ, tài liệu có liên quan, người tư vấn cần dành thời gian để đọc các giấy tờ, tài liệu đó. Khi đọc có thể đồng thời hình thành luôn giải pháp trên cơ sở sắp xếp các tài liệu theo tầm quan trọng của nó. Có những tài liệu người tư vấn không hiểu, không đọc được hoặc có nghi ngờ về tính chân thực của nó thì có thể hỏi lại khách hàng để khẳng định ngay.

+ Khi tư vấn giải quyết cho khách hàng, người tư vấn nhất thiết phải dùng các quy định của pháp luật để làm cơ sở cho các kết luận của mình, đồng thời khẳng định với khách hàng rằng người tư vấn đang tư vấn dựa trên quy định của pháp luật chứ không phải theo cảm tính chủ quan của mình. Khi cần thiết, người tư vấn có thể cung cấp cho khách hàng bản sao văn bản, tài liệu đó cùng với giải pháp mà người tư vấn đưa ra. Trong trường hợp người tư vấn không tìm thấy văn bản cần tìm hoặc nghi ngờ về hiệu lực của văn bản đó (có thể văn bản đã bị hủy bỏ và có một văn bản khác thay thế) thì người tư vấn có thể trực tiếp thông báo ngay với khách hàng và hẹn với khách hàng vào một dịp khác để khẳng định lại giá trị áp dụng của văn bản. Điều này cũng tránh được việc áp dụng sai văn bản pháp luật, dẫn đến việc đưa ra các giải pháp cho khách hàng không chính xác.

  • Dễ dàng nắm bắt được tâm lý, đáp ứng nhu cầu chia sẻ của khách hàng

Những mâu thuẫn phát sinh trong đời sống xã hội nhiều trường hợp có thể được giải quyết thông qua con đường pháp lý, nhưng đôi khi lại chỉ được gỡ bỏ bằng tình cảm, điều này được thể hiện rõ nhất trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình. Gia đình được tạo nên trên cơ sở của hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng. Ở đó, các thành viên trong gia đình yêu thương, chăm sóc, đùm bọc lẫn nhau dựa trên yếu tố tình cảm. Bởi vậy, không phải lúc nào pháp luật với tư cách là công cụ của giai cấp thống trị cũng len sâu vào trong từng gia đình mà thường là các quy phạm đạo đức, quy phạm xã hội điều chỉnh mối quan hệ vợ chồng, cha mẹ con. Do đó, bên cạnh các vấn đề pháp lý, khách hàng đôi khi tìm đến người tư vấn với mong muốn giải tỏa được nỗi bức xúc, vướng bận trong lòng, giãi bày tâm tư, mong tìm được sự cảm thông, chia sẻ. Những lúc như thế này, người tư vấn không chỉ là một người tư vấn về mặt pháp luật mà đóng vai trò như một nhà tâm lý, thấu hiểu và đồng cảm với tâm tư của khách hàng bằng việc lắng nghe, động viên, khích lệ khách hàng, phân tích mặt phải trái để giúp khách hàng nhận thức được đúng đắn các vấn đề của mình. Bởi, khi khách hàng tìm đến người tư vấn, họ thường trong trạng thái rất dễ bị kích động, mang nặng ý chí chủ quan của mình mà có thể dẫn đến việc suy xét không kỹ lưỡng các vấn đề. Việc giải tỏa tâm trạng cho khách hàng cũng góp phần làm giải quyết nhanh chóng hơn vụ việc, giúp khách hàng thoải mái hơn về mặt tâm lý để có thể trình bày, cung cấp các thông tin, tài liệu chính xác, đầy đủ cho người tư vấn.

  • Dễ dàng hòa giải

Trong quá trình tư vấn, người tư vấn có thể giúp các bên đương sự hòa giải, thỏa thuận với nhau để tìm ra một giải pháp thỏa đáng. Việc này thường dễ thực hiện hơn so với tư vấn bằng văn bản. Thông qua việc tiếp xúc trực tiếp, người tư vấn không chỉ nhận biết được nội dung vụ việc mà còn nắm bắt được trạng thái, tâm lý của khách hàng để đánh giá chính xác hơn mức độ nghiêm trọng của vụ việc, từ đó có thể hòa giải mâu thuẫn giữa các bên mà không cần phải giải quyết trước pháp luật. Chẳng hạn như đối với những vụ việc cần hòa giải như tư vấn ly hôn chẳng hạn. Đối với phương thức tư vấn bằng miệng, người tư vấn có thể nắm bắt được tâm lý khách hàng qua thái độ, cử chỉ, nét mặt, lời nói của khách hàng để nhận biết tình cảm của khách hàng đối với người chồng, người vợ kia như thế nào, mức độ mâu thuẫn giữa hai vợ chồng đến đâu; từ đó định hướng cho khách hàng nên hòa giải hay nên ly hôn; nếu người tư vấn nhận thấy nên hòa giải thì bằng những kỹ năng tiếp xúc khách hàng của mình, việc hòa giải sẽ hiệu quả hơn. Trong trường hợp này, người tư vấn lại đóng vai trò như một hòa giải viên, phân tích vấn đề cho khách hàng, hòa giải mâu thuẫn giữa hai bên. Khách hàng hài lòng với việc tư vấn không chỉ thể hiện ở việc đưa ra các giải pháp về pháp luật mà còn thể hiện ở việc những mâu thuẫn của khách hàng được giải quyết một cách hợp tình hợp lý.

Bài luận Nêu và phân tích những ưu nhược điểm của các phương thức tư vấn.

2.1.2. Đối với phương thức tư vấn bằng văn bản

  • Yêu cầu của khách hàng thường rõ ràng

Khách hàng tìm đến người tư vấn thường trong tâm trạng bức xúc, khó chịu với vấn đề mà mình gặp phải. Khi trình bày trực tiếp với người tư vấn, họ thường bị chi phối bởi những cảm xúc đó mà có thể trình bày vụ việc của mình không rõ ràng, rắc rối, phức tạp. Đã có không ít trường hợp trong các cuộc tư vấn bằng miệng, khách hàng nói hàng giờ đồng hồ về câu chuyện của mình mà người tư vấn không xác định được được yêu cầu của khách hàng là gì. Tuy nhiên, khi khách hàng gửi yêu cầu của mình đến người tư vấn nhờ giải quyết qua đơn, thư, fax… khách hàng thường ghi rõ yêu cầu tư vấn của mình. Bởi khi viết ra dưới dạng văn bản, khách hàng lúc này thường có tâm lý ổn định hơn, cẩn thận hơn trong diễn đạt, trình bày vấn đề của mình. Người tư vấn qua đó cũng dễ dàng hơn trong việc xác định yêu cầu của khách hàng.

  • Cách giải quyết của người tư vấn có độ chính xác cao

Thực hiện tư vấn thông qua văn bản đảm bảo sự tư vấn khách hàng có độ chính xác cao hơn so với tư vấn bằng miệng. Người tư vấn có thêm nhiều hơn thời gian, đầu tư được nhiều công sức hơn trong việc giải quyết vấn đề của khách hàng. Sự chính xác này thể hiện ở việc:

+ Người tư vấn có thể nghiên cứu kỹ yêu cầu của khách hàng. Thông qua việc yêu cầu của khách hàng đã được xác định rõ, người tư vấn sẽ không phải sắp xếp các vấn đề như trong tư vấn bằng lời nói.

+ Người tư vấn có thêm thời gian để tra cứu các văn bản pháp luật có liên quan để phục vụ cho việc tư vấn. Điều này cũng hạn chế trường hợp người tư vấn dùng sai hay sử dụng văn bản đã hết hiệu lực như đối với trường hợp tư vấn bằng miệng. Hơn nữa, nhiều quy định của pháp luật hiện nay còn nhiều mâu thuẫn, có cách hiểu khác nhau. Khi có thêm thời gian tìm hiểu các quy định của pháp luật, người tư vấn sẽ đưa ra được nhiều phương án giải quyết cho khách hàng, phân tích kĩ càng hơn những ưu điểm, hạn chế của từng phương án.

+ Văn bản trả lời cho khách hàng nêu được bản chất của vấn đề mà khách hàng yêu cầu, đáp ứng trực tiếp yêu cầu mà khách hàng nêu ra. Thông qua văn bản này, khách hàng có cơ sở để giải quyết vấn đề của mình, tránh trường hợp khách hàng quên hay nhớ nhầm những lời tư vấn của người tư vấn nếu tư vấn bằng miệng.

2.2. Nhược điểm của các phương thức tư vấn

2.2.1. Đối với phương thức tư vấn bằng miệng

  • Khách hàng không nắm bắt được cách giải quyết

Một trong những kỹ năng thiết yếu của người tư vấn là luôn phải ghi chép lại nội dung của vụ việc dựa trên lời trình bày của khách hàng. Tuy nhiên, việc ghi chép lại không đặt ra đối với khách hàng. Đôi khi khách hàng đến tìm người tư vấn không chỉ với mục đích là tư vấn về mặt pháp luật mà có thể mong muốn có người lắng nghe vấn đề của mình, tìm kiếm sự cảm thông, chia sẻ nơi người tư vấn cùng với những cảm xúc cá nhân và họ thường sẽ không có sự chuẩn bị để ghi lại nội dung mà người tư vấn giải quyết cho họ. Từ đó dẫn đến việc khách hàng quên, nhớ không đầy đủ hoặc không nhớ chính xác những nội dung đó, hỏi lại người tư vấn và người tư vấn sẽ phải trả lời lại. Điều này vừa gây phiền hà cho khách hàng khi họ phải đến tư vấn nhiều lần, tốn thời gian, công sức, tiền của; vừa gây khó khăn cho người tư vấn vì họ cũng sẽ phải giải đáp lại cho khách hàng, có thể dẫn đến việc người tư vấn nhầm lẫn vì họ có nhiều vụ việc phải giải quyết. Để khắc phục vấn đề này, người tư vấn nên nhắc khách hàng ghi lại những thông tin cần thiết, hoặc tự mình ghi chép lại giúp khách hàng. Tuy những điều này là rất nhỏ nhưng góp phần thể hiện sự chuyên nghiệp của người tư vấn, thuận lợi hơn cho khách hàng.

Bài luận Nêu và phân tích những ưu nhược điểm của các phương thức tư vấn.

  • Cách giải quyết của người tư vấn có thể không chính xác, hiệu quả

Việc tư vấn bằng miệng của người tư vấn không chính xác, hiệu quả bởi một số lý do sau:

+ Không xác định được chính xác những yêu cầu của khách hàng. Khi khách hàng bị chi phối bởi tâm trạng, dẫn đến việc trình bày dài dòng, không rõ ràng yêu cầu của mình, người tư vấn bởi lẽ đó mà không xác định được việc mình cần phải làm cho khách hàng. Dẫn đến hiệu quả của việc tư vấn sẽ không cao, không thỏa mãn nhu cầu của khách hàng.

+ Không có nhiều thời gian để nghiên cứu hồ sơ, tra cứu tài liệu. Trong cuộc trao đổi trực tiếp, khách hàng luôn muốn người tư vấn phải giải đáp, đưa ra phương án tư vấn ngay cho họ. Điều này gây nên áp lực không hề nhỏ lên người tư vấn. Người tư vấn sẽ phải nhanh chóng rà soát các tài liệu mà khách hàng cung cấp, tra cứu văn bản pháp luật nào cần phải dùng. Việc làm này tuy có thể nhanh chóng giải quyết vấn đề của khách hàng nhưng cũng sẽ làm gia tăng những sai sót mà người tư vấn có thể gặp phải như giấy tờ, tài liệu có những thông tin mâu thuẫn hay không có giá trị pháp lý mà người tư vấn không phát hiện ra, văn bản pháp luật áp dụng đã hết hiệu lực… Do đó, muốn thực hiện tốt việc tư vấn trực tiếp bằng miệng này, đòi hỏi người tư vấn phải nắm vững kiến thức chuyên môn cũng như kinh nghiệm nghề nghiệp.

Bởi một số lý do trên nên hoạt động tư vấn không đạt được kết quả như mong muốn. Người tư vấn có thể sẽ không đưa ra được nhiều giải pháp hợp lý cho khách hàng, không đáp ứng được yêu cầu của khách hàng và dẫn đến hệ lụy tất yếu là mất lòng tin ở khách hàng. Để đáp ứng được yêu cầu của khách hàng đối với phương thức tư vấn bằng miệng, đòi hỏi người tư vấn phải không ngừng trau dồi kiến thức cũng như các kỹ năng nghề nghiệp của mình.

2.2.2. Đối với phương thức tư vấn bằng văn bản

  • Thường không nhanh chóng, mất nhiều thời gian

Đây là nhược điểm lớn nhất của phương thức tư vấn bằng văn bản. Thay vì mất vài tiếng giải quyết được yêu cầu của khách hàng khi tư vấn bằng miệng thì đối với phương thức tư vấn bằng văn bản, khách hàng khó có thể nhận được phần tư vấn từ người tư vấn trong khoảng thời gian ngắn như vậy. Có rất nhiều hoạt động gây mất thời gian của cả khách hàng và người tư vấn. Đối với khách hàng, để gửi yêu cầu đến người tư vấn, khách hàng sẽ phải viết thư trình bày vấn đề và yêu cầu của mình và gửi theo đường bưu điện, hoặc có thể nhanh hơn là qua các phương tiện điện tử như mail, fax… Còn đối với người tư vấn, tuy rằng họ có thêm nhiều thời gian hơn để tìm hiểu vụ việc nhưng thay vì trả lời ngay cho khách hàng, họ sẽ phải soạn văn bản trả lời đưa ra cách giải quyết của mình, hoặc yêu cầu khách hàng cung cấp thêm thông tin, tài liệu… Lúc này, đòi hỏi người tư vấn không chỉ phải giỏi cả về kiến thức chuyên môn (vì những vụ việc khó, phức tạp thường phải sử dụng phương thức này) thì họ cũng phải thành thạo một số kỹ năng nghề nghiệp khác, đặc biệt là kỹ năng soạn thảo văn bản. Những việc làm này sẽ tốn nhiều thời gian hơn, không kể những rủi ro, khó khăn có thể gặp phải như khách hàng không thông thạo các phương tiện điện tử; thất lạc thư; người tư vấn bỏ sót khách hàng (không kiểm tra hết hộp thư, lỗi đường truyền tín hiệu…).

  • Không dễ dàng nắm bắt tâm lý của khách hàng

Người tư vấn chủ yếu tiếp xúc với khách hàng thông qua văn bản thư từ qua lại, nên việc nắm bắt tâm lý khách hàng là không dễ dàng. Nếu như đối với phương thức tư vấn bằng miệng, người tư vấn có thể quan sát hành vi, thái độ của khách hàng để đánh giá mức độ nghiêm trọng của vụ việc, từ đó đưa ra cách giải quyết mâu thuẫn hợp lý hơn như hòa giải, thỏa thuận. Còn đối với phương thức tư vấn bằng văn bản, người tư vấn chỉ đánh giá được vụ việc qua lời văn, giọng kể của khách hàng, việc xem xét mức độ vụ việc sẽ hạn chế hơn rất nhiều. Xin lấy ví dụ một vấn đề nảy sinh trong quan hệ hôn nhân. Khách hàng là một phụ nữ trung tuổi đến gặp người tư vấn để tư vấn về việc người chồng đang ngoại tình. Qua sự tiếp xúc trực tiếp, người tư vấn nhận thấy khách hàng đang trong tâm trạng rất kích động (la lối, nét mặt căng thẳng), một mực muốn ly hôn. Đối với tư vấn bằng miệng, lúc này người tư vấn bằng lời nói của mình sẽ dễ dàng chia sẻ với khách hàng, xoa dịu bức bối, làm khách hàng bình tĩnh hơn để suy xét vấn đề, nên ly hôn hay dùng phương thức khác để cứu vãn cuộc hôn nhân. Còn đối với phương thức tư vấn bằng văn bản, người tư vấn khó mà biết được nỗi lòng của khách hàng để tư vấn theo hướng ly hôn hay hòa giải.

Các phương thức tư vấn đều có những ưu, khuyết điểm khác nhau. Trong từng trường hợp cụ thể, người tư vấn nên xác định phương thức tư vấn phù hợp để đạt được hiệu quả tốt nhất. Dù áp dụng phương thức tư vấn nào, đích đến cuối cùng vẫn là sự hài lòng của khách hàng và “tâm” của người tư vấn được trọn vẹn.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
  2. Học viện tư pháp, Giáo trình Kỹ năng tư vấn pháp luật, Nxb. CAND, Hà Nội – 2012;

Bài luận Nêu và phân tích những ưu nhược điểm của các phương thức tư vấn.

Nhận diện các rủi ro trong hoạt động kinh doanh bất động sản? Chỉ rõ các nguyên nhân dẫn đến các rủi ro đó và đề xuất giải pháp khắc phục

Hãy nhận diện các rủi ro trong hoạt động kinh doanh bất động sản? Chỉ rõ các nguyên nhân dẫn đến các rủi ro đó và đề xuất giải pháp khắc phục.

Thị trường bất động sản có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế thị trường, bởi lẽ bất động sản là yếu tố “đầu vào” của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh. Khi tham gia thị trường này, bên cạnh những lợi ích rất lớn về kinh tế cũng xuất hiện những rủi ro mà các chủ thể trong hoạt động kinh doanh bất động sản khó tránh khỏi. Do vậy, em chọn đề bài tập số 2: “Hãy nhận diện các rủi ro trong hoạt động kinh doanh bất động sản? Chỉ rõ các nguyên nhân dẫn đến các rủi ro đó và đề xuất giải pháp khắc phục” làm bài tập lớn của mình.

1. Một số vấn đề khái quát về hoạt động kinh doanh bất động sản

Khoản 1 Điều 3 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014: “Kinh doanh bất động sản là việc đầu tư vốn để thực hiện hoạt động xây dựng, mua, nhận chuyển nhượng để bán, chuyển nhượng;  cho thuê, cho thuê lại, cho thuê mua bất động sản; thực hiện dịch vụ môi giới bất động sản; dịch vụ sàn giao dịch bất động sản; dịch vụ tư vấn bất động sản hoặc quản lý bất động sản nhằm mục đích sinh lợi”. So với Luật Kinh doanh bất động sản năm 2006, Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 không còn quy định hoạt động định giá bất động sản, quảng cáo bất động sản là hoạt động kinh doanh bất động sản. Còn phạm vi hoạt động kinh doanh vẫn không thay đổi.

Kinh doanh bất động sản có những đặc điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, đối tượng của hoạt động kinh doanh bất động sản là loại tài sản có đặc trưng không thể tách rời như đất đai, nhà ở, công trình xây dựng, kể cả tài sản gắn liền với đất đai, công trình xây dựng.

Thứ hai, kinh doanh bất động sản là ngành nghề kinh doanh có điều kiện, được quy định tại Luật Đầu tư năm 2014. Không phải mọi tổ chức, cá nhân đều có thể kinh doanh bất động sản mà các chủ thể phải đáp ứng những yêu cầu nhất định của pháp luật như về vốn pháp định, năng lực về tài chính…

Bài luận Nhận diện các rủi ro trong hoạt động kinh doanh bất động sản? Chỉ rõ các nguyên nhân dẫn đến các rủi ro đó và đề xuất giải pháp khắc phục.

Thứ ba, kinh doanh bất động sản là hoạt động đầu tư lớn và lâu dài.

Thứ tư, kinh doanh bất động sản là loại hình kinh doanh mạo hiểm, lợi nhuận lớn nhưng rủi ro cao.

2. Các rủi ro trong hoạt động kinh doanh bất động sản

Thứ nhất, rủi ro từ chính sách pháp luật, hoạt động quản lý của nhà nước.

Hiện nay hệ thống pháp luật của Việt Nam tuy đã có nhiều đổi mới nhưng vẫn chưa đồng bộ: hệ thống đăng ký bất động sản chưa đủ điều kiện để có hệ thống quản lý công khai, minh bạch, chưa huy động được tiền tiết kiệm của dân vào đầu tư bất động sản, quy hoạch, sử dụng đất còn nhiều yếu kém; hệ thống cơ quan quản lý, cán bộ quản lý còn nhiều bất cập, chưa phục vụ tốt nhân dân, còn nhiều sai phạm trong áp dụng pháp luật; các thủ tục hành chính rườm rà đến mức không cần thiết gây tốn kém về thời gian và tiền bạc, làm lỡ cơ hội đầu tư… xuất phát từ hoạt động quản lý quản lý nhà nước, cụ thể là sự phiền hà, phức tạp trong thủ tục hành chính.

Các quy định của pháp luật còn chồng chéo, thiếu hụt dẫn đến khó áp dụng trong thực tế. Chẳng hạn Luật Đất đai năm 2013 quy định cụ thể, chi tiết nội dung về trình tự, thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhưng giữa Luật, Nghị định và Thông tư chưa nhất quán. Theo đánh giá của nhiều địa phương, giữa Luật và văn bản hướng dẫn thi hành Luật còn đang có độ “vênh”. Cụ thể, cùng một nội dung cấp giấy chứng nhận đối với trường hợp chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất trước ngày 01/07/2014 nhưng Nghị định số 43/2014/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật đất đai yêu cầu cá nhân phải nộp đơn đề nghị cáp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trong khi đó Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về hồ sơ địa chính lại yêu cầu nộp Đơn đăng ký biến động đất đai, tài sản.

Thủ tục đầu tư, thủ tục giao đất còn nhiều rắc rối, việc đền bù, giải phóng mặt bằng và các vấn đề liên quan đến quy hoạch… còn nhiều khó khăn.

Thứ hai, rủi ro từ năng lực hoạt động kinh doanh của nhà đầu tư

Rủi ro này phát sinh khi người lãnh đạo không đủ năng lực, trình độ lãnh đạo doanh nghiệp hay không đủ khả năng lãng đạo do phản ứng kém linh hoạt với các biến động của thị trường. Trường hợp khác là người lãnh đạo tuy có năng lực, chuyên môn tốt những không có khả năng đoàn kết nội bộ, việc thiếu sự đồng thuận của các thành viên sẽ khiến cho việc ra các quyết định không chính xác.

Một nguy cơ và cũng là thực trạng của thị trường bất động sản đó là tình trạng đầu tư bất động sản theo “mốt”. Lợi nhuận cao trước mắt là nguyên nhân khiến các doanh nghiệp thi nhau nhảy vào thị trường địa ốc. Tuy nhiên, không phải doanh nghiệp nào cũng có những nghiên cứu thị trường một cách cụ thể để đưa ra chiến lược kinh doanh thích hợp. Nhiều doanh nghiệp do không am hiểu thị trường đã dẫn đến đầu tư tràn lan, lãng phí, thậm chí đầu cơ, tác động xấu đến thị trường. Điều này có thể gây ra tình trạng hỗn loạn cho thị trường bất động sản và có tác động xấu đến chính các doanh nghiệp.

Bài luận Nhận diện các rủi ro trong hoạt động kinh doanh bất động sản? Chỉ rõ các nguyên nhân dẫn đến các rủi ro đó và đề xuất giải pháp khắc phục.

Trên thực tế lĩnh vực kinh doanh bất động sản chưa hoàn toàn mang tính chuyên nghiệp. Vẫn còn tồn tại một số lượng không nhỏ văn phòng môi giới bất động sản hoạt động tự phát mà không bị pháp luật xử lý. Các trung tâm môi giới ra đời ngày càng nhiều song có một thực tế đáng buồn là trong hàng nghìn trung tâm tư vấn, văn phòng môi giới bất động sản hoạt động chỉ có một vài đơn vị làm ăn theo đúng nghĩa của nó. Thống kê của Sở Xây dựng Hà Nội cho thấy, trong tổng số hơn 500 sàn giao dịch bất động sản, có tới 122 sàn không hoạt động và hơn 200 sàn không có bất kỳ giao dịch thành công. Tuy Luật KDBDS năm 2014 đã có quy định cụ thể về điều kiện của cá nhân kinh doanh dịch vụ môi giới bất động sản nhưng phần lớn các cá nhân hoạt động môi giới nhà đất riêng lẻ không có nghề nghiệp, không được đào tạo, có kiến thức chuyên môn. Họ hành nghề chủ yếu dựa vào kinh nghiệm bản thân và các mối quan hệ quen biết cá nhân. Do đó, hoạt động của lực lượng này nhiều khi gây tình trạng nhũng nhiễu thông tin, cản trở việc kiểm soát của Chính phủ.

Thứ ba, rủi ro về lãi suất.

Các dự án lớn chủ yếu thường dựa vào sự hỗ trợ tài chính của các ngân hàng. Chủ đầu tư thường phải đi vay vốn và chi phí sử dụng sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư. Khách hàng cá nhân, nhà đầu tư nhỏ lẻ cũng vay khi mua dự án. Song, hiện nay lãi suất ở Việt Nam vẫn còn quá cao, cộng thêm việc điều chỉnh lãi suất thả nổi có thể tăng lên bất cứ lúc nào là một rủi ro khá lơn trong đầu tư kinh doanh bất động sản.

Thứ tư, rủi ro phát sinh từ việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế.

Trên thực tế, các chủ thể có rất nhiều chiêu thức để trốn tránh nghĩa vụ của mình, đặc biệt là nghĩa vụ nộp thuế thu nhập từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất như chuyển khoản cá nhân, để ngoài sổ sách, hợp thức hóa bằng các khoản cho vay. Với thủ đoạn này, có những doanh nghiệp gây thất thu hàng chục tỷ đồng tiền thuế của Nhà nước. Bên cạnh đó, tình trạng các bên thỏa thuận ghi giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong hợp đồng thấp hơn giá thực tế nhằm mục đích trốn thuế đã khiến cho Nhà nước thất thu một khoản ngân sách lớn còn người sử dụng đất do biết tận dụng khoảng trống của Nhà nước nên đã trốn được một khoản thuế khổng lồ. Hiện nay, các cơ quan chức năng không phải không biết hiện tượng này nhưng do giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất là một giao dịch dân sự mà nguyên tắc cơ bản nhất là nguyên tắc thỏa thuận, tự nguyện nên chưa có biện pháp hữu hiệu để xử lý.

Thứ năm, rủi ro từ vi phạm nghĩa vụ của nhà đầu tư.

Hiện nay diễn ra phổ biến tình trạng các nhà đầu tư bàn giao nhà, công trình không đúng theo tiến độ của dự án, lần lữa trong việc giao nhà, công trình gây nhiều khó khăn cho người có nhu cầu mua nhà (thậm chí người mua đã vay tiền ngân hàng, tiếp tục phải trả lãi cao trong thời gian chờ đợi nhận nhà); sử dụng khoản tiền huy động của khách hàng không đúng mục đích. Vấn đề này hiện nay pháp luật chưa có cơ chế kiểm soát chặt chẽ. Nhà đầu tư tìm cách hủy hợp đồng, chấp nhận bồi thường khi giá nhà đất lên cao, lên nhanh (sự bội tín của nhà đầu tư). Có trường hợp bán nhà trên giấy (khi chưa có quy định về móng nhà mới được bán) nếu có tranh chấp thường bị Tòa án tuyên hợp đồng vô hiệu và khách hàng phải nhận tiền về vốn góp từ 2, 3 năm trước và sau đó chủ đầu tư bán với giá hiện tại gấp vài lần giá gốc trước đây (trong các hợp đồng mua bán nhà thường quy định nhà đầu tư trong trường hợp không tiếp tục thực hiện dự án chỉ phải bồi thường cao nhất 8% giá trị hợp đồng hoặc cao nhất là 30% giá gốc trong trường hợp không giao nhà với bất cứ lý do nào). Chất lượng nhà, công trình không đảm bảo như trong cam kết với người mua, nếu người mua không yêu cầu thì cũng được sửa chữa nhưng sự vá víu đó thường không đáp ứng đúng quy chuẩn xây dựng.

Thứ sáu, rủi ro từ các giao dịch liên quan đến nhà ở xã hội.

Đối với chính sách khuyến khích xây dựng nhà ở xã hội cho người có thu nhập thấp mới chỉ dừng lại ở những quy định mang tính chất định hướng. Ngoài quỹ đất, nguồn vốn thì các thủ tục, cơ chế là hai rào cản lớn nhất đối với doanh nghiệp tham gia chương trình này. Các chủ đầu tư thường không mặn mà với việc bỏ vốn xây dựng nhà thu nhập thấp vì khả năng thu hồi vốn chậm. Chưa kể khi tham gia đầu tư xây dựng loại nhà này, các chủ đầu tư phải chủ động bồi thường giải phóng mặt bằng trong khi giá căn hộ thì được nhà nước thẩm định, đối tượng mua lại hạn chế và nhà nước chưa có cơ chế hỗ trợ tài chính trực tiếp.

Thứ bảy, rủi ro về kinh tế vĩ mô và kinh tế ngành.

Khủng hoảng kinh tế trong nước, khu vực hay thế giới sẽ ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả đầu tư trong bối cảnh Việt Nam đang trong quá trình hội nhập sâu rộng với bạn bè quốc tế. Những thay đổi tiêu cực của nền kinh tế đều ảnh hưởng có thể đến mức làm thay đổi cả thị trường bất động sản.

Thứ tám, rủi ro môi trường xã hội.

Các yếu tố xã hội cũng tác động rất lớn đến giá trị bất động sản. Các yếu tố mật độ dân cư, chất lượng y tế giáo dục, trình độ dân trí, vấn đề an ninh, tập quán người dân… cũng có ảnh hưởng đến giá trị của bất động sản. Các yếu tố liên quan đến phong thủy cũng được xem xét kỹ lưỡng.

Bài luận Nhận diện các rủi ro trong hoạt động kinh doanh bất động sản? Chỉ rõ các nguyên nhân dẫn đến các rủi ro đó và đề xuất giải pháp khắc phục.

3. Một số đề xuất khắc phục

Thứ nhất, đối với rủi ro từ chính sách pháp luật, hoạt động quản lý của nhà nước.

+ Cần đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật. Rà soát, sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật nhằm tạo sự đồng bộ, tránh trùng lặp, chồng chéo, mâu thuẫn giữa các quy định của pháp luật, cụ thể Bộ luật Dân sự, Luật Đất đai, Luật Kinh doanh bất động sản và các văn bản hướng dẫn.

+ Cải cách trình tự, thủ tục hành chính trong hoạt động kinh doanh bất động sản: Đơn giản hóa thủ tục hành chính nhằm đảm bảo quyền lợi của các chủ thể, đẩy nhanh tiến độ đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất.

+ Nâng cao chất lượng cán bộ thi hành pháp luật bằng việc thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn chuyên môn nghiệp vụ, tổ chức các đoàn thanh tra nhằm phát hiện những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện pháp luật. Cần xử lý triệt để các hành vi vi phạm của các cán bộ công chức nhà nước quy định thêm thủ tục, hồ sơ chuyền nhượng BĐS, không thực hiện nghiêm túc việc công khai, minh bạch thủ tục hành chính, gây phiền hà, sách nhiễu cho người dân.

Thứ hai, rủi ro từ năng lực hoạt động kinh doanh của nhà đầu tư.

+ Nhà đầu tư cần chủ động nghiên cứu, xem xét các cơ hội kinh doanh, nâng cao đội ngũ nhân viên có năng lực và kinh nghiệm.

+ Tăng cường công tác kiểm tra các tổ chức, cá nhân kinh doanh bất động sản về vốn pháp định, về điều kiện kinh doanh bất động sản của các chủ thể, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật.

Thứ ba, đối với rủi ro về lãi suất.

Cần có những chính sách tài chính, tiền tệ rõ ràng và đầy đủ. Tạo điều kiện thuận lợi về lãi suất nhằm khuyến khích và tạo điều kiện cho các nhà đầu tư nhưng không được sao nhãng quyền lợi của khách hàng. Cân đối sử dụng nguồn vốn có hiệu quả.

Thứ tư, đối với rủi ro từ sự vi phạm nghĩa vụ của nhà đầu tư.

+ Cần nghiên cứu, xây dựng và sớm ban hành bộ quy tắc ứng xử về đạo đức kinh doanh từng ngành nghề trong lĩnh vực kinh doanh bất động sản. Bộ quy tắc này sẽ định hướng cho việc hoạt động từng ngành nghề đi vào nề nếp, mang tính công khai, minh bạch.

+ Bản thân các chủ thể tham gia các hoạt động kinh doanh bất động sản cũng cần nâng cao kiến thức, chủ động tìm kiếm nguồn thông tin. Chẳng hạn, khi có ý định mua đất, người mua cần chú ý: chọn chủ đầu tư có uy tín để ký kết hợp đồng; trước khi ký kết hợp đồng cần tìm hiểu các vấn đề pháp lý của dự án như quyết định giao đất, thẩm định thiết kế, giấy phép xây dựng; đọc kỹ hợp đồng, nếu không am hiểu thì có thể nhờ người có chuyên môn tư vấn.

Thứ năm, đối với rủi ro từ các giao dịch liên quan đến nhà ở xã hội.

Để thúc đẩy triển khai các dự án nhà ở xã hội, nhà ở giá rẻ thì trước hết, Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ, tạo điều kiện từ cả phía nhà đầu tư và người nghèo, người có thu nhập thấp để họ có đủ khả năng để mua nhà về thuế, giải phóng mặt bằng, hạ thấp các điều kiện của người được sở hữu nhà…

Thứ sáu, đối với rủi ro về kinh tế vĩ mô, kinh tế ngành và môi trường xã hội.

Để tránh các rủi ro phát sinh, các chủ thể tham gia hoạt động kinh doanh bất động sản cần thường xuyên cập nhật thông tin về các bất động sản, đánh giá và phân tích kỹ lưỡng giá trị thực của bất động sản và giá trị tương lai của bất động sản. Nếu nắm bắt được tốt quy luật thị trường và đưa ra được những phán đoán chính xác về môi trường xã hội trên bất động sản thì nhà đầu tư sẽ không những không gặp rủi ro mà còn có thể gia tăng lợi nhuận một cách nhanh chóng.

Các rủi ro trong hoạt động kinh doanh bất động sản là dễ phát sinh nhưng không khó để Nhà nước kiểm soát, nhà đầu tư và khách hàng đều đạt được nguyện vọng khi tham gia các giao dịch khi các bên cùng chủ động, hợp tác, tôn trọng nhau và tuân thủ nghiêm túc quy định của pháp luật.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Luật Đất đai năm 2013;
  2. Luật Đầu tư năm 2014;
  3. Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014;
  4. Đỗ Thị Tùng, Những vấn đề phát lý về hoạt động kinh doanh mua bán, chuyển nhượng bất động trả chậm, trả dần, Khóa luận tốt nghiệp, Hà Nội – 2011;
  5. Hoàng Thị Hương, Pháp luật về chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong kinh doanh bất động sản, Khóa luận tốt nghiệp, Hà Nội – 2016;
  6. Nguyễn Thế Thức, Thực trạng pháp luật về môi giới bất động sản, Khóa luận tốt nghiệp, Hà Nội – 2015;

Bài luận Nhận diện các rủi ro trong hoạt động kinh doanh bất động sản? Chỉ rõ các nguyên nhân dẫn đến các rủi ro đó và đề xuất giải pháp khắc phục.

Đánh giá sự thay đổi, phát triển của Luật Đầu tư 2014 so với Luật Đầu tư năm 2005

Phân tích thủ tục đầu tư theo Luật Đầu tư 2014, qua đó đánh giá sự thay đổi, phát triển của Luật Đầu tư 2014 so với Luật Đầu tư năm 2005.

Đầu tư là cụm từ phổ biến hiện nay, đặc biệt trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại. Với sự ra đời của Luật Đầu tư năm 2014, cụm từ này càng được nhắc tới nhiều hơn, là mối quan tâm lớn của các nhà đầu tư. Bởi vậy, em chọn đề Bài tập 7: “Phân tích thủ tục đầu tư theo Luật Đầu tư 2014, qua đó đánh giá sự thay đổi, phát triển của Luật Đầu tư 2014 so với Luật Đầu tư năm 2005” làm bài tập học kỳ của mình.

1. Khái quát về đầu tư và thủ tục đầu tư

Trước hết, Luật Đầu tư năm 2014 (LĐT năm 2014) điều chỉnh hoạt động đầu tư kinh doanh. Theo đó, “đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư” (khoản 5 Điều 3).

Sau khi tiến hành các công việc trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư, nhà đầu tư chuyển sang giai đoạn thực hiện các thủ tục đầu tư. Mục đích chủ yếu của việc quy định các thủ tục đầu tư là để đảm bảo sự quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư cũng như các hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung, tránh sự lãng phí, thất thoát và kém hiệu quả trong đầu tư. Đồng thời thông qua đó, Nhà nước thừa nhận tính hợp pháp của hoạt động đầu tư, từ đó có cơ sở pháp lý để bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của nhà đầu tư.

Bài luận Đánh giá sự thay đổi, phát triển của Luật Đầu tư 2014 so với Luật Đầu tư năm 2005.

2. Thủ tục đầu tư theo Luật Đầu tư năm 2014

Trong phạm vi bài tiểu luận, thủ tục đầu tư được phân tích tương ứng với ba nhóm dự án đầu tư: Dự án đầu tư không phải làm thủ tục đăng ký đầu tư; Dự án đầu tư phải làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư; Dự án đầu tư phải làm thủ tục quyết định chủ trương đầu tư.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 36 LĐT năm 2014, các dự án đầu tư sau không phải làm thủ tục đăng ký đầu tư: (i) Dự án đầu tư của nhà đầu tư trong nước; (ii) Dự án đầu tư của tổ chức kinh tế quy định tại khoản 2 Điều 23 LĐT năm 2014; (iii) Đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế.

Đối với những trường hợp trên, nhà đầu tư không phải thực hiện thủ tục đăng ký đầu tư. Tuy nhiên, nếu có nhu cầu cấp Giấy chứng nhận đăng kí đầu tư  (GCNĐKĐT) đối với các dự án đầu tư thuộc trường hợp (i) và (ii) ở trên, nhà đầu tư thực hiện thủ tục cấp GCNĐKĐT theo quy định của pháp luật mà không hạn chế, ngăn cản việc cấp này. Những trường hợp này không buộc phải thực hiện thủ tục đăng ký đầu tư nên việc thực hiện các thủ tục đầu tư không được đặt ra.

2.1. Đối với dự án đầu tư phải làm thủ tục quyết định chủ trương đầu tư

2.1.1. Các trường hợp phải làm thủ tục quyết định chủ trương đầu tư

Theo LĐT năm 2014, trường hợp các dự án đầu tư phải quyết định chủ trương đầu tư được quy định tại Điều 30, 31 và 32, lần lượt tương ứng với thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

Những dự án thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Quốc hội là những dự án ảnh hưởng lớn đến môi trường hoặc tiềm ẩn khả năng ảnh hưởng lớn đến môi trường, chuyển mục đích sử dụng đất với diện tích lớn, tác động lớn đến bộ phận dân cư, tác động rất lớn đến nền kinh tế – xã hội nên phải được cơ quan quyền lực cao nhất của nhà nước quyết định chủ trương đầu tư. Đối với những dự án thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Thủ tướng Chính phủ, tuy mức độ tác động không lớn như các dự án thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Quốc hội nhưng do ảnh hưởng của nó đến kinh tế – xã hội nên cần chủ thể có thẩm quyền là Thủ tướng Chính phủ quyết định chủ trương đầu tư như dự án xây dựng và kinh doanh cảng hàng không, vận tải hàng không; thăm dò, khai thác, chế biến dầu khí; sản xuất thuốc lá điếu… Còn những dự án thuộc thẩm quyền quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là những dự án có ảnh hưởng thấp hơn đến kinh tế – xã hội.

Bài luận Đánh giá sự thay đổi, phát triển của Luật Đầu tư 2014 so với Luật Đầu tư năm 2005.

2.1.2. Trình tự, thủ tục quyết định chủ trương đầu tư

Khi dự án đầu tư thuộc những trường hợp phải quyết định chủ trương đầu tư, nhà đầu tư cần nộp hồ sơ dự án đầu tư cho cơ quan đăng ký đầu tư. Hồ sơ, trình tự, thủ tục quyết định chủ trương đầu tư của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Thủ tướng Chính phủ và Quốc hội được quy định tương ứng với các Điều 33, 34 và 35 LĐT năm 2014 và được hướng dẫn cụ thể tại Nghị định số 118/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư của Chính phủ ngày 12/11/2015.

Nếu dự án đầu tư thuộc thẩm quyền quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, sau 35 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ dự án đầu tư, cơ quan đăng ký đầu tư sẽ thông báo kết quả cho nhà đầu tư. Còn đối với các dự án đầu tư thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Quốc hội và Thủ tướng Chính phủ, pháp luật đầu tư hiện hành chưa quy định thời gian cụ thể thông báo kết quả cho nhà đầu tư. Việc không có quy định về thời hạn thông báo xuất phát từ quy mô, tác động của các dự án đầu tư đối với nền kinh tế – xã hội. Nếu xác định một thời hạn cụ thể, có thể dẫn đến những quyết định chủ trương vội vàng, không đúng đắn. Bởi vậy, tùy thuộc từng dự án đầu tư, Quốc hội hay Thủ tướng Chính phủ cần có thời gian hợp lý để xem xét, cân nhắc kỹ lưỡng.

Đối với các dự án thuộc diện quyết định chủ trương đầu tư, cơ quan đăng ký đầu tư cấp GCNĐKĐT cho nhà đầu tư trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản quyết định chủ trương đầu tư (khoản 1 Điều 37 LĐT năm 2014).

2.2. Đối với các dự án phải thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng kí đầu tư

2.2.1. Các trường hợp thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư

Dự án đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài

Dự án đầu tư của tổ chức kinh tế quy định tại khoản 1 Điều 23 LĐT năm 2014

Dự án đầu tư không phải thực hiện thủ tục cấp GCNĐKĐT nhưng nhà đầu tư có nhu cầu

2.2.2. Thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư

Điều 37 LĐT năm 2014 quy định: Đối với dự án không thuộc diện quyết định chủ trương đầu tư, nhà đầu tư nộp hồ sơ theo quy định tại khoản 1 Điều 33 LĐT năm 2014 cho cơ quan đăng ký đầu tư; trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được đủ hồ sơ, cơ quan đăng ký đầu tư cấp GCNĐKĐT, trường hợp từ chối thì phải thông báo bằng văn bản cho nhà đầu tư và nêu rõ lý do.

2.2.3. Thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư

Thẩm quyền cấp GCNĐKĐT phụ thuộc vào vị trí địa lý của dự án đầu tư. Cụ thể:

+ Ban Quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế có thẩm quyền tiếp nhận, cấp GCNĐKĐT đối với các dự án đầu tư trong khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế;

+ Sở Kế hoạch và Đầu tư có thẩm quyền tiếp nhận, cấp GCNĐKĐT đối với các dự án đầu tư ngoài khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế, trừ trường hợp: (i) Dự án đầu tư thực hiện trên địa bàn nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và (ii) Dự án đầu tư thực hiện ở trong và ngoài khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao và khu kinh tế thì Sở Kế hoạch và Đầu tư nơi nhà đầu tư đặt hoặc dự kiến đặt trụ sở chính hoặc văn phòng điều hành để thực hiện dự án đầu tư có thẩm quyền tiếp nhận, cấp GCNĐKĐT đối với các dự án này.

3. Đánh giá sự thay đổi, phát triển của Luật Đầu tư năm 2014 so với Luật Đầu tư năm 2005

Trong phạm vi bài tiểu luận, bài viết tập trung đánh giá sự thay đổi, phát triển của LĐT năm 2014 so với LĐT năm 2005 về thủ tục đầu tư.

  • Tách bạch nội dung đăng ký đầu tư và đăng ký doanh nghiệp

Một trong những vướng mắc lớn nhất của LĐT năm 2005 là tình trạng chồng lấn lên Luật Doanh nghiệp. Theo quy định của luật này, trong trường hợp thực hiện dự án đầu tư gắn với việc thành lập doanh nghiệp, giấy chứng nhận đầu tư bao gồm cả nội dung đăng ký kinh doanh và đăng ký doanh nghiệp. Khi đó, giấy chứng nhận đầu tư cũng đồng thời là giây chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. LĐT năm 2014 đã tách nội dung đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp ra khỏi GCNĐKĐT, chỉ điều chỉnh các dự án đầu tư, còn việc thành lập doanh nghiệp sẽ do Luật Doanh nghiệp điều chỉnh.

  • Cởi trói cho nhà đầu tư trong nước

Theo LĐT năm 2005, dự án đầu tư trong nước có quy mô từ 15 tỉ đồng trở lên hoặc thuộc lĩnh vực đầu tư có điều kiện thỉ phải xin giấy chứng nhận đầu tư, bất kể vốn đầu tư là vốn trong nước hay nước ngoài. Vậy nên có trường hợp một ông bác sĩ muốn mở một phòng mạch nhỏ cũng có thể phải xin phép đầu tư vì hoạt động đầu tư này có thể xếp vào “lĩnh vực tác động đến sức khỏe cộng đồng”. Còn theo LĐT năm 2014, dự án của nhà đầu tư trong nước sẽ không phải thực hiệc thủ tục cấp GCNĐKĐT và chỉ cần hoạt động theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh là đủ.

Bài luận Đánh giá sự thay đổi, phát triển của Luật Đầu tư 2014 so với Luật Đầu tư năm 2005.

  • Thu hẹp phạm vi cấp GCNĐKĐT đối với nhà đầu tư nước ngoài

Trong nỗ lực khuyến khích đầu tư nước ngoài, LĐT năm 2014 chỉ còn yêu cầu nhà đầu tư phải làm thủ tục cấp GCNĐKĐT đối với các dự án đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài (cá nhân, tổ chức nước ngoài đầu tư vào Việt Nam) và dự án của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài mà trong đó nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ từ 51% hoặc có nhà đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nắm giữ từ 51% vốn điều lệ. Các dự án đầu tư còn lại sẽ được đối xử như nhà đầu tư trong nước mà không cần phải làm thủ tục cấp GCNĐKĐT. Quy định này đã hỗ trợ đáng kể và nới rộng phạm vi đầu tư cho người nước ngoài tại Việt Nam.

  • Rút ngắn thời hạn cấp GCNĐKĐT

Thời hạn cấp GCNĐKĐT cho các dự án thuộc diện quyết định chủ trương đầu tư là 5 ngày làm việc để từ ngày nhận được văn bản quyết định chủ trương đầu tư, còn đối với các dự án khác là 15 ngày làm việc kể từ ngày cơ quan đăng ký đầu tư nhận đủ hồ sơ (Điều 37 LĐT năm 2014). Thời hạn này đã được LĐT năm 2014 rút ngắn đáng kể so với LĐT năm 2005. Đây cũng là quy định góp phần cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài, góp phần đẩy mạnh hơn nữa lĩnh vực đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

  • Thừa nhận cơ chế quyết định chủ trương đầu tư

Như đã phân tích ở trên, các dự án phải quyết định chủ trương đầu tư là những dự án lớn, đặc biệt, tác động lớn đến nền kinh tế – xã hội và phải được sự chấp thuận của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Quy định mới này xuất phát từ tầm quan trọng của các dự án này. Tuy nhiên, việc thừa nhận này có thể phát sinh hệ lụy. Thủ tục chấp nhận chủ trương đầu tư có thể tạo cơ hội cho những nhà đầu tư không đủ năng lực “xí phần” dự án thông qua việc “chạy” chấp thuận chủ trương đầu tư[1].

Những thay đổi của LĐT năm 2014 đã tác động tích cực đến hoạt động đầu tư của các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Tuy còn vài điểm hạn chế nhưng cần có thời gian và các biện pháp khắc phục, góp phần tạo dựng môi trường đầu tư lành mạnh.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Luật Đầu tư năm 2014;
  2. Luật Đầu tư năm 2005;
  3. Nghị định số 118/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư của Chính phủ ngày 12/11/2015;
  4. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Đầu tư, Nxb.CAND, Hà Nội – 2006;

Bài luận Đánh giá sự thay đổi, phát triển của Luật Đầu tư 2014 so với Luật Đầu tư năm 2005.

Bình luận vai trò của tổ chức quốc tế trong giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia thành viên

Bình luận vai trò của tổ chức quốc tế trong giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia thành viên.

Từ hàng ngàn năm trước đây, song song với lịch sử xuất hiện và phát triển của Nhà nước phong kiến cổ đại tại Trung Đông, Nhà nước thời La Mã cổ đại, nhà nước phong kiến Ấn Độ, Trung Hoa… và các nước khác trên thế giới đến tầm đầu thế kỷ XX đều sử dụng chiến tranh vũ lực để giải quyết các tranh chấp giữa các quốc gia gây hậu quả thiệt hại rất lớn cho các nước bị hại. Trong luật quốc tế hiện đại, bên cạnh việc xuất hiện ngày càng nhiều các tổ chức quốc tế, vấn đề giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng phương pháp hòa bình ngày càng được chú trọng và là xu hướng chung của mọi chủ thể luật quốc tế. Bởi lẽ đó, em chọn đề số 2 để làm bài tập học kì của mình: “Bình luận vai trò của tổ chức quốc tế trong giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia thành viên”.

I. Khái quát chung về tổ chức quốc tế và tranh chấp quốc tế

1. Tổ chức quốc tế

Tổ chức quốc tế là thực thể liên kết các quốc gia và các chủ thể khác của Luật quốc tế, hình thành trên cơ sở điều ước quốc tế, có quyền năng chủ thể Luật quốc tế, có hệ thống cơ quan để duy trì hoạt động thường xuyên theo mục đích, tôn chỉ của tổ chức đó[1].

Hiện nay khi nhắc đến tổ chức quốc tế, người ta thường đề cập đến hai loại hình tổ chức quốc tế đó là tổ chức quốc tế liên chính phủ như Liên hợp quốc (UN), Tổ chức thương mại thế giới (WTO), Liên minh châu Âu (EU), Cộng đồng ASEAN… và tổ chức quốc tế phi chính phủ như Tổ chức chữ thập đỏ và lưỡi liềm đỏ quốc tế, Tổ chức Ân xá quốc tế…

2. Tranh chấp quốc tế

Tranh chấp quốc tế là hoàn cảnh thực tế trong đó các chủ thể của Luật quốc tế có sự khác nhau về quan điểm và sự xung đột, mâu thuẫn về lợi ích, đòi hỏi phải được giải quyết bằng các biện pháp hòa bình và dựa trên những nguyên tắc, quy phạm của Luật quốc tế nhằm ổn định các quan hệ quốc tế và duy trì hòa bình, an ninh quốc tế”[2].

Bài luận Bình luận vai trò của tổ chức quốc tế trong giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia thành viên.

Trước Hiệp ước Hòa bình Briand-kellogg 1928, trong quan hệ quốc tế, việc dùng vũ lực hay chiến tranh được coi là biện pháp hợp pháp để giải quyết các tranh chấp giữa các quốc gia. Luật quốc tế cổ điển điều chỉnh việc sử dụng phương pháp bạo lực hay dùng vũ lực và việc dùng chiến tranh để giải quyết các tranh chấp quốc tế nhưng chế định trên đã chuyển đổi đáng kể và bị cấm do Hiệp ước Briand-kellogg 1928 và Hiến chương Liên hợp quốc. Khoản 3 Điều 2 Hiến chương Liên hợp quốc: “Tất cả các nước thành viên Liên hợp quốc giải quyết các tranh chấp quốc tế của họ bằng biện pháp hòa bình, sao cho không tổn hại đến hòa bình, an ninh quốc tế và công lý”. Khoản 4 Điều 2 Hiến chương Liên hợp quốc ghi rõ: “Tất cả các thành viên Liên hợp quốc từ bỏ đe dọa bằng vũ lực hoặc sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế nhằm chống lại sự bất khả xâm phạm về lãnh thổ hay nền độc lập chính trị của bất cứ quốc gia nào cũng như bằng cách khác trái với những mục đích của Liên hợp quốc”.

II. Bình luận vai trò của tổ chức quốc tế trong việc giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia thành viên

1. Mặt tích cực của các tổ chức quốc tế trong việc giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia thành viên

Tổ chức quốc tế là mô hình hợp tác khá hiệu quả của các quốc gia trong quan hệ quốc tế. Tổ chức quốc tế không chỉ điều phối quan hệ hợp tác giữa các quốc gia mà còn có vai trò quan trọng trong quá trình giải quyết tranh chấp quốc tế, đặc biệt là các tranh chấp giữa các quốc gia thành viên. Trên cơ sở nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế – một trong những nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế hiện đại được ghi nhận trong Tuyên bố của Đại hội đồng Liên hợp quốc ngày 24/10/1970 về Những nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế hiện đại điều chỉnh quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa các quốc gia phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc (Vấn đề này thường được quy định trong các điều ước quốc tế của tổ chức quốc tế, như Điều 28 Hiến chương ASEAN năm 2007, khoản 3 Điều 2 Hiến chương Liên hợp quốc), bên cạnh việc các quốc gia thành viên của Tổ chức quốc tế hoàn toàn có quyền thỏa thuận để lựa chọn các biện pháp thích hợp nhằm giải quyết các tranh chấp quốc tế phát sinh trong quan hệ giữa họ với nhau, phù hợp với tôn chỉ mục đích và nguyên tắc hoạt động của mỗi tổ chức quốc tế thì Tổ chức quốc tế xây dựng khung pháp lý làm cơ sở để các quốc gia thành viên giải quyết tranh chấp của mình. Bên cạnh đó, tổ chức quốc tế có thể tham gia vào quá trình giải quyết tranh chấp với vai trò môi giới, trung gian, hòa giải… hoặc thành lập các cơ quan, thiết chế có chức năng giải quyết tranh chấp. Mỗi tổ chức quốc tế có các phương thức khác nhau để giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia thành viên, phù hợp với mục đích, tính chất của từng tổ chức. Nhưng tựu chung lại, về cơ bản, các tổ chức quốc tế có vai trò sau:

  • Xây dựng khung pháp lý

Thông thường các tranh chấp liên quan trong khuôn khổ tổ chức quốc tế được giải quyết theo các cơ chế đã được quy định trong quy chế tổ chức quốc tế. Trong điều lệ thành lập các tổ chức quốc tế đều quy định việc sử dụng các phương pháp hòa bình để giải quyết các tranh chấp quốc tế là điều kiện bắt buộc cho các thành viên khi tham gia vào các tổ chức đó.

Theo Điều 52 Hiến chương Liên hợp quốc: “Không một quy định nào trong Hiến chương ngăn cản sự tồn tại của những hiệp định hoặc tổ chức quốc tế khu vực nhằm giải quyết các vấn đề liên quan đến duy trì hòa bình và an ninh quốc tế bằng những hành động có tính chất khu vực, miễn là những hiệp định hoặc tổ chức đó và những hoạt động của chúng phù hợp với mục đích và nguyên tắc của Liên hợp quốc”. Các Hiến chương, Hiệp định của các tổ chức quốc tế đều quy định về nguyên tắc hợp tác chung và các Hiến chương, Hiệp định của các tổ chức đó đều quy định rõ về vai trò giải quyết tranh chấp giữa các nước thành viên của họ phù hợp với Điều 33 Hiến chương Liên hợp quốc về biện pháp hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế.

Bài luận Bình luận vai trò của tổ chức quốc tế trong giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia thành viên.

Cộng đồng ASEAN cũng đã xây dựng các khung pháp lý để giải quyết tranh chấp giữa các nước thành viên. Ngay từ trước Hiến chương ASEAN năm 2007, nhiều văn kiện pháp lý quốc tế quan trọng về giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á, có thể kể đến như: Hiệp ước thân thiện và hợp tác ở Đông Nam Á (TAC) năm 1976 với các quy định về nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình và đưa ra cơ chế chung giải quyết các tranh chấp trên các lĩnh vực hợp tác an ninh, chính trị, kinh tế, xã hội… của ASEAN; Nghị định thư ASEAN về tăng cường cơ chế giải quyết tranh chấp năm 2004… Trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp, Hiến chương ASEAN ra đời đã tổng hợp và hệ thống hóa các văn kiện trước đó nhiều quy định về các cơ chế giải quyết tranh chấp.

Hiến chương của Tổ chức thống nhất Châu Phi (OAU – 1963) quy định về việc giải quyết tranh chấp giữa các nước thành viên bằng biện pháp đàm phán, trung gian, hòa giải và trọng tài là một nguyên tắc bắt buộc của tổ chức này.

Hiến chương của Liên đoàn các nước Ả Rập quy định Hội đồng liên đoàn có thể đóng vai trò môi giới, hòa giải hoặc trọng tài để dàn xếp các tranh chấp giữa các thành viên của Liên đoàn. Hội nghị thường kỳ của Nguyên thủ quốc gia các nước Ả rập ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc hòa giải các tranh chấp giữa các nước trong khu vực.

Hiến chương Tổ chức các nước châu Mỹ và Hiệp ước Bogota về hòa bình giải quyết tranh chấp quy định tranh chấp phát sinh giữa các thành viên Tổ chức các nước châu Mỹ phải được giải quyết bằng các biện pháp hòa bình như môi giới, trung gian, hòa giải, tòa án, trọng tài. Các văn bản này dành cho các cơ quan chính của Tổ chức như: Hội đồng thường trực, Hội nghị Bộ trưởng ngoại giao một phạm vi thẩm quyền nhất định trong quá trình giải quyết tranh chấp giữa các nước thành viên.

  • Xây dựng cơ chế giải quyết các tranh chấp hiệu quả

Bên cạnh việc xây dựng khung pháp lý để giải quyết tranh chấp thông qua Hiến chương, các điều ước giữa các quốc gia thành viên…, nhiều tổ chức quốc tế đã xây dựng các cơ chế giải quyết các tranh chấp hiệu quả.

Khi nói tới một cơ chế giải quyết tranh chấp, người ta thường nghĩ đến tổng thể thống nhất các cơ quan giải quyết tranh chấp, cách thức, trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp và việc thi hành phán quyết giải quyết tranh chấp. Một trong những tổ chức quốc tế có cơ chế giải quyết tranh chấp giữa các thành viên hiệu quả nhất là Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Tất cả các thành viên WTO đều phải tuân thủ cơ chế giải quyết tranh chấp do WTO quy định bởi họ đã ký và phê chuẩn các hiệp định WTO như là “cả gói” cam kết chung mà DSU – Hiệp định về Quy tắc và Thủ tục giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ WTO là một phần trong đó. Thủ tục giải quyết tranh chấp trong WTO được thực hiện bởi các cơ quan khác nhau, mỗi cơ quan có chức năng riêng biệt, tạo nên tính độc lập trong hoạt động điều tra và thông qua quyết định trong cơ chế này. Với nguyên tắc đồng thuận phủ quyết, các quyết định của DSB – Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO hầu như được thông qua tự động. Ban hội thẩm (Panel) và cơ quan phúc thẩm (AB) là những thiết chế trực tiếp giải quyết tranh chấp trên thực tế, mặc dù không nắm quyền quyết định (bởi quyền quyết định thuộc về DSB).

  • Vai trò môi giới, trung gian, hòa giải…

Với vị trí là bên thứ ba, tổ chức quốc tế đã tham gia tích cực trong việc giải quyết các tranh chấp giữa các thành viên với sự nhất trí và tin cậy của các bên tranh chấp với vai trò trung gian, hòa giải, môi giới… Đây cũng được coi là những phương pháp quan trọng và hữu hiệu trong việc giải quyết các tranh chấp bằng phương pháp hòa bình. Điều 33 Hiến chương Liên hợp quốc quy định: “Các bên tranh chấp quốc tế, trước tiên phải cố gắng giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp đàm phán như: đàm phán, điều tra, trung gian, hòa giải, trọng tài, tòa án hoặc thông qua các cơ quan hay tổ chức quốc tế khu vực hoặc bằng các biện pháp hòa bình khác do các bên đã chọn”.

Các hoạt động của Liên hợp quốc là minh chứng rõ nét thể hiện vai trò này của tổ chức quốc tế nói chung. Liên hợp quốc là tổ chức quốc tế đa phương toàn cầu được thành lập với mục đích duy trì hòa bình và an ninh quốc tế. Theo luật quốc tế hiện đại, Liên hợp quốc là tổ chức có chức năng, vai trò quan trọng trong việc giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế.

Đại hội đồng là cơ quan bao gồm tất cả các nước thành viên của Liên hợp quốc và có thẩm quyền lớn nhất trong việc thực hiện các chức năng nhiệm vụ được ghi nhận trong Hiến chương (Điều 10, 11, 14, 15). Đại hội đồng có thẩm quyền thảo luận mọi vấn đề liên quan đến việc duy trì hòa bình và an ninh quốc tế mà các nước thành viên, Hội đồng Bảo an hoặc các nước không phải thành viên Liên hợp quốc đề nghị Đại hội đồng Liên hơp quốc xem xét giải quyết. Hội đồng Bảo an thực hiện chức năng trung gian, (Điều 37), điều tra (Điều 34) và hòa giải (Điều 38). Hiện nay, hoạt động duy trì giữ gìn hòa bình, hoạt động cứu trợ nhân đạo quốc tế của Liên hợp quốc thực hiện theo những quyết định của Hội đồng Bảo an đã trở thành nghĩa vụ bắt buộc của Liên hợp quốc và cùng đóng vai trò tích cực trong việc giải quyết các tranh chấp quốc tế.

Bài luận Bình luận vai trò của tổ chức quốc tế trong giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia thành viên.

Tổng thư kí Liên hợp quốc cũng đóng vai trò to lớn trong việc giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia, nhất là vai trò môi giới và trung gian. Với quyền hạn và khả năng của mình (Điều 99 Hiến chương Liên hợp quốc) nhiều khi Tổng thư kí Liên hợp quốc đích thân tham gia trực tiếp hay bằng cách ủy nhiệm cho các đặc phái viên của mình tham gia giải quyết các tranh chấp giữa các quốc gia. Ví dụ: Cựu Tổng thư ký Liên hợp quốc ông Dag Hammarsjold đã cố gắng giải quyết cuộc khủng hoảng về kênh đào Xu ê năm 1956, khủng hoảng Công gô 1960 – 1961. Ông U Than, cựu quyền Tổng thư ký Liên hợp quốc với giải quyết khủng hoảng ở vùng Vịnh Caribe 1962. Ông Pere Decuella trong nỗ lực chấm dứt chiến tranh biên giới giữa Iran – Irac, vấn đề Apghanixtan với Pakixtan 1983…Hay như gần đây là sự tham gia của Liên hợp quốc với vai trò trung gian trong việc giải quyết tranh chấp về biên giới giữa Guyana và Venezuela[3].

2. Hạn chế của tổ chức quốc tế trong việc giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia thành viên

Hoạt động thực tiễn của các tổ chức quốc tế trong thời gian qua đã chứng minh được vai trò to lớn của mình trong việc giải quyết tranh chấp giữa các thành viên, nhưng không phải lúc nào các tổ chức này cũng phát huy được vai trò của nó.

Vai trò giải quyết các tranh chấp quốc tế của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc trong suốt thời gian qua đã góp phần không nhỏ trong việc duy trì hòa bình và an ninh quốc tế, nhưng cũng có một số lập luận cho rằng trong thời gian qua Liên hợp quốc không đóng vai trò tích cực cho việc duy trì hòa bình và an ninh quốc tế. Có thể nói trong một số vấn đề giải quyết tranh chấp, Liên hợp quốc cũng có cái khó của nó bởi có sự chia sẻ trong nội bộ giữa các nước thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an dẫn tới việc Liên hợp quốc khó có thể giải quyết tranh chấp một cách đúng đắn như là một nhiệm vụ đầu tiên trong việc duy trì hòa bình và an ninh quốc tế của mình. Nhưng trong quá trình đảm nhiệm chức năng duy trì hòa bình và an ninh quốc tế của mình, Hội đồng Bảo an cũng đã thực hiện nhiệm vụ của mình rất tốt trong việc giải quyết các tranh chấp, xung đột quốc tế để lập lại hòa bình cho các khu vực xung đột trên thế giới.

Hay như cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO. Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO được xem là một đóng góp độc đáo để ổn định nền kinh tế toàn cầu. Tuy nhiên, hệ thống này cũng bộc lộ một số nhược điểm. Ví dụ như phương thức đồng thuận phủ quyết dẫn tới việc hầu như các báo cáo của Ban hội thẩm hoặc cơ quan phúc thẩm đều được thông qua nhưng lại dẫn đến tình trạng các báo cáo khuyến nghị được thông qua dễ dàng hơn nhiều nhưng khả năng thực thi thì lại giảm sút; cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO có xu hướng thiên về các yếu tố kỹ thuật, pháp lý, đòi hỏi các bên tham gia phải có một đội ngũ chuyên gia kinh tế, pháp lý giàu kinh nghiệm và đây là một thách thức không nhỏ đối với các nước đang phát triển…

Trong quan hệ quốc tế, việc xảy ra tranh chấp giữa các quốc gia nói riêng và các chủ thể khác của luật quốc tế nói chung là khó tránh khỏi. Sự ra đời của các tổ chức quốc tế, bên cạnh những lợi ích đạt được về kinh tế, chính trị, an ninh…, đã và đang góp phần không nhỏ trong việc giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia thành viên.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Hiến chương Liên hợp quốc;
  2. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Quốc tế, Nxb.CAND, Hà Nội – 2015;
  3. Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, Giáo trình Công pháp quốc tế (quyển 2), Nxb. Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam;
  4. ThS. Nguyễn Thị Kim Ngân, ThS. Chu Mạnh Hùng (đồng chủ biên), Giáo trình Luật Quốc tế (dùng trong các trường đại học chuyên ngành luật, ngoại giao), Nxb. Giáo dục Việt Nam, Hà Nội – 2012;
  5. Doungkeo Buonmadyla, Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO – Kinh nghiệm cho Lào, Luận văn thạc sĩ Luật học, Hà Nội – 2015;
  6. Keo Pheak Kdey, Phương pháp hòa bình trong việc giải quyết các tranh chấp quốc tế, Luận án Tiến sĩ luật học; Hà Nội – 2002;
  7. Nguyễn Quốc Hùng, Nguyễn Hồng Quân, Liên hợp quốc và lực lượng giữ gìn hòa bình Liên hợp quốc (sách tham khảo), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội – 2008;
  8. PGS.TS Nguyễn Thị Thuận (Chủ nhiệm), Một số cơ chế giải quyết tranh chấp trong Luật Quốc tế, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở, Hà Nội – 2001;

[1] TS. Nguyễn Thị Kim Ngân, TS. Chu Mạnh Hùng (đồng chủ biên), Giáo trình luật quốc tế (dùng trong các trường đại học chuyên ngành luật và ngoại giao), Nxb. Giáo dục Việt Nam, Hà Nội – 2012, trang 243

[2] TS. Nguyễn Thị Kim Ngân, TS. Chu Mạnh Hùng (đồng chủ biên), Giáo trình luật quốc tế (dùng trong các trường đại học chuyên ngành luật và ngoại giao), Nxb. Giáo dục Việt Nam, Hà Nội – 2012, trang 296

[3] http://www.vietnamplus.vn/lhq-lam-trung-gian-giai-quyet-tranh-chap-giua-venezuela-va-guyana/348993.vnp

Bảo vệ quyền của lao động di trú trong ASEAN theo Tuyên bố Cebu 2007

Bảo vệ quyền của lao động di trú trong ASEAN theo Tuyên bố Cebu về bảo vệ và thúc đầy quyền của lao động di trú năm 2007 (TB Cebu về lao động di trú) và Chương trình hành động thực hiện Tuyên bố này.

ASEAN là một trong những khu vực có số lượng và tỉ lệ người lao động di trú cao nhất trên thế giới. Đây cũng là khu vực rất đa dạng xét về phương diện lao động, bởi có cả những nước gửi, nước nhận lao động và những nước vừa gửi, vừa nhận lao động. Trong nhiều văn kiện chính thức của ASEAN, việc bảo vệ người lao động di trú được coi là một trong những mục tiêu chủ yếu mà ASEAN cần đạt được phù hợp với tầm nhìn của tổ chức là xây dựng ASEAN thành “một cộng đồng chia sẻ và quan tâm” theo Tuyên bố Cebu về bảo vệ và thúc đẩy quyền của lao động di trú ghi nhận trong Cam kết của ASEAN. Các nước ASEAN đã và đang cố gắng xây dựng một khuôn khổ pháp lý chung cho việc bảo vệ và thúc đẩy các quyền của người lao động di trú trong khu vực và ở mỗi nước. Trong giới hạn, bài tập tập trung nghiên cứu nội dung bảo vệ quyền của lao động di trú trong ASEAN theo Tuyên bố Cebu về bảo vệ và thúc đầy quyền của lao động di trú năm 2007 (TB Cebu về lao động di trú) và Chương trình hành động thực hiện Tuyên bố này.

I. Một số vấn đề lý luận

1. Định nghĩa lao động di trú

Hiện nay có không ít định nghĩa về lao động di trú như Công ước quốc tế về bảo vệ quyền của người lao động di trú và các thành viên trong gia đình họ (ICRMW), Công ước số 97 của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) (Điều 11)… Để thống nhất cách hiểu các nội dung được đề cập trong bài viết, định nghĩa “lao động di trú” được xác định theo Điều 2 ICRMW, theo đó: “lao động di trú là một người đã, đang và sẽ làm một công việc có hưởng lương tại một quốc gia mà người đó không phải là công dân”.

2. Vị trí, vai trò của người lao động di trú

Ở các nước nhận lao động (receiving countries), người lao động di trú giúp thỏa mãn cơn khát về sức lao động của nhiều ngành kinh tế, góp phần duy trì và đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng của những ngành này, đồng thời là giải pháp cho cuộc khủng hoảng nhân công cho những công việc mà người lao động bản xứ không muốn làm. Lực lượng lao động này sẵn sàng đảm nhiệm những công việc lương thấp, nguy hiểm, độc hại, những công việc lao động chân tay hay trong những ngành bị coi coi là thấp kém như nông nghiệp, xây dựng…

Ở các nước gửi (sending countries), việc đưa người lao động ra nước ngoài làm việc là một trong những biện pháp quan trong trong chính sách tạo việc làm, góp phần làm giảm sức ép của tình trạng thất nghiệp trong nước, tạo cơ hội đào tạo đội ngũ lao động có tay nghề. Hơn nữa, thu nhập của người lao động làm việc ở nước ngoài gửi về có thể nâng cao đáng kể đời sống của gia đình họ và góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội của nước nhà.

3. Sự cần thiết bảo vệ quyền của người lao động di trú

Với những đóng góp quan trọng trên, người lao động di trú đáng lẽ ra phải được trân trọng và tôn vinh nhưng ngược lại, họ đang phải đối mặt với những vấn đề nghiêm trọng. Trong trường hợp họ đi bằng con đường bất hợp pháp (tự mình hoặc trả tiền cho các băng buôn lậu người để được ra nước ngoài làm việc, giả dạng khách du lịch rồi ở lại…), những vấn đề họ phải đối mặt nghiêm trọng hơn rất nhiều so với ra đi bằng con đường hợp pháp, có thể kể tới như bị cướp, hãm hiếp hoặc bị bỏ mặc ở dọc đường, bị bán vào nhà chứa, bị bắt làm việc như nô lệ mà không được trả công… Những người lao động di trú ra nước ngoài bằng con đường hợp pháp cũng không tránh khỏi nhiểu rủi ro, họ vẫn là một trong những nhóm người dễ bị bóc lột và phân biệt đối xử nhất trên thế giới. Họ thường phải đối mặt với sự bấp bênh về việc làm, tình trạng thiếu nhà ở, không được chăm sóc y tế, bị loại trừ về giáo dục, bị trục xuất, đối xử tàn ác, hạ nhục… Xét về thực trạng và những đóng góp của người lao động di trú, ta có thể thấy việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động di trú là rất cần thiết và cấp thiết.

II. Các vấn đề pháp lý theo Tuyên bố Cebu về bảo vệ và thúc đẩy quyền của lao động di trú năm 2007 và Chương trình hành động thực hiện Tuyên bố này

1. Các vấn đề pháp lý theo Tuyên bố Cebu về bảo vệ và thúc đẩy quyền của lao động di trú năm 2007

1.1. Các Nguyên tắc

  1. Cả các nước gửi và nước nhận lao động cần tăng cường ba trụ cột kinh tế và xã hội của Cộng đồng ASEAN thông qua việc thúc đẩy nhân phẩm và tiềm năng đầy đủ của người lao động di trú trong bối cảnh tự do, bình đẳng và ổn định, phù hợp với pháp luật, quy định, chính sách của các nước thành viên;
  2. Các nước gửi và nhận lao động cần, vì những lý do nhân đạo, hợp tác chặt chẽ để giải quyết các vụ việc liên quan đến lao động di trú trở thành không có giấy tờ xuất phát những nguyên nhân không phải do lỗi của họ;
  3. Các nước gửi và nhận lao động cần tính đến các quyền cơ bản và nhân phẩm của lao động di trú và các  thành viên trong gia đình đi kèm với họ mà không làm tổn hại đến việc áp dụng pháp luật, chính sách và quy định của các nước nhận lao động;
  4. Không quy định nào trong Tuyên bố này có thể được giải thích như là việc luật hóa tình trạng lao động di trú không giấy tờ.

1.2. Nghĩa vụ của các bên

1.2.1. Đối với nước nhận lao động

Theo TB Cebu về lao động di trú, nước tiếp nhận lao động có nghĩa vụ ban hành và thể chế các quy định pháp luật của nước mình nhằm những mục đích được quy định tại Tuyên bố này[1]. Có thể thấy rằng, nghĩa vụ của các nước nhận lao động rất cụ thể, phù hợp với tình hình lao động di trú hiện nay. Nghĩa vụ của nước nhận lao động tập trung chủ yếu trên hai phương thức: phương thức bảo vệ trực tiếp (bảo vệ quyền cơ bản của lao động di trú; đảm bảo các điều kiện về đào tạo tay nghề; khắc phục tình trạng bóc lột lao động;…) và phương thức bảo vệ gián tiếp (thông qua việc hỗ trợ tiếp cận pháp luật và thực hiện chức năng đối ngoại đối với nước gửi lao động). Tuy nhiên, TB Cebu về lao động di trú cần quy định rõ ràng hơn về quyền cơ bản của lao động di trú, đặc biệt phải quy định chi tiết về quyền sở hữu tài sản bởi mục đích của người lao động đi làm việc ở nước ngoài hướng tới là xây dựng một khối tài sản cho riêng mình.

1.2.2. Đối với nước gửi lao động

Như nước nhận lao động, nước gửi lao động cũng có nghĩa vụ ban hành các quy định pháp luật nhằm những mục đích được quy định tại Tuyên bố này[2]. Nước gửi lao động cũng có cơ chế bảo vệ bảo vệ những người thân trong gia đình của lao động di trú và vấn đề bảo vệ tài sản hợp pháp của họ. TB Cebu về lao động di trú tập trung điều chỉnh các vấn đề lao động trong nội bộ ASEAN. Trên thực tế, lao động di trú của các nước ASEAN vẫn có khả năng di trú sang nước thứ ba. TB Cebu về lao động di trú vẫn chưa có quy định liên quan tới sự ràng buộc của Tuyên bố này đối với nước thứ ba khi tiếp nhận lao động từ các nước thành viên ASEAN cũng như cơ chế bảo vệ lao động di trú của các nước ASEAN tại các nước thứ ba.

2. Chương trình hành động thực hiện Tuyên bố Cebu về bảo vệ và thúc đẩy quyền của lao động di trú

Để thực hiện việc bảo vệ và thúc đẩy quyền của người lao động di trú, ASEAN đã xây dựng chương trình chương trình thực hiện tuyên bố này thông qua phần cam kết của ASEAN được ghi nhận trong Tuyên bố. Theo đó, sẽ có 8 chương trình hành động mà ASEAN sẽ triển khai thực hiện[3]. Chương trình hành động thực hiện TB Cebu về lao động di trú không chỉ dừng lại ở việc thiết lập một trật tự pháp lý điều chỉnh về vấn đề lao động di trú mà còn thực tiễn triển khai những dự án phát triển nguồn nhân lực, tái hòa nhập, nâng cao trình độ lao động di trú, tạo điều kiện cho họ phát triển, mà bên cạnh đó còn đề ra những biện pháp khắc phục khi những người lao động di trú bị xâm hại như bị buôn lậu, cho xuất nhập cư trái phép, bị mắc kẹt trong những cuộc xung đột… ASEAN cũng có cái nhìn mang tính chiều sâu và khả quan khi đưa ra giải pháp khuyến khích các tổ chức quốc tế, các đối tác của ASEAN tôn trọng các nguyên tắc trong TB Cebu về lao động di trú và hỗ trợ, tạo điều kiện cho ASEAN thực hiện các biện pháp nhằm bảo vệ quyền lao động di trú trong Tuyên bố này.

III. Thực tiễn triển khai

1. Thành tựu

Trong những năm qua, các nước ASEAN đã có sự nỗ lực nhất định trong việc tạo dựng mối liên kết chặt chẽ hơn giữa các quốc gia đối với vấn đề lao động di trú. ASEAN đã thực hiện được hoạt động cụ thể như triển khai hoạt động của Ủy ban ASEAN về thực hiện Tuyên bố ASEAN về thúc đẩy và bảo vệ quyền của lao động di  cư; đẩy mạnh nỗ lực bảo vệ các quyền con người cơ bản, thúc đẩy lợi ích và giữ gìn phẩm giá của người lao động di cư qua hỗ trợ chức năng lãnh sự của cơ quan lãnh sự hoặc ngoại giao khi có lao động di cư bị bắt hoặc bị tù hoặc bị giam giữ dưới bất cứ cách thức nào theo luật và quy định của nước tiếp nhận lao động và theo Công ước Viên về quan hệ lãnh sự năm 1963; đưa Chương trình thúc đẩy Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nhằm đảm bảo trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) vào chương trình nghị sự của doanh nghiệp và nhằm đóng góp vào sự phát triển kinh tế – xã hội bền vững tại các quốc gia thành viên ASEAN… Thông qua các hoạt động đó việc triển khai thực hiện việc bảo vệ quyền lao động di trú đã thuận lợi hơn.

2. Hạn chế

Hiện nay, sự liên kết giữa các quốc gia chủ yếu mang tính hình thức. Trên thực tế, các nước ASEAN vẫn chưa thể đạt được một sự thỏa thuận cụ thể nào trong vấn đề quyền của lao động di trú do có quá nhiều sự khác biệt trong định hướng cũng như lợi ích giữa các quốc gia thành viên. Trong khi chưa có những cơ chế và văn kiện chung có hiệu quả để bảo vệ người lao động di trú thì ở đa số các nước thành viên ASEAN hiện chưa có một hệ thống bảo trợ xã hội áp dụng một cách rộng khắp có tác dụng bảo vệ mọi người lao động ở tất cả các lĩnh vực. Ở nhiều các quốc gia ASEAN vẫn còn thiếu các cơ chế nhằm thúc đẩy các điều kiện sống và xóa đói giảm nghèo cho khối dân số ngày càng tăng về số lượng. Thêm vào đó, tuy Tuyên bố đã đặt ra lộ trình cho việc thiết lập một thỏa thuận khu vực mới mà hy vọng sẽ đảm bảo sự công bằng và bình đẳng cho tất cả những người lao động di trú của các nước thành viên; song trên thực tế việc triển khai thực hiện lộ trình đó rất chậm chạp. Những điều này tác động tiêu cực đến việc bảo vệ lực lượng lao động.

TB Cebu về lao động di trú không phải là một văn kiện có tính ràng buộc về nghĩa vụ pháp lý nên hiệu lực tác động của Tuyên bố rất hạn chế. Ví dụ như, Điều 22 của Tuyên bố đề cập đến việc làm hài hòa pháp luật lao động của các nước trong khu vực với các Công ước cơ bản và với Các nguyên tắc và các quyền cơ bản tại nơi làm việc của ILO. Đây là một quy định có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bảo vệ các quyền của người lao động di trú, bởi việc làm hài hòa pháp luật về lao động của các nước với các tiêu chuẩn của ILO là làm cho tất cả các quy định pháp luật của các nước trong khối sẽ được áp dụng với tất cả mọi người lao động một cách bình đẳng, bất kể quốc tịch của họ. Nhưng thực tế hầu như chưa có quốc gia nào trong khu vực ASEAN đã và đang tích cực thực hiện nội dung của điều này. Phần lớn các nước ASEAN, đặc biệt là những nước có nhiều lao động di trú ở nước khác như Việt Nam, Indonesia hay Philippines luôn muốn thúc giục ASEAN nhanh chóng có những hành động cụ thể và thực tế để thực hiện TB Cebu về lao động di trú, nhưng bên cạnh đó vẫn có các nước nhận nhiều lao động di trú như Malaysia lại chỉ muốn có quyền kiểm soát hoàn toàn đối với các chính sách lao động di trú ở nước mình. Do đó, người lao động vẫn phải tiếp tục đối mặt với sự phân biệt đối xử, nạn buôn người, nguy cơ bị bóc lột sức lao động cao hơn trong khi khả năng tiếp cận các hình thức bồi thường còn hạn chế.

Cộng đồng ASEAN đã chính thức được thành lập vào 31/12/2015 với ba trụ cột quan trọng Cộng đồng chính trị – an ninh ASEAN, Cộng đồng kinh tế ASEAN và Cộng đồng văn hóa – xã hội ASEAN đã mở ra nhiều cơ hội trên nhiều lĩnh vực cho không chỉ các nước thành viên mà cả đối với mỗi người dân trong khu vực. Riêng vấn đề lao động di trú, cần sớm có cơ chế hiệu quả và một thiết chế pháp lý mang tính pháp lý bắt buộc để bảo vệ hơn nữa nhóm người lao động này.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Cộng đồng ASEAN, Nxb.Công an nhân dân,  Hà Nội – 2012;
  2. Triệu Thị Hồng Liễu, Quyền của người lao động di trú trong pháp luật quốc tế và Việt Nam, Khóa luận tốt nghiệp, Hà Nội – 2012;
  3. Trung tâm nghiên cứu quyền con người và quyền công dân, Bảo vệ và thúc đẩy quyền con người trong khu vực ASEAN, Nxb. Lao động – xã hội, Hà Nội – 2012;
  4. Hội Luật gia Việt Nam, Bảo vệ quyền của người lao động di trú, Pháp luật & Thực tiễn quốc tế, khu vực và quốc gia, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội – 2008;
  5. Nguyễn Đăng Dung, Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng (Đồng chủ biên), Khoa luật – Đại học quốc gia Hà Nội, Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người, Nxb. Đại học quốc gia Hà Nội,

PHỤ LỤC

8.627 lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài trong tháng 1 năm 2016 

Theo số liệu báo cáo từ các doanh nghiệp, tổng số lao động đi làm việc ở nước ngoài trong tháng 1 năm 2016 là 8.627 lao động (3.308 lao động nữ), gồm các thị trường: Đài Loan: 5.362 lao động (2.107 lao động nữ), Nhật Bản: 2.019 lao động (882 lao động nữ), Hàn Quốc: 68 lao động (0 lao động nữ), Malaysia: 530 lao động (315 lao động nữ), Ả rập – Xê út: 129 lao động (0 lao động nữ), Macao: 32 lao động) và các thị trường khác.

Như vậy, trong tháng 1 năm 2016, tổng số lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài là 8.627 lao động (3.308 lao động nữ), đạt 8,63% kế hoạch năm 2016 và bằng 99,52% so với cùng kỳ năm ngoái.

(Ngày cập nhật 03/02/2016 trên http://dolab.gov.vn/)

Công việc và thu nhập của lao động Việt Nam tại Malaysia

Việt Nam bắt đầu đưa lao động sang làm việc từ Malaysia từ năm 2002, đến nay đã có hàng trăm ngàn lượt lao động sang đây làm việc, có thời điểm số lao động Việt Nam có mặt tại Malaysia lên tới 130.000 người. Hiện lao động Việt Nam đang làm việc tại Malaysia khoảng 65.000 người (khoảng hơn 12.000 người trong số này là cư trú bất hợp pháp), công việc chủ yếu là sản xuất chế tạo trong các nhà máy điện tử, nội thất, may mặc, đóng gói sản phẩm hay trong ngành dịch vụ (phục vụ nhà hàng- quán ăn, lau chùi dọn vệ sinh, nấu ăn, bán hàng…), ngành nông nghiệp và số ít làm giúp việc nhà trong các gia đình người Mã gốc Hoa. Việt Nam đang xúc tiến đưa trở lại lao động xây dựng và đưa mới lao động trồng cọ cho các trang trại cọ thuộc 02 tập đoàn SIM DARBY và FELDA của Malaysia.

Tiền lương cơ bản (tối thiểu) áp dụng đối với người lao động Việt Nam là 21RM/ngày hay 546RM/tháng, làm việc 08h/ngày hay 48h/tuần.

Ngoài tiền lương cơ bản, người lao động còn có thu nhập từ làm thêm giờ (tính theo hệ số nêu trên) và các khoản trợ cấp khác như: chuyên cần, ca, bộ phận,… hoặc tiền trang phục, tiền thưởng….

Tổng thu nhập hàng tháng của người lao động Việt Nam hiện đạt khoảng 900-1.200RM/tháng. Tuy nhiên, kể từ thời điểm năm 2013, chính phủ Malaysia sẽ áp dụng quy định tiền lương cơ bản mới là 900RM/tháng, theo đó mức lương kỳ vọng của lao động Việt Nam (vốn cần cù, chịu khó sàng làm thêm nhiều) sẽ đạt khoảng 1.400-1.700RM/tháng (tương đương khoảng 460-560USD/tháng).

(Ngày cập nhật 02/07/2013 trên http://dolab.gov.vn/)


[1] 5- Tăng cường những nỗ lực nhằm bảo vệ các quyền con người cơ bản, thúc đầy hạnh phúc và bảo vệ nhân phẩm của lao động di trú; 6- Xây dựng tốt quan hệ giữa các nước nhận lao động và lao động di trú; 7 – Giáo dục và đào tạo người lao động; hỗ trợ người lao động tiếp cận với tư pháp và các dịch vụ an sinh xã hội theo quy định chính sách đang áp dụng tại các nước đó hoặc theo quy định trong các hiệp định có liên quan; 8 – Thúc đẩy một cách thích đáng và công bằng sự bảo vệ việc làm, trả công và tiếp cận bình đẳng với công việc và điều kiện sống tử tế cho lao động di trú; 9 – Hỗ trợ người lao động di trú bị phân biệt đối xử, lạm dụng, bóc lột, bạo lực được tiếp cận với hệ thống pháp luật và tư pháp của nước nhận lao động; 10 – Hỗ trợ thực hiện các chức năng ngoại giao và lãnh sự của nước gốc theo quy định trong pháp luật của nước nhận lao động và phù  hợp với Công ước Viên về quan hệ lãnh sự khi lao động di trú bị bắt, bị kết tội, giam giữ dưới bất kỳ hình thức nào (tríchTB Cebu về lao động di trú)

[2] 11 – Tăng cường các biện pháp liên quan đến thúc đẩy và bảo vệ các quyền của lao động di trú; 12 – Bảo đảm sự tiếp cận với việc làm và cơ hội kiếm sống cho công dân của nước mình như là những sự lựa chọn vững chắc cho sự di trú của người lao động; 13 – Xây dựng các chính sách và thủ tục nhằm hỗ trợ các vấn đề về di trú lao động, bao gồm việc tuyển dụng, chuẩn bị cho người lao động ra nước ngoài làm việc, bảo vệ họ khi làm việc ở nước ngoài cũng như khi hồi hương và tái hòa nhập họ vào cộng đồng sau khi hồi hương; 14 – Xóa bỏ những hành vi lừa đảo tuyển dụng lao động di trú bằng cách kiểm soát chặt chẽ các hợp đồng, quản lý và cấp chứng nhận cho các cơ sở tuyển dụng lao động và người sử dụng lao động, và theo dõi những cơ sở làm trái hay cố tình vi phạm các quy định pháp luật về vấn đề này (trích TB Cebu về lao động di trú)

[3] 15 – Thúc đẩy các cơ hội việc làm hợp pháp và được tôn trọng nhân phẩm cho người lao động di trú; 16 – Xây dựng và thực hiện các chương trình phát triển nguồn nhân lực và các chương trình tái hòa nhập cho người lao động ở các quốc gia gốc; 17 – Thực hiện các biện pháp cụ thể để ngăn chặn, chấm dứt tình trạng đưa lậu và buôn bán người, trong đó bao gồm việc đưa ra  các chế tài nghiêm khắc cho những kẻ thực hiện các hành vi như vậy; 18 – Hỗ trợ việc chia sẻ dữ liệu về các vấn đề liên quan đến người lao động di trú nhằm tăng cường các chính sách và chương trình liên quan đến người lao động di trú ở cả nước gửi và nước nhận lao động; 19- Chia sẻ thông tin, các bài học kinh nghiệm tốt cũng như những cơ hội và thách thức mà các nước thành viên ASEAN đang phải đối mặt trong việc thúc đẩy và bảo vệ các quyền và lợi ích của người lao động di trú; 20 – Trợ giúp người lao động di trú của các nước thành viên ASEAN bị kẹt trong các cuộc xung đột hoặc khủng hoảng ở các nước ngoài ASEAN; 21 – Khuyến khích các tổ chức quốc tế, các đối tác của ASEAN và các quốc gia tôn trọng các nguyên tắc và cung cấp sự trợ giúp, hỗ trợ để thực hiện các biện pháp nêu trong Tuyên bố này; 22 – Thảo luận với các cơ quan có liên quan đến ASEAN để tiếp tục thực hiện Tuyên bố và để xây dựng một văn kiện về bảo vệ và thúc đẩy các quyền của người lao động di trú (trích TB Cebu về lao động di trú)

Bình luận về mối quan hệ giữa điều ước quốc tế với pháp luật quốc gia và liên hệ với thực tiễn tại Việt Nam

Bình luận về mối quan hệ giữa điều ước quốc tế với pháp luật quốc gia và liên hệ với thực tiễn tại Việt Nam.

I. Khái quát chung về Điều ước quốc tế

1. Khái niệm

Theo Công ước Viên năm 1969 về Luật điều ước quốc tế ký kết giữa các quốc gia thì điều ước quốc tế được xác định là “một thỏa thuận quốc tế được ký kết bằng văn bản giữa các quốc gia và được pháp luật quốc tế điều chỉnh, dù được ghi nhận trong một văn kiện duy nhất hoặc trong hai hay nhiều văn kiện có quan hệ với nhau và với bất kể tên gọi riêng của nó là gì”.

Như vậy, với tư cách là nguồn cơ bản của Luật quốc tế (LQT), điều ước quốc tế (ĐƯQT) là sự thỏa thuận giữa các chủ thể của LQT với nhau trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng nhằm thiết lập những quy tắc pháp lý bắt buộc gọi là những quy phạm LQT, để ấn định, thay đổi hoặc hủy bỏ những quyền và nghĩa vụ đối với nhau.

2. Đặc điểm của điều ước quốc tế

Với định nghĩa trên có thể hiểu điều ước quốc tế là thỏa thuận quốc tế mang những đặc điểm sau:

– Chủ thể ký kết điều ước quốc tế chính là chủ thể của Luật Quốc tế như quốc gia, tổ chức quốc tế liên chính phủ, dân tộc đang đấu tranh giành quyền tự quyết và một số chủ thể đặc biệt

– Nội dung của điều ước quốc tế chính là quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể. Nếu trong thỏa thuận quốc tế không chứa đựng các quyền và nghĩa vụ mang tính bắt buộc mà chỉ biểu lộ các khuyên nghị hoặc thuần túy là các tuyên bố chính trị thì sẽ không phải là điều ước quốc tế.

– Hình thức tồn tại chủ yếu của điều ước quốc tế là dưới dạng văn bản với tên gọi theo sự thỏa thuận của các bên như: hiến chương, công ước, hiệp ước, hiệp định, nghị định thư,… Cơ cấu của điều ước quốc tế được chia thành các chương, điều khoản và được kết nối thành ba phần gồm: phần mở đầu, phần nội dung chính và phần điều khoản cuối cùng. Một số điều ước quốc tế có thêm phần phụ lục.

– Quá trình ký kết và thực hiện điều ước quốc tế được điều chỉnh bằng các nguyên tắc, quy phạm pháp luật quốc tế và tuân thủ các nguyên tắc jus cogens của Luật Quốc tế. Ví dụ như Công ước Viên 1969 về Luật Điều ước quốc tế.[1]

Bài luận Bình luận về mối quan hệ giữa điều ước quốc tế với pháp luật quốc gia và liên hệ với thực tiễn tại Việt Nam.

3. Ý nghĩa, vai trò của điều ước quốc tế

Xuất phát từ bản chất của điều ước là sự thỏa thuận của các chủ thể trong quan hệ pháp lý quốc tế, điều ước quốc tế có ý nghĩa:

– Là hình thức pháp luật cơ bản chứa đựng các quy phạm LQT để xây dựng và ổn định các cơ sở pháp luật cho các quan hệ pháp luật quốc tế hình thành và phát triển.

– Là công cụ, phương tiện quan trọng để duy trì và tăng cường các quan hệ hợp tác quốc tế giữa các chủ thể.

– Là đảm bảo pháp lý quan trọng cho quyền lợi và lợi ích hợp pháp của chủ thể LQT.

– Là công cụ để xây dựng khung pháp luật quốc tế hiện đại, cũng như để tiến hành hiệu quả việc pháp điển hóa LQT.

II. Mối quan hệ giữa điều ước quốc tế và pháp luật quốc gia

1. Các học thuyết về mối quan hệ giữa điều ước quốc tế và pháp luật quốc gia

Nghiên cứu về mối quan hệ giữa pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia nói chung và giữa điều ước quốc tế và pháp luật quốc gia nói riêng, trong khoa học pháp lý quốc tế thường đề cập tới học thuyết, đó là Thuyết nhất nguyên (Moniste) và Thuyết nhị nguyên (Dualiste).

1.1. Thuyết nhất nguyên (Moniste)

Học thuyết nhất nguyên quan niệm pháp luật là một hệ thống thống nhất. Dựa trên cơ sở quan niệm pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia đều có cùng một bản chất là pháp luật tự nhiên và giữa chúng chỉ có sự khác biệt về hình thức thể hiện, thuyết nhất nguyên luận cho rằng pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế không thể tồn tại trong sự mâu thuẫn xung đột với nhau mà chúng tồn tại với tư cách là hai bộ phận của một hệ thống pháp luật thống nhất, trong đó bộ phận này tùy thuộc bộ phận kia[2]. Tuỳ theo vị trí ưu tiên của chúng, học thuyết này đưa ra hai khả năng xác định mối quan hệ giữa pháp luật quốc tế  và pháp luật quốc gia: khả năng coi pháp luật quốc tế có vị trí ưu tiên hơn; và khả năng coi pháp luật của quốc gia có vị trí ưu tiên hơn.

1.2. Thuyết nhị nguyên (Dualiste)

Trái ngược với thuyết nhất nguyên, xuất phát từ chủ quyền quốc gia, thuyết nhị nguyên cho rằng pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia là hai hệ thống pháp luật độc lập song song cùng tồn tại và giữa chúng không có mối quan hệ với nhau. Thuyết nhị nguyên xây dựng lập luận của mình trên cơ sở phân tích sự khác biệt giữa pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia về con đường hình thành, đối tượng điều chỉnh, chủ thể, thể thức áp dụng và thực thi. Học thuyết nhị nguyên lại được phân chia thành hai trường phái: trường phái nhị nguyên cực đoan và trường phái nhị nguyên dung hoà.

2. Cơ sở mối quan hệ điều ước quốc tế và pháp luật quốc gia

Cơ sở mối quan hệ giữa điều ước quốc tế và pháp luật quốc gia dựa trên những cơ sở lý luận và thực tiễn sau:

– Sự gắn bó chặt chẽ giữa chức năng đối nội và chức năng đối ngoại – hai chức năng cơ bản của nhà nước: Mối quan hệ giữa hai chức năng của nhà nước xuất phát chủ yếu từ việc duy trì và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị, lợi ích dân tộc trong sự hài hòa với lợi ích của cộng đồng quốc tế và các quốc gia khác. Để đảm bảo thực hiện cả hai chức năng này, nhà nước sử dụng rất nhiều công cụ, phương tiện trong đó có công cụ truyền thống là pháp luật, bao gồm cả hệ thống pháp luật trong nước và hệ thống pháp luật quốc tế mà chủ yếu là các điều ước quốc tế.

– Sự có mặt của nhà nước trong quá trình ban hành pháp luật quốc gia và xây dựng ĐƯQT. Trong phạm vi lãnh thổ quốc gia, nhà nước là tổ chức duy nhất có quyền ban hành pháp luật và đảm bảo thực thi pháp luật trong cuộc sống. Trong quan hệ quốc tế, nhà nước là thực thể đại diện cho quốc gia tham gia vào quá trình xây dựng pháp luật quốc tế, cũng như các ĐƯQT.

Bài luận Bình luận về mối quan hệ giữa điều ước quốc tế với pháp luật quốc gia và liên hệ với thực tiễn tại Việt Nam.

– Sự thống nhất về chức năng của pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia mà quốc gia là chủ thể.

+ ĐƯQT và pháp luật quốc gia đều là cơ sở để thiết lập, củng cố và tăng cường quyền lực nhà nước. Thông qua việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật trong nước và ký kết các điều ước quốc tế, nhà nước củng cố vai trò của mình trong việc đứng đầu và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước.

+ ĐƯQT và pháp luật quốc gia đều là công cụ cơ bản để nhà nước quản lý tất cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa của đất nước trong nội bộ quốc gia cũng như quốc tế.

+ ĐƯQT và pháp luật quốc gia đều góp phần tạo dựng những quan hệ giữa các quốc gia. Pháp luật quốc gia tạo môi trường ổn định, thuận lợi để thiết lập, duy trì và phát triển các mối quan hệ quốc tế, các ĐƯQT là cơ sở pháp lý cho những quan hệ hợp tác đó, đồng thời bảo vệ quyển lợi và ghi nhận nghĩa vụ giữa các quốc gia.

Tóm lại, các cơ sở lý luận của mối quan hệ giữa điều ước quốc tế và pháp luật quốc gia cho thấy sự tổn tại giữa các điều ước quốc tế và pháp luật quốc gia mang tính khách quan, không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của một quốc gia bất kỳ cũng như một chủ thể nào khác của pháp luật quốc tế[3].

3. Nội dung của mối quan hệ giữa Điều ước quốc tế và pháp luật quốc gia

3.1. Tác động của PLQG đối với ĐƯQT

   – PLQG ảnh hưởng quyết định đến sự hình thành và phát triển của ĐƯQT. Trong quá trình xây dựng ĐƯQT, các quốc gia luôn cố gắng tận dụng mọi cơ hội để gây ảnh hưởng đến ĐƯQT và bảo vệ lợi ích của mình một cách tốt nhất trong mối tương quan với lợi ích của các quốc gia khác và lợi ích chung của cộng đồng quốc tế. Hơn nữa, sự hình thành cũng như nội dung các nguyên tắc và quy phạm pháp luật quốc tế hoàn toàn tùy thuộc vào sự thương lượng giữa các quốc gia. Quan điểm của mỗi quốc gia trong quá trình thỏa thuận thương lượng đó phải dựa trên những nguyên tắc và quy phạm nền tảng của chính pháp luật quốc gia. Với ý nghĩa đó, pháp luật quốc gia thể hiện sự định hướng về nội dung và tính chất của quy phạm pháp luật quốc tế. Mọi sự thay đổi hoặc phát triển tiến bộ của PLQG đều thúc đẩy sự phát triển của ĐƯQT theo hướng tích cực.

Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 thắng lợi đã kéo theo sự ra đời của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa làm thay đổi tương quan lực lượng giữa các quốc gia trên trường quốc tế và đưa nền tảng pháp lí tiến bộ của các nước xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là Liên Xô vào các nguyên tắc, quy phạm pháp luật quốc tế. Ví dụ: Nguyên tắc cấm dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế, nguyên tắc quyền dân tộc tự quyết là những nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế đã bắt nguồn từ nguyên tắc cấm chiến tranh xâm lược, lần đầu tiên được ghi nhận trong Sắc lệnh Hòa bình của Liên Xô năm 1917.

   – PLQG là bảo đảm pháp lí quan trọng để các ĐƯQT được thực hiện trong phạm vi lãnh thổ quốc gia. ĐƯQT chỉ quy định các chủ thể có nghĩa vụ thực hiện một cách tận tâm, thiện chí còn thực hiện theo cách thức nào là do PLQG tự quy định. Việc đảm bảo thực hiện này có thể thông qua nhiều cách thức như: quốc gia xác định rõ vai trò, vị trí, hiệu lực của ĐƯQT trong các văn bản quy phạm pháp luật quốc gia hoặc tiến hành “nội luật hóa” các quy định trong ĐƯQT thông qua đó các quy phạm pháp luật trong ĐƯQT sẽ được chuyển hóa thành quy phạm pháp luật quốc gia…

3.2. Tác động của ĐƯQT đối với PLQG

   – ĐƯQT góp phần thúc đẩy sự phát triển và hoàn thiện PLQG. Trong quá trình tham gia vào các ĐƯQT, các quốc gia có nghĩa vụ tận tâm, thiện chí thực hiện các cam kết quốc tế. Do đó, quốc gia phải sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật quốc gia sao cho các quy định của PLQG vừa mang tính đặc thù của mỗi quốc gia, vừa tương thích với nội dung của ĐƯQT. Chính vì vậy, những nội dung tiến bộ của ĐƯQT thể hiện thành tựu mới của khoa học pháp lí sẽ dần được truyền tải vào trong các văn bản PLQG, thúc đẩy sự phát triển của PLQG. Ví dụ: Nguyên tắc quyền dân tộc tự quyết là một trong những nguyên tắc cơ bản của LQT, được quy định trong các ĐƯQT đã tạo cơ sở pháp lí cho các dân tộc đấu tranh chống chế độ thực dân cũ và mới, tạo điều kiện xóa bỏ các quy định phản động trong PLQG của các nước thực dân về vấn đề thuộc địa.

   – ĐƯQT còn tạo điều kiện đảm bảo cho PLQG được thực hiện. Với xu thế quốc tế hóa mọi mặt đời sống kinh tế – xã hội, giao lưu quốc tế diễn ra mạnh mẽ, nhiều vấn đề đã vượt ra khỏi phạm vi quốc gia và trở thành vấn đề toàn cầu mà bản thân mỗi quốc gia không thể tự giải quyết được như vấn đề bảo vệ môi trường, chống tội phạm quốc tế, giải trừ quân bị, vũ khí hạt nhân… đòi hỏi có sự hợp tác quốc tế để giải quyết hiệu quả. Vì vậy, các quốc gia đã kí kết hàng loạt ĐƯQT để hợp tác giải quyết như Công ước Viên 1985 về bảo vệ tầng ozon; Quy chế Rome năm 1998 về thành lập tòa hình sự quốc tế ICC; Công ước Paris 1993 cấm nghiên cứu, sản xuất, tàng trữ, sử dụng vũ khí hóa học và phá hủy chúng;… những quy phạm pháp luật quốc tế này sẽ là điều kiện đảm bảo cho việc thực hiện các quy phạm tương ứng của PLQG.

   Xét về hiệu lực, ĐƯQT và PLQG có giá trị ngang nhau. Tuy nhiên, khi có mâu thuẫn thì nội dung của ĐƯQT sẽ được ưu tiên áp dụng (trừ các quy định của Hiến pháp sẽ có cách giải quyết tùy theo pháp luật của quốc gia). Bởi lẽ, theo nguyên tắc Pacta sunt servanda, quốc gia phải xử sự phù hợp với các cam kết và nghĩa vụ quốc tế của mình. Mặt khác, các quốc gia đều có lợi ích thì mới tham gia vào các ĐƯQT, do đó khi tham gia rồi thì phải viện dẫn quy định của ĐƯQT để đảm bảo bình đẳng giữa các quốc gia và quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể.

4. Nội dung mối quan hệ giữa điều ước quốc tế và pháp luật quốc gia

3.1. Tác động của PLQG đối với ĐƯQT

– PLQG ảnh hưởng quyết định đến sự hình thành và phát triển của ĐƯQT

Trong quá trình thảo luận, đàm phán để xây dựng một ĐƯQT, các quốc gia đều cố gắng điều chỉnh nội dung các điều ước quốc tế sao cho có lợi và phù hợp nhất với pháp luật nước mình, mang tinh thần pháp luật quốc gia để đảm bảo lợi ích nhiều nhất có thể cho quốc gia, đồng thời không bỏ qua lợi ích của cộng đồng quốc tế. Quan điểm của mỗi quốc gia trong quá trình thỏa thuận thương lượng cũng phải dựa trên những nguyên tắc và quy phạm nền tảng của chính pháp luật quốc gia.

Bài luận Bình luận về mối quan hệ giữa điều ước quốc tế với pháp luật quốc gia và liên hệ với thực tiễn tại Việt Nam.

Mọi sự thay đổi hoặc phát triển tiến bộ của PLQG đều thúc đẩy sự phát triển của ĐƯQT theo hướng tích cực. Thực tế đã chứng minh rất nhiều nguyên tắc và các quy phạm pháp luật quốc tế có nguồn gốc từ pháp luật các quốc gia tiến bộ. Ví dụ: Nguyên tắc cấm dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế, nguyên tắc quyền dân tộc tự quyết là những nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế đã bắt nguồn từ nguyên tắc cấm chiến tranh xâm lược, lần đầu tiên được ghi nhận trong Sắc lệnh Hòa bình của Liên Xô năm 1917.

– PLQG là bảo đảm pháp lí quan trọng để các ĐƯQT được thực hiện trong phạm vi lãnh thổ quốc gia

ĐƯQT chỉ quy định các chủ thể có nghĩa vụ thực hiện một cách tận tâm, thiện chí còn thực hiện theo cách thức nào là do PLQG tự quy định. Việc đảm bảo thực hiện này có thể thông qua nhiều cách thức như: quốc gia xác định rõ vai trò, vị trí, hiệu lực của ĐƯQT trong các văn bản quy phạm pháp luật quốc gia hoặc tiến hành “nội luật hóa” các quy định trong ĐƯQT thông qua đó các quy phạm pháp luật trong ĐƯQT sẽ được chuyển hóa thành quy phạm pháp luật quốc gia…

3.2. Tác động của ĐƯQT đối với PLQG

– ĐƯQT góp phần thúc đẩy sự phát triển và hoàn thiện PLQG

Trong quá trình tham gia vào các ĐƯQT, các quốc gia có nghĩa vụ tận tâm, thiện chí thực hiện các cam kết quốc tế. Do đó, quốc gia phải sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật quốc gia sao cho các quy định của PLQG vừa mang tính đặc thù của mỗi quốc gia, vừa tương thích với nội dung của ĐƯQT. Bên cạnh đó, với tính chất là những văn kiện pháp lý quốc tế, tổng hợp những tinh hoa của kỹ thuật lập pháp cũng như tư tưởng pháp luật tiến bộ, các ĐƯQT thực sự đã góp phần bổ sung đáng kể cho PLQG, đặc biệt là quốc gia đang phát triển, nhằm hoàn thiện hệ thống nội luật với những qui phạm pháp luật tiên tiến, phù hợp với xu hưởng của thời đại hội nhập, đồng thời cũng là loại trừ những qui phạm, chế định thiếu tiến bộ, không còn phù hợp với tình hình pháp triển của thế giới hiện nay. Ví dụ: Nguyên tắc quyền dân tộc tự quyết là một trong những nguyên tắc cơ bản của LQT, được quy định trong các ĐƯQT đã tạo cơ sở pháp lí cho các dân tộc đấu tranh chống chế độ thực dân cũ và mới, tạo điều kiện xóa bỏ các quy định phản động trong PLQG của các nước thực dân về vấn đề thuộc địa.

– ĐƯQT tạo điều kiện đảm bảo cho PLQG được thực hiện

Với xu thế quốc tế hóa mọi mặt đời sống kinh tế – xã hội, giao lưu quốc tế diễn ra mạnh mẽ, nhiều vấn đề đã vượt ra khỏi phạm vi quốc gia và trở thành vấn đề toàn cầu mà bản thân mỗi quốc gia không thể tự giải quyết được như vấn đề bảo vệ môi trường, chống tội phạm quốc tế, giải trừ quân bị, vũ khí hạt nhân… đòi hỏi có sự hợp tác quốc tế để giải quyết hiệu quả. Vì vậy, các quốc gia đã kí kết hàng loạt ĐƯQT để hợp tác giải quyết như Công ước Viên 1985 về bảo vệ tầng ozon; Quy chế Rome năm 1998 về thành lập tòa hình sự quốc tế ICC; Công ước Paris 1993 cấm nghiên cứu, sản xuất, tàng trữ, sử dụng vũ khí hóa học và phá hủy chúng;… những quy phạm pháp luật quốc tế này sẽ là điều kiện đảm bảo cho việc thực hiện các quy phạm tương ứng của PLQG.

Trong trường hợp không có sự hài hòa, hoặc xảy ra những xung đột giữa PLQG với ĐƯQT mà quốc gia là thành viên thì giải pháp chiếm ưu thế thường là việc các quốc gia thành viên ưu tiên áp dụng các ĐƯQT. Cơ sở thực tiễn này là khi các quốc gia tham gia vào ký kết các ĐƯQT thì đồng thời đảm bảo tuân thủ nguyên tắc chung của pháp luật quốc tế trong lĩnh vực này. Cụ thể là nguyên tắc tận tâm, thiện chí thực hiện các cam kết quốc tế của mình. Sự “tận tâm”, “thiện chí” thực hiện ở việc sửa đổi, bổ sung PLQG hoặc ban hành những qui phạm pháp luật mới để phù hợp với các ĐƯQT đã ký kết. Đây chính là cơ hội để PLQG tiếp thu những thành tựu khoa học pháp lý quốc tế, thúc đẩy sự phát triển và tiến bộ của PLQG.

III. Thực tiễn mối quan hệ giữa điều ước quốc tế và pháp luật quốc gia Việt Nam.

Kể từ khi ra đời, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và nay là cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam luôn quan tâm tới việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về điều ước quốc tế. Kể từ hiệp định sơ bộ mà Chính phủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh ký kết với Pháp (Hiệp định sơ bộ ngày 6/03/1946), cho đến nay Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập hàng nghìn điều ước quốc tế. Có những điều ước gắn liền với sự kiện trọng đại trong lịch sử của đất nước đó là Hiệp định Giơ ne vơ năm 1945 về đình chiến và lập lại hòa bình ở Đông Dương, Hiệp định Paris năm 1973… Thực tế 60 năm qua đã chứng minh công tác ký kết và thực hiện điều ước quốc tế của Nhà nước ta đã đạt được những thành tựu hết sức quan trọng về mặt nhận thức, lý luận và thực tiễn…

1. Qui định của Hiến pháp về quan hệ giữa điều ước quốc tế và pháp luật Việt Nam

Hiến pháp là đạo luật cơ bản, có giá trị pháp lý cao nhất và là đạo luật quan trọng nhất của một quốc gia. Với mục tiêu xây dựng một bản Hiến pháp của thời kỳ hội nhập và phát triển đất nước nên các nội dung quan trọng liên quan đến chính sách đối ngoại của Nhà nước ta về quyền con người, bảo vệ hoà bình an ninh khu vực và thế giới, tuân thủ Hiến chương Liên hợp quốc và điều ước quốc tế (ĐƯQT) mà Việt Nam là thành viên, lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến Việt Nam, đã được Hiến pháp năm 2013 quy định tại Điều 12, 70, 88, 96, 98. Hiến pháp 2013 đã có nhiều quy định tiến bộ, chú trọng hơn mối quan hệ giữa điều ước quốc tế và hệ thống pháp luật quốc gia:

– Hiến pháp đã hiến địnhviệc tuân thủ Hiến chương Liên Hợp quốc và các ĐƯQT mà Cộng hòa XHCN Việt Nam là thành viên (quy định cụ thể tại Điều 12).

– Hiến pháp đã quy định rõ hơn nhiệm vụ và quyền hạn phê chuẩn, gia nhập và chấm dứt hiệu lực ĐƯQT của Quốc hội. Đồng thời, xác định rõ các loại ĐƯQT mà Quốc hội có thẩm quyền phê chuẩn; quyết định gia nhập hoặc chấm dứt hiệu lực là các điều ước có tầm quan trọng đặc biệt đối với quốc gia liên quan đến chiến tranh, hòa bình, chủ quyền quốc gia, tư cách thành viên của Cộng hòa XHCN Việt Nam tại các tổ chức quốc tế và khu vực quan trọng, các ĐƯQT về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân và các ĐƯQT trái với luật, nghị quyết của Quốc hội (quy định tại khoản 14 Điều 70).

– Hiến pháp đã quy định rõ hơn nhiệm vụ và quyền hạn đàm phán, ký, gia nhập và chấm dứt hiệu lực ĐƯQT của Chủ tịch nước, nhiệm vụ và quyền hạn của Chủ tịch nước liên quan đến ĐƯQT được quy định tại khoản 6 Điều 88 Hiến pháp năm 2013 hợp lý, khoa học, phù hợp với thực tiễn, luật pháp và thông lệ quốc tế hơn Hiến pháp năm 1992.

– Hiến pháp năm đã bổ sung nhiệm vụ và quyền hạn của Thủ tướng Chính phủ đối với các hoạt động đàm phán, ký, gia nhập và thực hiện ĐƯQT,các quy định về nhiệm vụ và quyền hạn của Chính phủ trong lĩnh vực đàm phán, ký kết và thực hiện ĐƯQT tại khoản 7 Điều 96 Hiến pháp năm 2013 là khoa học và hợp lý hơn so với các quy định tại Điều 112 khoản 8 Hiến pháp năm 1992

2. Quy định của các văn bản pháp luật về mối quan hệ giữa điều ước quốc tế và pháp luật Việt Nam.

Cùng với Hiến pháp, trong vòng gần 3 thập kỷ trở lại đây Việt Nam đã thông qua hai pháp lệnh quan trọng trong lĩnh vực điều ước quốc tế là Pháp lệnh 1988 và pháp lệnh 1998 về ký kết và thực hiện điều ước quốc tế. Ngoài ra việc ký kết và thực hiện điều ươc quốc tế. Ngoài ra việc ký kết điều ươc quốc tế còn được viện dẫn đến Nghị định 161 ngày 18/10/1999 và qui định tại các văn bản luật liên quan như Bộ luật hình sự 1999, Bộ luật dân sự 1995 ….Tất cả các qui định trên đã tạo thành khung pháp luật quốc gia về ký kết và thực hiện điều ước quốc tế của Việt Nam.

Kể từ khi Pháp lệnh năm 1998 được ban hành, Việt Nam đã ký kết và gia nhập nhiều điều ước quốc tế. Tuy vậy sau hơn 5 năm thực hiện pháp lệnh năm 1998 và Nghị định 161, thực tế đã phát sinh nhiều yếu tố chủ quan và khách quan đòi hỏi cần phải tiến hành sửa đổi, bổ sung hoặc pháp điển hóa các qui định hiện hành và nâng hình thức văn bản điều chỉnh công tác ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế. Chính vì vậy ngày 14,6.2005, Quốc hội đã thông qua Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ươc quốc tế (sau đây gọi là Luật điêu ước quốc tế năm 2005). Theo đó Luật điều ước quốc tế năm 2005 cũng qui định về việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật phải đảm bảo không làm cản trở việc thực hiện điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có qui định về cùng một vấn đề.

Bài luận Bình luận về mối quan hệ giữa điều ước quốc tế với pháp luật quốc gia và liên hệ với thực tiễn tại Việt Nam.

Theo Điều 6 khoản 3 Luật điều ước quốc tế 2005, để điều ước quốc tế có hiệu lực đối với Việt Nam có thể phải nội luật hóa để thi hành hoặc có thể được áp dụng trực tiếp nếu qui định của nó cụ thể, rõ ràng. Trong trường hợp không thể áp dụng trực tiếp toàn bộ hoặc một phần của điều ước quốc tế có hiệu lực đối với Việt Nam, cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản qui phạm pháp luật để thực hiện điều ước quốc tế tức là phải nội luật hóa để thực hiện.

Qua quá trình nghiên cứu và tìm hiểu cũng như tham khảo nhiều nguồn tài liệu khác nhau có thể nhận thấy rằng ở cả góc độ lý luận và thực tiễn Việt Nam về vấn đề điều ước quốc tế và chuyển hóa điều ước quốc tế trong thời gian hiện nay cho thấy Việt Nam về cơ bản vẫn giữ quan điểm điều ước quốc và chuyển hóa theo học thuyết luậ quốc tế truyền thống của các nước xã hội chủ nghĩa tuy đã có những điểm mới nhất định về mặt lý luận. Điểm mới đó trươc tiên là Luật điều ước quốc tế cho phép áp dụng trực tiếp điều ước quốc tế trong một số trường hợp cụ thể. Vấn đề áp dụng trực tiếp này đã gây tranh luận về quan điểm trong xử lý vấn đề quan hệ giữa pháp luật quốc gia và điều ước quốc tế. Quan điểm áp dụng trực tiếp điều ước quốc tế kết hợp với nguyên tắc ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế có thể thấy Việt Nam đang nghiêng về thuyết nhất nguyên. Tuy nhiên, ý kiến đó cần tiếp tục được xem xét qua thực tiễn thi hành luật điều ước quốc tế năm 2005 và việc xem xét các qui định trong Luật điều ước quốc tế được thông qua tại kỳ họp thứ 11 – Khóa XIII của Quốc hội với 92,14% đại biểu tán thành.[4]

3. Một số kết quả Việt Nam đạt được trong việc giải quyết mối quan hệ giữa điều ước quốc tế và pháp luật quốc gia Việt Nam

Sau sự kiện Việt Nam gia nhập Công ước Viên năm 1969 về Luật điều ước quốc tế và sự ra đời của Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005, hoạt động ký kết và gia nhập các điều ước quốc tế của nước ta trở nên sôi động hơn bao giờ hết. Có thể thấy Việt Nam ban hành một đạo luật riêng trong hệ thông pháp luật nước minh về vấn đề ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế đã tạo tiền đề cơ sở pháp lý vững chắc cho hoạt động này được thực hiện một cách thống nhất, thuận lợi và có giá trị pháp lý cao, tiêu biểu nhất là việc ký kết văn kiện gia nhập WTO và việc ký kết, phê chuẩn Hiến chương ASEAN của Việt Nam, đàm phán ký kết Hiệp định TPP,…. Điều đó phản ánh dấu hiệu tích cực trong nỗ lực hợp tác quốc tế đa phương của nước ta trong những năm gần đây, tạo đà cần thiết cho việc đẩy nhanh tiến trình hôi nhập. Đồng thời cũng thể hiện pháp điển cao của pháp luật Việt Nam về điều ước quốc tế so với một số nước tuy đã tham gia sâu rộng vào hợp tác quốc tế…đặc biệt là việc thông qua Luật điều ước quốc tế tại kỳ họp quốc hội thứ 11 – khóa XIII gần đây là một minh chứng điển hình…[5]


[1]TS. Nguyễn Thị Kim Ngân, TS. Chu Mạnh Hùng (đồng chủ biên), Giáo trình luật quốc tế (dùng trong các trường đại học chuyên ngành luật và ngoại giao), Nxb. Giáo dục Việt Nam, Hà Nội – 2012

[2]Lê Thị Mai Anh, Mối quan hệ giữa điều ước quốc tế và pháp luật quốc gia, Luận văn thạc sĩ luật học, Hà Nội – 2011, trang 15,16

[3]Lê Thị Mai Anh, Mối quan hệ giữa điều ước quốc tế và pháp luật quốc gia, Luận văn thạc sĩ luật học, Hà Nội – 2011, trang 22,23

[4]http://duthaoonline.quochoi.vn/DuThao/Lists/DT_DUTHAO_LUAT/View_Detail.aspx?ItemID=1142

[5]http://duthaoonline.quochoi.vn/DuThao/Lists/DT_DUTHAO_LUAT/View_Detail.aspx?ItemID=1142

Bài luận Bình luận về mối quan hệ giữa điều ước quốc tế với pháp luật quốc gia và liên hệ với thực tiễn tại Việt Nam.

1900.0191